ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN NHÃ
HÀ NỘI - 2016
trong suốt thời gian viết luận văn.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học, Hội đồng
bảo vệ Luận văn thạc sĩ đã tạo điều kiện thuận lợi để em vững tin hơn trong
việc chuẩn bị bảo vệ luận văn.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
PGS. TS. Nguyễn Văn Nhã, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn phương pháp
nghiên cứu khoa học, chỉ bảo tận tình, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song điều kiện và thời gian còn hạn chế,
thực tiễn công tác lại vô cùng sinh động, chắc chắn luận văn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tác giả kính mong nhận được sự quan tâm,
góp ý, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nguyệt
ii
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS
Tiểu kết chương 1
30
Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH DÂN
TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN
HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
32
32
2.2. Sơ lược về các trường có học sinh THCS huyện Hoành Bồ,
33
tỉnh Quảng Ninh
2.3. Khái quát về tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng
40
2.4. Kết quả khảo sát
41
Tiểu kết chương 2
70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
96
2. Khuyến nghị
97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
100
PHỤ LỤC
105
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ đầy đủ
CBQL
: Cán bộ quản lý
: Ban giám hiệu
HĐTH
: Hoạt động tự học
HS
: Học sinh
GV
: Giáo viên
GVCN
: Giáo viên chủ nhiệm
GVBM
: Giáo viên bộ môn
PP
: Phương pháp
PPDH
: Phương pháp dạy học
: Phương pháp tự học
KHTH
: Kế hoạch tự học
CNTT
: Công nghệ thông tin
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Mạng lưới trường học THCS của huyện Hoành Bồ năm học 2015 - 2016....... 34
Bảng 2.2. Chất lượng hai mặt giáo dục của các trường THCS từ năm học
2011 - 2012 đến năm học 2015 - 2016 .........................................35
Bảng 2.3. Chất lượng hai mặt giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số ở các
trường THCS năm học 2014 - 2015 và năm học 2015 - 2016............36
Bảng 2.4. Thống kê độ tuổi, thâm niên CBQL các trường THCS năm học
2015 - 2016..................................................................................39
Bảng 2.5. Thống kê trình độ đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ của CBQL
các trường THCS năm học 2015 - 2016.......................................39
Bảng 2.6. Chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS đã tuyển dụng từ
năm học 2011 - 2012 đến năm học 2015 - 2016...........................40
Bảng 2.7. Nhận thức của học sinh về tự học ..................................................42
Bảng 2.8. Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học ...................44
Bảng 2.9. Việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học của học sinh........47
Bảng 2.10. Thời gian tự học của học sinh......................................................48
Bảng 2.11. Thực trạng nội dung tự học của học sinh .....................................49
Ở bất kỳ thời đại nào, nguồn lực con người luôn là vấn đề trung tâm, là
động lực của sự phát triển xã hội. Trong đó, thế giới quan khoa học và năng
lực tư duy của con người là yếu tố cơ bản của sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp
“trồng người”. Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học và phát triển năng lực tự
học được đề cập và nghiên cứu từ rất sớm, nhưng ở mỗi giai đoạn phát triển
khác nhau với điều kiện lịch sử cụ thể mà vấn đề này được các nhà nghiên
cứu tiếp cận ở những góc độ, phương diện khác nhau.
Tự học là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá
trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo
dục). Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáo
dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học
ở các trường phổ thông.
Tự học là một thuộc tính vốn có của con người, là con đường phát triển
nội lực của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, là động lực chính của quá trình giáo dục
- đào tạo.
Trong khuyến cáo của UNESCO về “Giáo dục cho thế kỷ XXI” đã nêu 4
trụ cột của giáo dục là: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học
để làm người. Trên cơ sở này có những công trình nghiên cứu đã chỉ ra một số
năng lực tự học là chìa khóa hoạt động học tập ở người học, những năng lực đó
bao gồm: Năng lực sáng tạo, có khả năng thích ứng với những thay đổi; Năng
lực hợp tác, có khả năng phối hợp hành động trong tự học, tự lĩnh hội tri thức;
Năng lực tự khẳng định mình, tự lập trong tự học và cuộc sống.
Ở các nước, các nhà khoa học, các nhà văn, nhà thơ, chính trị, kỹ
thuật... nổi tiếng đã để lại cho nhân loại kho tàng tri thức vô giá. Có được
thành quả như vậy chính là nhờ vào tự học. Ở Việt Nam, quan điểm dạy học
1
“lấy học sinh làm trung tâm” cũng được đề cập hàng chục năm nay và đã có
những tiến bộ, song vẫn chưa thực sự trở thành tư tưởng dạy học của mỗi giáo
quan trọng trong các nhà trường. Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều
con đường, nhiều cách thức khác nhau mỗi học sinh (HS) mới có thể bù đắp
được những thiếu khuyết về tri thức khoa học, về đời sống xã hội. Từ đó có
được sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng lực toàn diện của mình. Để
nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
thì vấn đề dạy học, quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tự
học, tự đào tạo là một xu hướng quan trọng của dạy học hiện đại để giúp mỗi
cá nhân thích ứng trong môi trường luôn mang tính thay đổi, giúp thực hiện
hiệu quả mục tiêu dạy học, nâng cao chất lượng dạy học.
Các nhà khoa học cũng đã khẳng định từ những nghiên cứu của mình:
Người học muốn đạt kết quả thì phải tự học, tự học phải trở thành nhu cầu của
người học.
Vấn đề quản lý hoạt động tự học (HĐTH) trong các nghiên cứu về lý
luận dạy học và quản lý giáo dục đã có một số công trình nghiên cứu và tiếp
cận theo hướng quản lý hình thành kỹ năng tự học cho học sinh và nhấn mạnh
HĐTH của HS vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng dạy
học. Đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) là một trong những nội
dung của Đề án đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam kể từ sau
năm 2015. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, đặc biệt quan tâm đến
việc đổi mới chương trình theo hướng chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang
tiếp cận mục tiêu phát triển năng lực. Trong 9 năng lực cụ thể cần hình thành
cho HS, năng lực tự học được đặt lên hàng đầu.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, hầu hết các trường
THCS đều có học sinh dân tộc thiểu số (HD DTTS) tham gia học tập. Bên
cạnh mục đích giáo dục đào tạo chung còn có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
HS là con em đồng bào DTTS huyện Hoành Bồ, tạo nguồn cán bộ cho địa
phương các xã miền núi, vùng cao của huyện sau này.
3
4
nhiều khó khăn, điều kiện học tập còn nghèo nàn thô sơ, các em chưa thật tích
cực, chủ động đối với việc học. Với các em, việc cập nhật kiến thức phổ thông
cơ bản đã là điều khó khăn, chưa nói đến việc nắm bắt, theo kịp những kiến thức
khoa học hiện đại. Việc tự học của các em HS DTTS càng phải rèn luyện tính
tích cực chủ động hơn; chỉ có tự học, tự bồi dưỡng thì các em mới có thể bù đắp
cho mình những lỗ hổng về kiến thức, để thích ứng với yêu cầu của cuộc sống
đang phát triển.
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy học của GV còn chậm,
người dạy chỉ mới quan tâm nhiều đến việc truyền thụ kiến thức mà chưa chú
trọng tới giáo dục, rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh, (ví dụ trong
mô hình trường học mới (VNEN) nếu gặp phải khó khăn thì học sinh liên lạc
với giáo viên và sẽ nhận được sự hỗ trợ cần thiết, tuy nhiên có giáo viên chỉ
biết ngồi chờ các em tự học mà chưa hướng dẫn kịp thời); GV chưa chú ý đến
việc thiết kế bài tập, bài kiểm tra, đề thi đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu, tìm
tòi mới có thể hoàn thành được, chưa quan tâm tới đối tượng HS; cơ sở vật
chất trang thiết bị dạy học thiếu, không đồng bộ; một số trường chưa có
nhiều kinh nghiệm và biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động học tập của
HS, đặc biệt là HĐTH (ngay cả trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, việc
phân công giáo viên trực và nhiệm vụ của bảo vệ nhà trường cũng bị chồng
chéo, trong khi hiệu quả công việc lại không cao, học sinh vẫn chưa tự giác
học tập, vẫn trốn ra ngoài chơi game, ăn quà... Phần lớn do công tác quản lý
học sinh, quản lý hoạt động tự học của các em chưa tốt, nên hiện nay công
tác tuyển sinh trường PTDTNT huyện còn gặp nhiều khó khăn do một số gia
đình không yên tâm khi gửi con tại trường).
Đối với 01 trường PTDTNT và 04 trường có học sinh bán trú của
huyện, theo lịch sinh hoạt tại trường thì một ngày các em có 04 tiếng dành
cho hoạt động tự học tại phòng ở hoặc trên lớp, thực tế có thể có hoặc không
lượng dạy và học trong các nhà trường, tác giả chọn hướng nghiên cứu:
“Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường
THCS huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn tốt nghiệp của mình.
6
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng HĐTH
và quản lý HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS huyện Hoành Bồ; từ đó
đề xuất các biện pháp quản lý HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS
huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh nhằm nâng cao kết quả tự học của HS
DTTS ở các trường THCS huyện Hoành Bồ nói riêng, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các trường THCS có HS DTTS trong
toàn tỉnh và trên cả nước.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS huyện Hoành Bồ,
tỉnh Quảng Ninh.
4. Phạm vi nghiên cứu
Các trường THCS của huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh với các số
liệu sử dụng từ năm 2011 đến nay.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu, đó là: Tự học và quản lý
HĐTH của HS DTTS đang đặt ra những vấn đề gì? Cần những biện pháp
quản lý như thế nào để nâng cao hiệu quả HĐTH của HS DTTS ở các
trường THCS huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh?
của HS DTTS ở các trường THCS nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề
cần nghiên cứu.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát, dự giờ các hoạt động dạy của GV và
hoạt động học tập của HS…
- Phương pháp điều tra: Khảo nghiệm qua các phiếu điều tra.
+ Thông qua phiếu điều tra khảo sát thực trạng và trưng cầu ý kiến.
+ Thông qua đàm thoại, phỏng vấn GV, HS, PHHS, các nhà quản lý
giáo dục… lấy các thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp về vấn đề nghiên cứu.
8
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều
tra, các biện pháp quản lý HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS trên địa
bàn huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý HĐTH.
8.3. Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng thống kê toán học để thống kê, tổng hợp số liệu thu
thập được từ nhiều nguồn khác nhau giúp cho việc nghiên cứu đạt được hiệu quả
cao và đảm bảo độ tin cậy.
9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1. Về mặt lý luận
Đóng góp về mặt lý luận đối với công tác quản lý HĐTH của HS DTTS
ở các trường THCS huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; chỉ ra những thành
công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương
pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này.
9.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung,
công tác quản lý HĐTH của HS DTTS ở các trường THCS huyện Hoành Bồ,
tỉnh Quảng Ninh nói riêng; trên cơ sở đó có thể được áp dụng cho công tác
Rousseau (1712 - 1778), Pestalori (1746 - 1827), Disterever (1790 - 1886),
Usinxki (1824 - 1890)… rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực,
độc lập, sáng tạo của người học. Các nhà khoa học giáo dục hướng tới việc
phát huy yếu tố tiềm ẩn trong cá nhân con người, nhấn mạnh cách làm cho
con người đến với tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi.
Phát triển tư tưởng của các nhà giáo dục tiền bối, các nhà giáo dục hiện
đại đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục cũng đã khẳng định vai trò to lớn của
hoạt động tự học như: N.A. Rubakin với tác phẩm“Tự học như thế nào” [44],
hay Ronald Gross trong “Học tập đỉnh cao” [16] đã trình bày nhiều vấn đề về
các phương pháp tự học, các phương pháp sử dụng sách, hoặc đưa ra quan điểm
khẳng định tự học là trình độ phát triển cao nhất trong các dạng học tập của con
người… Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay
như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức.
10
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Từ những năm 60 trở lại đây, tư tưởng về dạy - tự học và tổ chức hoạt
động tự học cho người học đã được nhiều tác giả như: Trần Kiều [28],
Nguyễn Kỳ [29, 30], Lê Khánh Bằng [1, 2], Nguyễn Văn Đạo [13], Đặng
Thành Hưng [21], Lưu Xuân Mới [41]… đề cập một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp trong các công trình nghiên cứu của mình. Trung tâm nghiên cứu và phát
triển tự học ra đời, ngày càng thúc đẩy mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của
nhiều tác giả. Ngày 15/01/1998 tại Hà Nội, trung tâm đã tổ chức thành công
Hội thảo khoa học: “Tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của sự phát triển
giáo dục Việt Nam”. Hội thảo đã khẳng định vai trò quan trọng của HĐTH
trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống.
Người tâm đắc và có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề tự học phải
nói đến GS. TS. Nguyễn Cảnh Toàn. Ông có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học về tự học đã xuất bản như: “Học và dạy cách học” [52], “Quá trình
quả HĐTH cho người học.
Như vậy, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên đã được nhiều
nhà khoa học, nhiều nhà giáo dục, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ rất
lâu trong lịch sử giáo dục ở những góc độ khác nhau.
Tác giả đã tập trung tìm hiểu, nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của
HĐTH, thực trạng và các biện pháp quản lý HĐTH, trên cơ sở đó đề xuất các
biện pháp quản lý nâng cao chất lượng HĐTH của HS DTTS ở các trường
THCS huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Khi con người với tư cách là những cá nhân riêng lẻ không thể thực
hiện để đạt được mục tiêu mà họ đề ra, họ bắt đầu hình thành các tập thể,
nhóm, trong đó có sự hợp tác và phân công trách nhiệm, chính sự phân công
và hợp tác này làm cho năng suất lao động cao hơn và vì vậy đòi hỏi phải có
sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý - quản lý ra đời. Quản lý
xuất hiện như một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài
người, nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động.
12
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, tùy theo những cách tiếp
cận khác nhau. Sau đây xin nêu một số quan niệm chủ yếu:
Theo từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có
định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể
quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức” [15, tr.236].
Nhấn mạnh các chức năng của hoạt động quản lý, tác giả Nguyễn
Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến
mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế
hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội…” [4].
Theo tác giả Trần Kiểm:“Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống,
hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập
thể cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm
thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [27].
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác
động có ý thức của chủ thể quản lý (các nhà QLGD) đến khách thể
quản lý (người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục, người dạy, người học, cơ sở
vật chất...) nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục. QLGD là thực hiện việc
quản lý trong lĩnh vực giáo dục.
1.2.2. Khái niệm về tự học
- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự học chính là nỗ lực của bản thân
người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên
tinh thần tự động học tập, lại cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận)
và sự quản lý chỉ đạo giúp vào” [38].
- Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não sử dụng
các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi còn cả
cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, và cả động cơ,
tình cảm, các nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực khách quan, có chí
tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý
muốn thi đố, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [53, tr.60].
14
- Theo GS. Vũ Văn Tảo: “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển
nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị
con người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường
quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự
học mới là nhân tố quan trọng, là nội lực quyết định sự phát triển của HS.
Triết học Mác - Lênin khẳng định “tự học trong quá trình giáo dục là
yếu tố quan trọng đóng vai trò nguyên nhân bên trong, động lực thực sự của
việc học sinh tự giác học tập” [35]. Trong mối quan hệ với hoạt động dạy
học, HĐTH giúp HS hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ liên
quan đến chương trình giáo dục THCS cũng như mở rộng về các lĩnh vực tự
nhiên, xã hội, nghệ thuật,… theo nhu cầu học tập. Những kiến thức này HS
có thể học được trong thực tế cuộc sống hàng ngày, trong gia đình và xã hội.
Tâm lý học cũng chỉ ra rằng sự phát triển của con người phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó giáo dục và hoạt động của cá nhân là quan trọng nhất.
Hoạt động của cá nhân là yếu tố đóng vai trò trực tiếp quyết định năng lực và
phẩm chất của con người.
Quá trình tự học có thể hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành
quá trình tự giáo dục, là sự biến đổi bản thân trở nên có thêm giá trị bằng nỗ
lực của chính mình để chiếm lấy giá trị bên ngoài, là một hành trình nội tại
được “cắm mốc” bởi kiến thức, PP tư duy và thực hiện tự phê bình để tự hiểu
bản thân mình.
Các lý luận trên không có nghĩa là xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của GV
trong quá trình dạy học mà GV đóng vai trò chủ đạo, kích thích, động viên,
dẫn đường cho HS học tập có hiệu quả và đúng cách. Thông qua tự học giúp
HS nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và định hướng nghề nghiệp trong
tương lai; giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi
còn học trong trường, đồng thời giúp HS rèn luyện nhân cách, hình thành nền
nếp làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và
hứng thú học tập; không ngừng làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết
của mình, giúp HS có thể chủ động học tập suốt đời, tránh được lạc hậu trước
sự “bùng nổ thông tin” trong thời đại hiện nay.
16