BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VŨ TRƯỜNG TỚI
HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VŨ TRƯỜNG TỚI
HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Quốc Thành
HÀ NỘI - 2019
:
:
:
:
:
:
:
Cán bộ
Cán bộ quản lí
Cha mẹ học sinh
Dân tộc thiểu số
Điểm trung bình
Giáo viên
Nhà xuất bản
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu............................................................2
4. Giả thuyết khoa học......................................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu......................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................4
8. Cấu trúc của luận văn..................................................................................4
Chương 1: LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY
HỌC TIẾNG VIỆT CHO HOC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC......................................................................................5
2.3.1. Nhận thức về vai trò của tiếng Việt và tầm quan trọng của dạy học
tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.........................................................43
2.3.2. Thực trạng năng lực tiếng Việt của học sinh tiểu học người dân tộc
thiểu số huyện Tân Uyên.................................................................................48
2.3.3. Thực trạng nội dung, chương trình dạy học tiếng Việt cho học sinh
dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học huyện Tân Uyên hiện nay...............49
2.3.4. Thực trạng giáo viên dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học người
dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên....................................................................51
2.3.5. Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tiếng Việt
cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên....................54
2.3.6. Thực trạng môi trường dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học
người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên.........................................................56
2.3.7. Thực trạng kết quả dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học người
dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên....................................................................57
2.3.8. Khó khăn đối với hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học
người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên.........................................................58
2.4. Thực trạng huy động cộng đồng trong dạy học tiếng Việt cho học sinh
dân tộc thiểu số ở các trường tiểu học huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.........59
2.4.1. Nhận thức về huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt cho học
sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học................................................59
2.4.2. Thực trạng nội dung huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học..................................62
2.5. Đánh giá chung về thực trạng..................................................................74
2.5.1. Những kết quả đạt được........................................................................74
2.5.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của nó.................................74
Kết luận chương 2...........................................................................................76
Chương 3: BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY HỌC
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................113
PHỤ LỤC.......................................................................................................116
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Thống kê cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh các
trường Tiểu học huyện Tân Uyên năm học 2018 – 2019................37
Bảng 2.2. Thống kê cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh các
trường Tiểu học huyện Tân Uyên năm học 2018 – 2019................38
Bảng 2.3. Quy định điểm số và mức độ tương ứng.........................................42
Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL,GV trường Tiểu học và CB các cơ quan, ban,
ngành, đoàn thể về ý nghĩa của tiếng Việt đối với học sinh DTTS..43
Bảng 2.5. Nhận thức của CBQL,GV và CB các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể
về tầm quan trọng của dạy học tiếng Việt cho học sinh DTTS.......46
Bảng 2.6. Thực trạng năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh tiểu học
người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên..........................................48
Bảng 2.7. Đánh giá hiệu quả nội dung, chương trình dạy học tiếng Việt cho
học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học huyện Tân Uyên
hiện nay...........................................................................................50
Bảng 2.8. Đánh giá của CBQL, GV trường Tiểu học về đội ngũ giáo viên dạy
học tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số...........52
Bảng 2.9. Đánh giá của CBQL,GV và CB các cơ quan, ban, ngành về thực
trạng cơ sở vật chất phục vụ dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu
học người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên...................................54
Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL,GV và CB các cơ quan, ban, ngành về thực
trạng hệ thống thiết bị phục vụ dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu
học người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên...................................55
Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL,GV và CB các cơ quan, ban, ngành về thực
trạng kết quả dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân
tộc thiểu số......................................................................................58
Bảng 2.21. Đánh giá của CBQL,GV và CB cơ quan, ban, ngành về thực trạng
hiệu quả huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt cho học
sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học.................................71
Bảng 2.22. Đánh giá của CBQL, GV và CB cơ quan, ban, ngành về các yếu tố...72
Bảng 3.1. Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp huy động cộng
đồng trong dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các
trường Tiểu học huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu..........................103
Bảng 3.2. Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp huy động cộng đồng
trong dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường
Tiểu học huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu......................................104
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Nam và được giảng dạy
trong các nhà trường. Tiếng Việt có thể coi là chìa khóa để học sinh dân tộc
thiểu số học tập tốt tất cả các môn học trong nhà trường và hòa nhập với các
dân tộc khác. Nâng cao khả năng học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần quyết định chất lượng giáo
dục cấp tiểu học. Chỉ khi học sinh nắm vững tiếng Việt thì các em mới có thể
lĩnh hội được các bài giảng của thầy cô giáo. Tập trung dạy học tăng cường
tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số, bảo đảm các em có kỹ
năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục
tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu
số, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc
thiểu số nên việc học tiếng Việt của các em có những khó khăn nhất định.
học huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu” là cần thiết và có ý nghĩa.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng huy động cộng đồng
trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học
huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, đề xuất các biện pháp mang tính khoa học,
phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học
sinh dân tộc thiểu số của các trường tiểu học trên địa bàn huyện.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường
tiểu học
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân
tộc thiểu số ở các trường Tiểu học huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
4. Giả thuyết khoa học
Việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở các trường tiểu học
huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã được quan tâm. Song do chưa xác định rõ
các biện pháp tổ chức dạy học phù hợp nên kết quả dạy học còn hạn chế.
Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận về giáo dục dựa vào cộng đồng, xác định
được thực trạng hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở
các trường tiểu học huyện Tân Uyên và các nguyên nhân của thực trạng đó
thì sẽ đề xuất được các biện pháp huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng
Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học, chất lượng dạy học
tiếng Việt nhất định sẽ được cải thiện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về huy động cộng đồng trong dạy học
7.2.2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phân tích các kinh nghiệm dựa vào cộng đồng trong tổ chức dạy học tiếng
Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học
7.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học.
Chương 2: Thực trạng huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt cho
học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Chương 3 : Biện pháp huy động cộng đồng trong dạy học Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học huyện Tân Uyên, tỉnh
Lai Châu.
4
Chương 1
LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
CHO HOC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Trong công trình “Bàn về phương pháp”, tác giả Descartes đã chỉ ra
những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con
người, khác với động vật. Ông nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu
duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận
rằng: “Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con
vật” [dẫn theo 24].
đến năm 1980, khi phân môn Từ ngữ trong các nhà trường được tách ra độc
lập thì vấn đề dạy học từ ngữ mới thực sự được quan tâm. … Nội dung nghiên
cứu của các tác giả đều xoay quanh ba vấn đề cơ bản trong dạy học từ ngữ là
phát triển, mở rộng vốn từ; nắm nghĩa của từ và rèn luyện kỹ năng sử dụng từ.
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu đó chỉ tập trung vào việc dạy từ ngữ với
tư cách là ngôn ngữ mẹ đẻ chứ không phải là những vấn đề liên quan đến việc
dạy tiếng Việt dành cho trẻ em dân tộc thiểu số. [14, tr.56]
Đối với nghiên cứu về dạy từ ngữ cho trẻ em có thể nhắc đến nghiên cứu
trường Đại học quốc gia Hà Nội. Năm 1972, trường đại học Tổng hợp Hà Nội
(nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) đã phối hợp với Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ
em Trung ương, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Đoàn Thiện Thuật, đã có
cuộc điều tra và nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em ở một số trường mẫu giáo từ
năm 1972 đến đầu những năm 80. Điều đó cho thấy, ở Việt Nam, tâm lý ngôn
ngữ học vẫn còn là một ngành khoa học non trẻ. Hiện nay, xung quanh việc
nghiên cứu vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau.
Tác giả Nguyễn Huy Cẩn (2001) với công trình “Từ hoạt động đến ngôn
ngữ trẻ em vùng dân tộc thiểu số”[ 10], trên cơ sở quan sát hành vi lời nói của
100 trẻ theo chiều ngang và 2 trẻ theo chiều dọc (cũng là hai người con của
6
tác giả, từ lúc mới sinh đến 3 tuổi) đã mô tả chi tiết, sinh động toàn bộ quá
trình phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 - 3 tuổi, với một số kết luận quan trọng:
(1) Về việc phát âm, mức độ tiếp nhận âm tố phụ thuộc vào mức độ tiếp
nhận đối tượng; ban đầu, trẻ phát âm không đúng, sau đó, nó bắt chước cách
phát âm của những người xung quanh để điều chỉnh lỗi phát âm mình cho phù
hợp với các mẫu - hình ảnh âm tố đã được khái quát qua nhiều cảnh tình
huống [10; tr.67];
(2) Về sự phát triển nghĩa của từ, trẻ tiếp thu ý nghĩa của từ mới trên cơ
dưới đây:
- Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong công trình nghiên cứu của mình
“Phát huy vai trò của gia đình trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” đã
đưa ra một số biện pháp hướng dẫn trẻ kể chuyện nhằm phát triển lời nói độc
thoại cho trẻ gồm: kể lại chuyện, kể chuyện theo tri giác, kể chuyện theo trí
nhớ và kể chuyện theo tưởng tượng [19].
- Tác giả Lưu Thị Lan đề cập đến biện pháp phát triển tiếng Việt đối với
trẻ dân tộc thiểu số thông qua kể chuyện dân gian. Theo tác giả để phát triển
tiếng Việt từ cần tổ chức cho trẻ quan sát sự vật hiện tượng và đàm thoại,
cùng với trẻ phân tích sự vật hiện tượng để giúp trẻ nhận thức mối quan hệ
giữa các sự vật hiện tượng. Cho trẻ nghe thơ, truyện, chơi một số trò chơi như
đoán vật qua tiếng kêu, kể tên các con vật em biết, trò chơi nối từ, nói từ tiếp
theo, chơi đóng vai theo chủ đề, kể chuyện theo tranh… [21]. Tác giả cũng đã
nêu các biện pháp sửa ngọng cho trẻ dân tộc thiểu số rất đơn giản chỉ cần
luyện tập một số buổi là trẻ có thể nhận thức được cách phát âm đúng, cần căn
cứ vào thời gian ngọng để định hình lại cách phát âm chuẩn đòi hỏi ngắn hay
dài và sự có mặt của cha mẹ trẻ trong các buổi tập là cần thiết để từ đó họ có
thể hướng dẫn cho trẻ luyện tập phát âm khi trẻ ở nhà.
- Trong công trình nghiên cứu “Phối hợp nhà trường và gia đình chuẩn bị
Tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số vào học lớp 1” tác giả Trương Thị
Kim Oanh đã xác định rõ sự cần thiết của việc phối hợp giữa nhà trường và
gia đình trong dạy học tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số [24].
8
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan có thể rút ra một
số nhận xét sau:
Nhìn chung vấn đề phát triển ngôn ngữ tiếng Việt được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về
quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia. Trên thực tế,
khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong
một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân
tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân
tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều
hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và
lịch sử của mỗi dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là
trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người”. Mặc dù hiện nay
đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhưng cách gọi “dân tộc ít
người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung.
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số
dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong
một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa
biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi
khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia
này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác [dẫn theo 23].
Như vậy, học sinh dân tộc thiểu số là người đi học trong độ tuổi tại các
trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề được sinh ra và lớn
lên trong các dân tộc ít người.
* Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học
Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi. Đây là lứa tuổi
các em trở thành một học sinh ở trường phổ thông, chứ không còn là một
em bé mẫu giáo “học mà chơi, chơi mà học” nữa. Đó là một chuyển biến
rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng của
lứa tuổi này.
10
- Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển mạnh
- Ngôn ngữ của các em có sự phát triển rõ rệt
- Các chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế.
Tiếp theo là sự phát triển của xúc cảm - ý chí: đời sống xúc cảm, tình
cảm của học sinh tiểu học khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang tính tích
cực. trẻ em rất vui mừng vì tình bạn mới với bạn cùng lớp, tự hào vì được gia
nhập Đội, hãnh diện vì được giáo viên, chỉ huy đội giao cho những công việc
cụ thể, ở học sinh tiểu học tính tự kiềm chế và tính tự giác được tăng cường
bộc lộ ở sự ổn định của những trạng thái cảm xúc. Các em biết điều khiển tâm
trạng của mình, thậm chí còn biết che dấu tâm trạng khi cần thiết. Nhìn
chung, học sinh tiểu học cân bằng hơn tuổi mẫu giáo và thiếu niên. Tâm trạng
sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài là biểu hiện vốn có ở học sinh
tiểu học. Đó là những điều kiện thuận lợi để giáo dục những chuẩn mực đạo
đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết.
Bên cạnh những đặc điểm chung về mặt tâm sinh lí, lứa tuổi, trẻ em dân
tộc có một số đặc điểm riêng sau đây:
- Học sinh dân tộc thiểu số thường sinh sống ở vùng núi cao, sâu, xa, dân
cư sống phân tán không tập trung, rải rác trên đồi núi, trong thung lũng, nơi
có khí hậu và thời tiết khắc nghiệt nhất, nhiều nơi gần như lạnh giá, ẩm ướt
quanh năm, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người dân. Qua điều kiện tự
nhiên ấy cũng đủ thấy sự khó khăn của trẻ em dân tộc thiểu số (Dân tộc thiểu
số) trong việc đến trường như thế nào. Không những thế, hiện nay vẫn còn
nhiều làng, bản, xã chỉ có đường thô sơ dành cho người đi bộ, việc trẻ em dân
tộc thiểu số đi học phải đi bộ xa 7 đến 9 km là phổ biến.
- Tâm lí học sinh dân tộc thiểu số cũng có một số đặc điểm tâm lí chung
như những trẻ cùng trang lứa. Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung đó các
em có những đặc trưng riêng, những đặc trưng mang tính dân tộc và những đặc
trưng do điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên việc học tập chưa được gia
1.3.1. Tiếng Việt
Tiếng Việt, còn gọi tiếng Việt Nam [5] hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của
người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng
13
mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn 4 triệu người Việt hải
ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt
Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước
đây dùng chữ Nôm - một hệ chữ viết dựa trên chữ Hán – để viết nhưng tiếng
Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người
nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng
lại). Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ,
cùng các dấu thanh để viết.
Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, tại Chương I Điều 5 Mục 3, là ngôn ngữ quốc
gia của Việt Nam [6]. Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ
Quốc ngữ để viết. Tuy nhiên, hiện chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước
quy định giọng chuẩn và quốc tự của tiếng Việt [7]. Hiện nay phần lớn các
văn bản trong nước được viết theo những "Quy định về chính tả tiếng Việt và
về thuật ngữ tiếng Việt" áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của
ngành giáo dục nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng
3 năm 1984 [8] do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc
trong mọi lĩnh vực xã hội.
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát
âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện
rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
Đặc điểm ngữ âm: Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là
"tiếng". Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết. Hệ thống âm vị tiếng Việt