ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương sọ não ( CTSN) là một cấp cứu thường gặp. Ngày nay, khi
dân số tăng nhiều, hiện tượng đô thị hoá ngày càng phát triển, các phương tiện
giao thông ngày càng gia tăng dẫn đến các vụ tai nạn giao thông cũng tăng theo.
Trong các vụ tai nạn giao thông thì CTSN thuộc loại chấn thương nguy hiểm. Nó
là mối quan tâm của các nhà chuyên môn cũng như các nhà làm công tác xã hội
vì nó có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại những di chứng nặng nề về tâm thần kinh,
trở thành gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội.
Lâm sàng, vết thương sọ não hở chẩn đoán thường dễ, nhất là khi có tổ
chức não lòi ra ngoài hoặc có nước não tủy chảy qua vết thương. Trong khi đó
các CTSN đa số là CTSN kín và ít nhiều có tổn thương của não ( chấn động não,
phù não, dập não) và phần lớn không có chỉ định mổ. Trước đây, việc chẩn đoán
tổn thương trong CTSN kín rất khó khăn, chủ yếu dựa vào lâm sàng để có quyết
định mổ hay không.
Kể từ khi máy chụp cắt lớp vi tính ( CLVT) ra đời là bước tiến quan trọng
của ngành Chẩn đoán hình ảnh (CĐHA). CLVT giúp tìm ra các tổn thương rất
nhỏ từ vài milimét bên trong sâu hộp sọ mà trước đây là điều không tưởng và tìm
ra những yếu tố nhằm giúp tiên lượng bệnh nhân đẻ tìm ra hướng điều trị thích
hợp.
Thắng 4-2002, hệ thống máy chụp CLVT đầu tiên được lắp đặt tại bệnh
viện đa khoa tỉnh Hải Dương với lưu lượng bệnh nhân chụp ngày càng tăng.
Trong năm 2008, chúng tôi đã khám 6215 trường hợp, trong số đó có .....cas có
liên quan đến CTSN, chứng minh vai trò quan trọng của kỹ thuật này.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài : “ Nhận xét 150 bệnh
nhân tổn thương sọ não chấn thương trên ảnh chụp cắt lớp vi tính tại bệnh viện đa
khoa tỉnh Hải Dương” với mục đích:
1- Tìm hiểu các đặc điểm hình ảnh tổn thương trong CTSN trên ảnh
chụp CLVT.
1
2- Rút ra các nhận xét để đề xuất phương pháp chụp phù hợp.
Chương 1:
Máu cung cấp cho vùng đầu mặt được cấp từ 2 nguồn: Hệ thống mạch cảnh và
động mạch sống.
* Động mạch sống: Có 2 động mạch (ĐM) sống. Các ĐM sống nằm trong lỗ
của ngành ngang các đốt sống cổ đi lên vào não. Hai ĐM này hợp với nhau tạo
thành động mạch nền . Trong não, tương ứng phía sau hố yên, ĐM nền tách làm
2 nhánh tận là ĐM não sau để tiếp nối với các nhánh của ĐM cảnh trong.
* Hệ thống mạch cảnh: ĐM cảnh chung được tách ra từ quai ĐM chủ ( bên trái)
và ĐM cánh tay đầu ( bên phải) đi lên dọc theo cơ ức đòn chũm đến ngang mức
đốt sống cổ 4 thì chia thành 2 ngành tận là ĐM cảnh ngoài và ĐM cảnh trong.
3
- Động mạch cảnh ngoài: Phân chia thành 6 nhánh bên ( ĐM giáp trên, ĐM
hầu lên; ĐM lưỡi; ĐM mặt; ĐM chẩm và ĐM tai sau) và 2 ngành tận( ĐM thái
dương nông và ĐM hàm trên). Nhìn chung ĐM cảnh ngoài cấp máu cho phần
ngoài vùng sọ mặt. Nhánh tận ĐM hàm trên chia 14 nhánh bên; trong đó có các
nhánh ĐM màng não giữa ép sát xương hộp sọ và màng cứng, hay bị tổn thương
khi có vỡ xương.
- Động mạch cảnh trong: Chạy lên trên chui vào xương đá, trong xoang tĩnh
mạch (TM) hang rồi chọc qua màng não cứng để vào não. Đoạn trong não ĐM
cảnh trong tách ra các nhánh não ( ĐM não trước; ĐM não giữa; ĐM mạch trước;
ĐM thông sau) và nhánh ĐM mắt.
Các nhánh trong não của ĐM cảnh trong tiếp nối với các nhánh của ĐM cảnh
trong bên kia và nối với ĐM não sau tạo thành đa giác mạch não ( đa giác Willis)
nằm trong bể trên yên.
Nhìn chung động mạch cảnh trong cấp máu cho mắt, các nhánh cho trán, mũi, và
cấp máu phần lớn cho não.
1.3.2. Hệ thống tĩnh mạch: Khác với hệ thống tĩnh mạch ( TM) khác của cơ
thể. Hệ thống tĩnh mạch trong não được đổ vào hệ thống tĩnh mạch xoang màng
cứng. Các xoang này thành chính là màng cứng và bên trong được lát bởi một lớp
nội mô. các xoang màng cứng không có van, dẫn lưu máu của não và cuối cùng
đổ vào hố tĩnh mạch cảnh. Các xoang màng cứng gầm 2 nhóm : nhóm sau trên
+ Các tư thế chụp bổ sung đặc biệt :: Worm-Bretton; Hirtz ; Stenver ....
Các kỹ thuật chụp X quang thường quy như trên chỉ xác định được tổn
thương xương hay không mà không đánh giá được có tổn thương các cấu trúc
bên trong hộp sọ hay không?
2.2- Chụp X quang thường quy có can thiệp: Chụp mạch não ( AG) hoặc chụp
bơm hơi não thất:
Chỉ xác định có choán chỗ nội sọ bằng dấu hiệu gián tiếp là sự đè đẩy( mạch
não, não thất), chứ không xác định được vị trí, kích thước, bản chất của tổn
thương.
3- Phương pháp chụp cắt lớp vi tính:
3.1. Lịch sử:
Chụp cắt lớp ( Tomography) được áp dụng từ những năm của thập kỷ 30 thế
kỷ XX trong chụp X quang thường ( Conventional radiological technique). Với
kỹ thuật này, chụp cắt lớp được cắt theo lớp dọc của cơ thể, bệnh nhân nằm yên
và bóng X quang di chuyển về 2 phía đầu và chân bệnh nhân trong khi chụp. Kỹ
6
thuật này hay được áp dung trong chụp phổi nhằm đánh giá vị trí và cáu trúc sơ
bộ các tổn thương ( u, áp xe, hang lao....). Hình ảnh thu được nhòe do bóng
chuyển động.
- Radon ( Đức) năm 1917 đã đặt cơ sở lý thuyết đầu tiên cho phương pháp toán
học nhằm tái tạo cấu trúc của một vật thể ba chiều trong không gian dựa trên vô
tận các hình chiếu của vật thể đó.
- Connack năm 1963 đã thành công trong việc tái tạo ảnh trên cấu trúc của một
vật thể hình học đơn giản, nhờ một nguồn bức xạ của Coban 60.
- Hounsfield năm 1967 đã thiết kế được một thiết bị dùng tia X quang để đo
những vật thể thí nghiệm làm bằng các chất nhân tạo và lập được chương trình
cho máy tính dể ghi nhớ và tổng hợp kết quả.
Năm 1971 Hounsfield cùng Ambrose ( Anh) cho ra đời máy chụp CLVT sọ não
đầu tiên . Thời gian chụp và tính toán cho một quang ảnh cần 2 ngày.
- Năm 1974 Ledley ( Mỹ) hoàn thành chiếc máy chụp CLVT toàn thân đầu
- Thế hệ 2: Sử dụng ma trận 340 x 340. Máy chụp có nhiều Detector , ứng dụng
nguyên lý quay và tịnh tiến. Chùm tia X có góc mở 10 độ đối diện với một nhóm
8
5-50 detector. Do chùm tia mở rộng hơn nên giảm được số lần quét ngang. Thời
gian chụp một quang ảnh mất 6-20 s.
- Thế hệ 3: Sử dụng ma trận 512 x 512. Máy chụp có nhiều Detector, ứng dụng
nguyên tắc quay đơn thuần. Chùm tia X có góc mở rộng hơn, chùm hết phần cơ
thể cần chụp. Có 200-600 detector ghép thành một cung đối diện bóng x quang.
Bóng X quang vừa quay vừa phát tia, các Detector quay cùng chiều với bóng và
ghi kết quả. Thời gian cho một quang ảnh 1- 4 s.
- Thế hệ 4: Sử dụng ma trân 1024 x 1024. Máy chụp có hệ thống cảm nhận
tĩnh, gắn cố định vào 360 độ của đường tròn, số lượng detector lên đén 1000.
Bóng X quang quay quanh trục cơ thể để phát tia. Thời gian cho một quang ảnh
rất ngắn. Máy loại này có ma trận 1024 x 1024 nghĩa là một lớp cắt được chia ra
1.048.576 đơn vị thể tích.
3.3. Cửa sổ và bậc thang xám:
Để phân tích được số đo của các cấu trúc cơ thể trên một lớp cắt cần biến
chúng thành hình ảnh. Vì mắt thường chỉ phân biệt được dưới 20 bậc thang xám
từ đen đến trắng, nên ảnh chụp CLVT có 14- 16 bậc xám khác nhau.
Giải số đo của Hounsfield từ – 1000 đến + 2000 , máy cho phép mở cửa sổ ở bất
kỳ khu vực nào của Hounsfield để chuyển các số đo ra ảnh. Muốn phân tích thật
chi tiết các cấu trúc, cần thu hẹp cử sổ để dễ quan sát sự chênh lệch đậm độ bên
trong. Muốn nhìn toàn bộ từ xương đến phần mềm cần phải mở rộng cửa sổ. Mức
giữa của cửa sổ thường đặt vào số đo tỷ trọng trung bình của cấu trúc cần khám
xét. Mỗi ảnh chụp đều có ghi các loại cửa sổ như sau:
+ Độ rộng cửa sổ : W hoặc WW
+ Mức giữa cửa sổ: C hoặc WL.
3.4. Cách xác định các thành phần trên ảnh CLVT:
Dựa vào khả năng hấp thụ tia của từng đơn vị thể tích của cơ thể, máy tính sẽ
tính ra tỷ trọng của đơn vị thể tích đó và ghi nhớ lại. Cấu trúc hấp thụ càng nhiều