Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn tỉnh quảng bình - Pdf 65

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN THANH TR

THựC HIệN PHáP LUậT Về TUYểN DụNG VIÊN CHứC
ở CáC ĐƠN Vị Sự NGHIệP CÔNG LậP - Từ THựC TIễN
TỉNH QUảNG BìNH

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2019


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN THANH TR

THựC HIệN PHáP LUậT Về TUYểN DụNG VIÊN CHứC
ở CáC ĐƠN Vị Sự NGHIệP CÔNG LậP - Từ THựC TIễN
TỉNH QUảNG BìNH
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp v Lut hnh chớnh
Mó s: 8380101.02

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS V TRNG HCH

H NI - 2019


Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ,
động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10/2019
Tác giả

Nguyễn Thanh Trà


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, hình
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP .................................................................................................... 7
1.1.

Những khái niệm cơ bản.................................................................... 7

1.1.1. Khái niệm viên chức ............................................................................. 7
1.1.2. Khái niệm tuyển dụng viên chức ........................................................ 10
1.1.3. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập ................................................. 12
1.1.4. Khái niệm thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ................... 13
1.2.


nước ta ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về tuyển dụng
viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập ........................................ 32
1.4.2. Mức độ hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các đơn
vị sự nghiệp công lập ......................................................................... 34
1.4.3. Năng lực tổ chức và nguồn nhân lực về tuyển dụng viên chức ở
các đơn vị sự nghiệp công lập ............................................................ 35
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 38
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN
DỤNG VIÊN CHỨC Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH .................................................39
2.1.

Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế- xã hội
ảnh hƣởng đến tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp
công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình .......................................... 39

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên............................................................................... 39
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ................................................................... 41
2.2.

Thực tiễn thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các
ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình........................................ 42

2.2.1. Cơ sở pháp lý thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức tại
tỉnh Quảng Bình ................................................................................. 42
2.2.2. Thực trạng các đơn vị sự nghiệp công lập tại tỉnh Quảng Bình ......... 43
2.2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức tại tỉnh
Quảng Bình......................................................................................... 48



3.2.3. Thay đổi nhận thức của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình .......................................................................... 88
3.2.4. Đổi mới hình thức tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp
công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình .............................................. 92
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 95
3.2.

KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 97


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt/ kí hiệu

Cụm từ viết tắt

ĐVSNCL

Đơn vị sự nghiệp công lập

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật


DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Số hiệu

Tên bảng, hình

tiến bộ của loài người. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang
gia nhập WTO và hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thì việc phát triển nguồn
nhân lực và thu hút nguồn nhân tài phục vụ cho sự phát triển là rất cần thiết.
Trong hoạt động của nền hành chính, vấn đề xây dựng đội ngũ viên
chức luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nước nói chung cũng như trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng. Để có nguồn nhân lực đáp ứng trình độ
chuyên môn hóa ngày càng cao và đạt hiệu quả tốt nhất, cần thực hiện đồng
bộ nhiều biện pháp quản lí nhân sự khác nhau. Trong đó, tuyển dụng con
người nói chung và tuyển dụng viên chức nói riêng đóng vai trò hết sức quan
trọng. Từ phạm vi quốc gia đến từng cơ quan, đơn vị của nhà nước hoặc các
tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải xây dựng kế hoạch, chiến lược thu hút
nhân tài về làm việc. Các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cũng không
đứng ngoài hoạt động này.
Để điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, các cơ quan nhà nước đã ban

1


hành nhiều VBQPPL. Tuy nhiên, nhiều quy phạm tỏ ra không phù hợp với
thực tế, hệ thống văn bản vẫn còn chắp vá, thiếu sự thống nhất. Mặt khác,
quan điểm, cơ chế quản lý các ĐVSNCL và đội ngũ nhân lực làm việc tại đây
cũng có nhiều sự thay đổi đã tạo ra một sự bị động từ phía các đơn vị này.
Luật Viên chức đã được quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 15/11/2010, là luật đầu tiên điều chỉnh riêng về nhóm đối tượng viên
chức, đã có không ít tác động đến bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa
phương bởi những quy định mới liên quan đến nguồn nhân lực sẽ vô hình
dung tác động đến cơ cấu của tổ chức bộ máy. Việc ban hành luật viên chức
chứa đựng hy vọng sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực trong pháp luật về viên chức
và các ĐVSNCL. Với vấn đề tuyển dụng viên chức, luật mới chỉ dừng lại ở
những quy định cơ bản, nội dung cụ thể còn đang chờ đợi ở những văn bản

- “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức” của
TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên);
- “Kinh nghiệm thi tuyển công chức của một số nước trên thế giới”, tác
giả Trần Thị Minh Châu;
- “Viên chức và những vấn đề cần chú ý khi xây dựng Luật Viên chức”,
tác giả Văn Tất Thu;
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trên đều tập trung phân tích,
nghiên cứu về cán bộ công chức, viên chức ở nhiều khía cạnh khác nhau. Do
mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình là khác nhau
nên chưa đi sâu nghiên cứu về vấn đề tuyển dụng viên chức và đặc biệt là
nghiên cứu về hoạt động tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu, luận văn này hy
vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu về tuyển dụng
viên chức nói chung và việc thực hiện về pháp luật tuyển dụng viên chức ở
các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu về quy định của pháp luật hiện
hành tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL, tìm hiểu thực trạng tuyển dụng
viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đưa ra một số kiến
nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt
động tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật viên chức trong
các ĐVSNCL, cụ thể như: Khái niệm, nội dung, đặc điểm và vai trò của pháp

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đề tài kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp nghiên
cứu khác nhau để làm rõ nội dung vấn đề.
Khoá luận cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để làm sáng
tỏ các vấn đề liên quan đến tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình.
Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu sự khác biệt giữa tuyển
dụng viên chức với các đối tượng khác, khác biệt giữa tuyển dụng viên chức ở
nước ta với một số nước trên thế giới nhằm đối chiếu và hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về tuyển dụng viên chức. Phương pháp thống kê cũng được sử dụng
để tìm hiểu số lượng viên chức được tuyển dụng tại một số ĐVSNCL.
Phương pháp phân tích tổng hợp vừa đảm bảo tính khái quát của vấn đề
được nghiên cứu vừa đảm bảo tính chuyên sâu ở mỗi nội dung liên quan đến
tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
6. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL, Luận văn khẳng định

5


sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL. Hoàn
thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam dưới góc độ bảo đảm tính toàn diện, bảo đảm mọi lĩnh vực
xã hội, mọi quan hệ xã hội quan trọng đều được điều chỉnh bằng pháp luật.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đóng góp ý kiến, đánh giá của cá
nhân về những thành tựu, những hạn chế, khuyết thiếu của pháp luật về viên
chức ở các ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình. Từ đó đóng góp những
đề xuất, kiến nghị của cá nhân nhằm hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các
ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình. Đây cũng là nguồn tài liệu tham

Khái niệm viên chức được sử dụng trong các VBQPPL thay đổi theo
từng thời kỳ tuỳ thuộc vào quan điểm của nhà nước về đội ngũ này. Hiến
pháp 1992 sử dụng cụm từ “cán bộ, viên chức” để chỉ chung những người làm
việc tại các cơ quan nhà nước, ĐVSNCL (Điều 8). Theo đó, viên chức là một
khái niệm rất rộng, “có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người
làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước” [5, tr.27].
Viên chức theo cách hiểu ở trên không được sử dụng nguyên nghĩa
trong các VBQPPL có hiệu lực thấp hơn. Tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức
ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng là “cán bộ, công chức”. Khi Pháp
lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng
thành một nhóm, phân biệt với công chức. Điểm d, điều 1 Pháp lệnh quy định

7


viên chức là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên
chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp
của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”. Theo quy định
này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công
chức. Hai đối tượng công chức và viên chức tiếp tục có sự thay đổi tại hai đạo
luật mới ban hành là Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010.
Luật Viên chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010. Luật này có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. Điều 2 quy định: “Viên chức
là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn
vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ
lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu
về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công
lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa,

định của pháp luật.
Mặc dù đã xây dựng được hai đạo luật quan trọng điều chỉnh về hai
nhóm đối tượng nhưng khái niệm viên chức và đối tượng được coi là viên
chức vẫn chưa đạt được sự nhất trí cao của những nhà quản lý và các nhà
nghiên cứu. Việc đưa người đứng đầu ĐVSNCL từ đối tượng viên chức sang
công chức là điều gây băn khoăn nhất. Đáng tiếc là điều này xảy ra khi Luật
Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã được nghiên cứu, soạn thảo khá kỹ
lưỡng sau khi rút ra nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý công chức và viên
chức hàng chục năm qua. Điều này khiến cho việc ban hành các quy định về
tuyển dụng cũng như quản lý, sử dụng viên chức gặp phải một số điểm phức
tạp không đáng có.
Qua các định nghĩa trên, có thể nhận thấy được những đặc điểm cơ bản
của viên chức như sau:

9


- Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam;
- Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển
dụng trước hết theo vị trí việc làm;
- Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại ĐVSNCL theo khoản
1 điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành
lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công,
phục vụ quản lý nhà nước” [21].
- Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được
tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc được ký kết giữa viên
chức và ĐVSNCL có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc
đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động;
- Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp

dụng, hợp đồng làm việc cũng phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc của pháp
luật lao động.
Tuyển dụng được viên chức xứng đáng, có năng lực cũng chính là việc
sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước đầu tư cho các đơn vị
sự nghiệp. Hiện nhà nước vẫn đang cấp một lượng ngân sách khá lớn cho việc
trả lương và thanh toán các hoạt động liên quan tới đội ngũ viên chức. Một
viên chức có năng lực, đảm nhiệm tốt công việc chuyên môn sẽ làm giảm bớt
biên chế tại các vị trí việc làm, tạo điều kiện tiết kiệm nguồn lực để đầu tư vào
các hoạt động khác.
Xây dựng nguồn nhân lực luôn là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một
cơ quan, đơn vị nào. Ngoài việc nâng cao chất lượng đội ngũ hiện có, bổ sung
những viên chức mới có chất lượng là điều cần thiết. Do đó, tuyển dụng viên
chức phải được xây dựng như một hoạt động mang tính chiến lược dài hạn.
Tóm lại, tuyển dụng viên chức là việc lựa chọn những công dân Việt Nam
có năng lực, phẩm chất, trình độ làm công tác chuyên môn tại các ĐVSNCL,

11


việc tuyển dụng được thực hiện qua ký kết hợp đồng làm việc theo vị trí việc
làm mà đơn vị yêu cầu. Đây là công việc có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh
hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một đơn vị, bên cạnh đó còn tác động
tới công tác quản lý của nhà nước đối với các ĐVSNCL và đội ngũ viên chức.
1.1.3. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Để xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả đối với các ĐVSNCL, trước
tiên phải xây dựng khái niệm đúng đắn, hoàn chỉnh về ĐVSNCL, mang đầy
đủ những đặc điểm về tính chất hoạt động, phương thức quản lý. Trong những
năm qua, các cơ quan nhà nước đã ban hành nhiều VBQPPL có liên quan đến
ĐVSNCL nhưng lại không đưa ra khái niệm về các đơn vị này, cho tới khi
Luật Viên chức ra đời. Điều 9, khoản 1 Luật Viên chức quy định: “Đơn vị sự

thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội. Nhà nước cộng hoà xã hội Việt Nam là nhà nước pháp quyền
XHCN là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó pháp luật thể hiện ý chí
của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động.
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hay không hành động) có mục
đích của cá nhân, tổ chức nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật làm
cho chúng đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể
pháp luật.
Pháp luật về tuyển dụng viên chức là tổng thể các quy phạm pháp luật do
chủ thể có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các
quan hệ xã hội trong quá trình lựa chọn người có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn
vào làm viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tuyển dụng viên
chức [12].
Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi
tham gia vào quy trình tuyển dụng; quy định các chế tài để buộc các cá nhân,
tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc tổ chức
tuyển dụng và tham gia dự tuyển; quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn

13


của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng. Pháp luật về tuyển dụng
viên chức tại nước ta dần được xây dựng, hoàn thiện qua từng thời kỳ. Hiến
pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cho việc ban hành các VBQPPL liên quan
đến viên chức. Hiến pháp không quy định việc tuyển dụng nhưng Điều 8 đã
quy định trách nhiệm của viên chức trong thực hiện nhiệm vụ [3]. Đây là cơ
sở cho việc xây dựng điều kiện, tiêu chuẩn đối với người được tuyển dụng
làm viên chức.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp

viên chức là việc chấp hành nghiêm chỉnh các VBQPPL về tuyển dụng viên
chức. Vì vậy, chất lượng của hệ thống thể chế về tuyển dụng viên chức phải
được đảm bảo hoàn thiện, thống nhất, khả thi đáp ứng yêu cầu giải quyết các
vấn đề thực tiễn trong tuyển dụng viên chức. Việc quy định các nội dung
tuyển dụng viên chức và tổ chức thực hiện tuyển dụng viên chức phải đảm
bảo phù hợp với hệ thống chính trị ở nước ta, mặt khác phải đảm bảo được
yếu tố chuyên nghiệp của đội ngũ viên chức, đạt mục tiêu xây dựng đội ngũ
viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước và hội nhập quốc tế.
Pháp luật về tuyển dụng viên chức bao gồm những nội dung chính sau đây:
1.2.1. Căn cứ tuyển dụng viên chức
Điều 20 Luật Viên chức quy định việc tuyển dụng viên chức phải căn
cứ vào 04 yếu tố, gồm: nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức
danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của ĐVSNCL.
Thứ nhất, nhu cầu công việc:
Nhu cầu công việc là những đòi hỏi, yêu cầu của các công việc cụ thể
mà ĐVSNCL thực hiện. Công việc cụ thể ở đây có thể là những công việc có
tính chất thường xuyên, liên tục, ổn định, lâu dài, lặp đi lặp lại có tính chu kỳ
như công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; công việc thực thi, thừa hành
mang tính chuyên môn, nghiệp vụ hoặc những công việc có tính thời vụ, đột

15


xuất [13]. Muốn xác định được nhu cầu công việc thì cần phải tiến hành phân
tích công việc nhằm nắm được bản chất của công việc, từ đó có thể biết được
vị trí nào còn thiếu, khối lượng công việc, điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ,
trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng
người viên chức cần thiết phải có để thực hiện công việc đó. Trên cơ sở
những nội dung này, các ĐVSNCL xác định số lượng viên chức cần tuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status