THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đối với NGƯỜI có CÔNG với CÁCH MẠNG TRÊN địa bàn HUYỆN BA vì, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU LOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ
CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHÙNG NGỌC TẤN

HÀ NỘI - 2020


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách đối với người có công với cách mạng là một bộ phận cấu
thành trong hệ thống an sinh xã hội ở nước ta, là chính sách mang tính đặc thù
của Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nó không chỉ góp
phần to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là định hướng giá trị
cho toàn xã hội, đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ, thế hệ tương lai trong việc gìn
giữ, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước. Chính sách này, không chỉ là vấn
đề trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài, mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần
ổn định chính trị - xã hội; là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ
người trồng cây”, là sự “Đền ơn đáp nghĩa” chứ không phải là việc ban ơn.
Chính vì vậy, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chính sách, chế độ và tổ chức vận động toàn dân chăm lo đời sống vật chất,

Đảng và nhà nước ta. Sau hàng loạt các văn bản của Nhà nước ban hành ưu
đãi đối với thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công đã thể hiện sự
quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, qua đó đảm
bảo được một bước lợi ích, công bằng xã hội và góp phần nâng cao đời sống
kinh tế của họ, đồng thời, góp phần ổn định chính trị - xã hội đất nước. Song,
trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhiều chính sách, chế độ không còn phù hợp, nhà nước đã nghiên
cứu, ban hành nhiều Nghị định kịp thời điều chỉnh chế độ chính sách đối với
người có công, để phù hợp với giai đoạn phát triển mới, ngày 29/6/2005 Quốc
hội đã ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11, đây là một văn bản
được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống, phù hợp với tình
hình đất nước, định hướng cho việc thực hiện chính sách, góp phần nâng cao
đời sống kinh tế đối với người có công trong giai đoạn hiện nay.
Trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về các chính sách đối với người có công với cách mạng, như:
- Năng lực thực hiện chính sách công những vấn đề lý luận và thực tiễn
của PGS-TS Văn Tất Thu, Tạp chí tổ chức nhà nước, số 12/2014 [Error!

2


Reference source not found.].
- Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp của GS Phạm Xuân
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, năm 1997
- Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo

Việt Nam của GS.PTS Vũ Thị Ngọc Phùng, Nxb Chính trị quốc gia, năm 1999.
- Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội một số lý luận và thực tiễn ở
một số tỉnh miền trung của PGS.TS Phạm Hảo, Nxb Chính trị quốc gia, năm
2000.

phương diện rộng, nghiên cứu cả hệ thống chính sách an sinh xã hội hoặc
nghiên cứu ở phương diện quy mô toàn quốc, chưa đánh giá đúng thực trạng,
chưa nêu cụ thể đâu là nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của quy định
chính sách đối với người có công đang thực hiện.
Ở Thành phố Hà Nội, qua tìm hiểu đến nay chưa có tác giả nào
nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên
địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”. Đây là lý do để đề tài này được lựa
chọn nghiên cứu. Thông qua đề tài này, tác giả muốn được tham gia, làm rõ
thêm một số vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách đối
với người có công để phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống, đáp ứng nhu cầu
của người có công, góp phần giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị
- xã hội, phát triển kinh tế bền vững.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách đối
với người có công, trên cơ sở đó, phân tích đánh giá thực trạng tổ chức thực
hiện chính sách đối với người có công từ thực tiễn huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội, đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách đối với
người có công ở nước ta nói chung và huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội nói
riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực hiện chính sách người có công với
cách mạng;
- Phân tích thực trạng tình hình thực hiện chính sách người có công
với cách mạng ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách người
có công với cách mạng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5



6


từ nhiều nguồn khác nhau như: Sưu tầm, tìm kiếm các nguồn tài liệu có sẵn ở
sách báo, các pháp lệnh, thông tư, nghị định; các chính sách liên quan đến
lĩnh vực người có công tại địa phương và mạng internet, các website của
Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các trang mạng internet.
Phương pháp thống kê, tổng hợp đánh giá, được sử dụng trong việc
thống kê những số liệu cụ thể về thực trạng việc thực hiện chính sách đối với
người có công, việc thống kê và phân tích đòi hỏi phải có sự chính xác cao để
làm rõ vấn đề nghiên cứu. Sau khi thu thập tài liệu tôi tiến hành thống kê phân
tích xử lý số liệu, lựa chọn số liệu theo những mục đích, yêu cầu cần làm rõ từ
đó dẫn chứng vào đề tài của mình. Khi công việc phân tích số liệu, xem xét
tài liệu xong tôi tiến hành ghi chép lại, tổng hợp và phân loại sắp xếp riêng
theo từng loại, ví dụ: số liệu về tình hình thực hiện chính sách ưu đãi xã hội;
số liệu hằng về năm chương trình chăm sóc người có công; số liệu về các
chương trình khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Đóng góp bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về tổ chức thực
hiện chính sách đối với người có công nói chung và tổ chức thực hiện chính
sách đối với người có công ở đất nước ta nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện ở chỗ trên cơ sở các kết quả,
kết luận, rút ra từ việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực, hữu hiệu
giúp UBND và các cơ quan chức năng của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách đối với người
có công..
7. Kết cấu của luận văn

phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những đóng
góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do
cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. [Error! Reference source not found., tr.18-19]

8


Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo,
tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến
xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc
kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật”. Ở khái niệm này,
người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy
sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp
cho sự nghiệp cách mạng. [Error! Reference source not found., tr.19]
Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của người có công
như sau:
Thứ nhất, người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách
mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành
tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng.
Thứ hai, người có công là người có thành tích đóng góp hoặc cống
hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cống hiến của họ có
thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và
cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ ba, phạm trù người có công rất rộng, trong phạm vi hẹp, đối tượng
người có công là những người có công trong các cuộc chiến tranh giải phóng
dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam. Hơn nữa, chính sách đối với người có công
chủ yếu điều chỉnh đối tượng này.

sự ưu tiên và cơ chế thực hiện sự ưu tiên đó. Vận động mọi người dân, các tổ
chức chính trị - xã hội với truyền thống tốt đẹp sẵn có, tổ chức các phong
trào, đóng góp công sức để tạo cơ sở vật chất cho sự ưu đãi đối với người có
công.
Từ sự phân tích trên cho thấy chính sách kinh tế là cơ sở cho chính
sách ưu đãi xã hội. Và, đến lượt mình chính sách ưu đãi xã hội là động lực, là
tiền đề góp phần ổn định và phát triển xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ và vững chắc. Điều 59 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội

10


chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định: “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen
thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với nước”. [Error!
Reference source not found., tr. 28] Dưới góc độ khoa học chính sách công
có thể định nghĩa: “Chính sách đối với người có công là thái độ, quan điểm,
quyết định cách xử sự của nhà nước đối với người có công, với mục tiêu, giải
pháp, công cụ cụ thể nhằm ưu đãi, hỗ trợ, giúp đỡ người có công, duy trì,
phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa của dân tộc
ta trong sự nghiệp, xây dựng và phát triển đất nước”. Đó là các chính sách
cụ thể của nhà nước đối với 12 đối tượng người có công được quy định trong
pháp lệnh ưu đãi người có công
1.1.3. Khái niệm, ý nghĩa tầm quan trọng của việc thực hiện chính
sách đối với người có công với cách mạng
1.1.3.1. Khái niệm thực hiện chính sách đối với người có công
Thực hiện chính sách đối với người có công được hiểu là hoạt động
của các chủ thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định nhằm đưa
chính sách đối với người có công vào cuộc sống thông qua các công việc cụ
thể theo trình tự, thủ tục nhất định, như việc tổ chức xác nhận, quản lý và
thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi của nhà nước đối với các đối tượng

đối của nhân dân đối với nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính
trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong quản lý. Qua tổ
chức thực hiện chính sách đối với người có công mới biết được chính sách có
đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách có đi vào
cuộc sống hay không đi vào cuộc sống, có được người dân đồng tình ủng hộ
hay không đồng tình ủng hộ. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định
chính sách chưa phát sinh hoặc đã phát sinh nhưng các nhà hoạch định chưa
nhận thấy đến giai đoạn tổ chức thực hiện mới phát hiện ra. Chính quá trình
tổ chức thực hiện chính sách với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều
chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng
yêu cầu cuộc sống và mong muốn của người dân. Đồng thời việc phân tích,
đánh giá chính sách đối với người có công đúng hay không đúng chỉ có cơ sở
đầy đủ và có sức thuyết phục sau khi tổ chức thực hiện chính sách. Thực hiện
là chân lý, kết quả tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công là

12


thước đo, là cơ sở đánh giá chính xác và khách quan chất lượng hiệu quả của
chính sách đối với người có công. Ngoài ra, tổ chức thực hiện chính sách,
đưa chính sách vào cuộc sống là một quá trình phức tạp, đầy biến động chịu
sự tác động của một loạt các yếu tố thúc đẩy, cản trở. Do đó cần phải đặc biệt
chú ý đến khâu tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công. Tổ chức
thực hiện tốt chính sách đối với người có công là tiền đề và điều kiện bảo
đảm sự thành công và hiệu quả của chính sách.
1.1.4. Những yêu cầu cơ bản thực hiện chính sách đối với người có
công với cách mạng
a. Thực hiện đúng mục tiêu của chính sách Chính sách đối với người
có công với cách mạng là một trong những công cụ quan trọng trong việc
quản lý xã hội. Trong lĩnh vực này, thực hiện chính sách đối với người có

nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao thực hiện chính sách,
thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực hiện chính sách, cưỡng chế
thực hiện chính sách trong những điều kiện cần thiết. Tính khoa học thể hiện
trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách là việc phối hợp nhịp nhàng
giữa các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh
vào việc thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án
để thực hiện có hiệu quả chính sách đối với người có công.
d. Lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng chính sách. Thực hiện chính
sách đối với người có công phải quy định cụ thể mức trợ cấp, chế định bảo
đảm việc làm, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần đối với từng đối tượng
và thân nhân của họ. Để các khoản trợ cấp có ý nghĩa cần phải lưu ý những
điểm sau: trợ cấp không đơn thuần chỉ là tiền mà còn là sự biểu hiện tình
cảm, lòng biết ơn sâu sắc của Nhà nước, là truyền thống “Uống nước nhớ
nguồn” của dân tộc ta đối với người có công với cách mạng. Vì vậy, không
thể lợi dụng vấn đề trợ cấp như là một sự “ban ơn” của cá nhân người này,
người kia với đối tượng. Trợ cấp cho người có công phải có ý nghĩa thực tế
chứ không phải là một khoản tiền tượng trưng, cho nên cần thiết phải có sự
điều chỉnh để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn

14


nhất định. Cần chú ý đến việc bảo toàn giá trị của tiền trợ cấp cho người có
công.
Thực hiện chính sách đối với người có công cần quy định chế định bảo
đảm việc làm cho người có công. Giải quyết việc làm cho người có công là
vấn đề không chỉ có ý nghĩa kinh tế thuần túy mà còn có ý nghĩa xã hội và
nhân văn sâu sắc. Chính sách ưu đãi này nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa
vụ cho đối tượng người có công với tư cách là người lao động, một công dân
của đất nước. Giải quyết tốt vấn đề việc làm là phát huy khả năng và tiềm lực

gian đi học, như: ưu tiên trong tuyển sinh, hỗ trợ kinh phí và cả trong việc
tạo điều kiện giải quyết việc làm sau khi ra trường.
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đối
với người có công với cách mạng
Kế tục truyền thống của cha ông ta, ngay từ khi đất nước mới giành
được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã sớm ban hành chính sách ưu đãi xã
hội, đặc biệt là chính sách ưu đãi người có công với đất nước trong sự nghiệp
xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc .
Giai đoạn từ 1945 đến 1954: Sau khi giành được chính quyền, nhân
dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải bắt tay ngay vào cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Thời kỳ này đất nước gặp muôn vàn khó khăn, nhưng
Đảng, Chính phủ sớm thiết lập một số văn bản pháp luật ưu đãi một số đối
tượng có công như: thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời động viên toàn
dân lấy lên phong trào toàn dân chăm sóc giúp đỡ các đối tượng này.
Ngày 16/2/1947 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký Sắc
lệnh số 20/SL “Về chế độ hưu bổng, thương tật đối với thương binh, tử sĩ”.
Sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng Sắc lệnh 242/SL ngày 12/10/1948 về
“Hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”, qui định về tiêu
chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng tử sĩ, thực hiện chế độ lương hưu
thương tật đối với thương binh, chế độ tiền tuất đối với gia đình tử sĩ. Đây là
văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa qui
định về những ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Sau đó Đảng –

16


Nhà nước ta còn ban hành nhiều chính sách, văn bản có liên quan quy định
những vấn đề về thương binh, tử sĩ…và những ưu đãi dành cho họ. Đồng
thời, Đảng – Nhà nước cũng khuyến khích, động viên toàn dân dấy lên
phong trào giúp đỡ, chăm sóc đối tượng này như phong trào đón thương binh

xây dựng bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Trên cơ sở đó, chính sách
ưu đãi người có công trong giai đoạn này đã khắc phục được một số bất hợp
lý, hình thành hệ thống văn bản pháp quy có hiệu lực thống nhất trong cả
nước. Tuy nhiên, còn tản mạn, chắp vá, nội dung còn rườm rà, phức tạp, hạn
chế trong việc giải quyết các vấn đề mang tính cơ bản, lâu dài của chế độ ưu
đãi người có công.
Giai đoạn từ 1986 đến 1994: Đây là giai đoạn có ý nghĩa đối với sự
phát triển của chế độ ưu đãi xã hội nước ta. Trong bối cảnh lịch sử đất nước
ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, chế độ ưu đãi
đối với người có công đã có những thay đổi rất quan trọng, đáp ứng nhu cầu
điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ưu đãi xã hội theo cơ chế mới.
Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản chính sách về chế độ ưu đãi, đánh
dấu bước chuyển biến quan trọng quyết định đến mọi đời sống của người có
công thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đáng chú ý là nghị định số
236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng bổ sung, xóa bỏ sự khác
biệt trong các qui định ưu đãi do lịch sử để lại. Cùng với sự chuyển đổi này,
việc điều chỉnh bằng pháp luật các mối quan hệ xã hội cũng được thay đổi
cho phù hợp với cơ chế mới. Chính sách ưu đãi người có công theo đó cũng
được thay đổi, bổ sung cho hợp lý hơn (Quyết định số 79/HĐBT ngày
05/7/1989, Quyết định số 8/HĐBT ngày 05/01/1990, Nghị định số 27/CP
ngày 23/04/1993…).
Những năm cuối của giai đoạn này, đất nước đã dần ổn định, nền kinh
tế đã có sự phát triển, những mâu thuẫn xã hội của nền kinh tế thị trường trở
nên mạnh mẽ, đòi hỏi Nhà nước phải có sự quan tâm hơn nữa đến chính sách
người có công. Nổi bật nhất là vào ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc

18


hội đã ban hành 02 văn bản rất quan trọng đối với chính sách người có công,

hiệu lực kể từ ngày 01/09/2012; Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng
4 năm 2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng; Thông số 05/2013/TT-BLĐTBXH
ngày 15 tháng 5 năm 2013 hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ,
thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân.
Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung một số điều và điều chỉnh mức trợ cấp
cho phù hợp cho tình hình thực tế. bao gồm:
a. Người có công với cách mạng:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Liệt sĩ;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người có công giúp đỡ cách mạng;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và
làm nghĩa vụ quốc tế;
- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.
b. Thân nhân người có công với cách mạng được quy định tại khoản 1
Điều này.
Trong phạm vi của luận văn, chỉ nêu những đối tượng có công được
quy định điều kiện, tiêu chuẩn trong Pháp lệnh Ưu đãi người có công, bao
gồm [Error! Reference source not found.]:

20




+ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong
thời kỳ kháng chiến bao gồm: Người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng
danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” theo quy định của pháp
luật; người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lao động vì đã có thành
tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến.
+ Thương binh, là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy
giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền
cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh”.
+ Người hưởng chính sách như thương binh, là người không phải là
quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ
21% trở lên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này
được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách
như thương binh".
+ Bệnh binh, là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm
khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan,
đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh".
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, là người
được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu,
phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại
các vùng mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học và do nhiễm chất độc
hóa học dẫn đến một trong các trường hợp sau đây: Mắc bệnh làm suy giảm
khả năng lao động từ 21% trở lên; vô sinh; sinh con dị dạng, dị tật.
+ Người họat động cách mạng hoặc họat động kháng chiến bị địch
bắt tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận
trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng
chiến, không làm tay sai cho địch.

22


23


1.3. Nội dung các bước thực hiện chính sách người có công
Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải tuân thủ một quy
trình chặt chẽ thống nhất về quy trình nhằm phản ánh các bước trong việc tổ
chức triển khai và thực hiện chính sách. Quy trình các bước đều có nhiệm vụ
rõ ràng phải có hiệu quả để tác động qua lại, nhằm đạt được mục tiêu tốt nhất
trong việc thực hiện chính sách, gồm các bước sau [Error! Reference source
not found.]:
1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách người có
công với cách mạng
Để đạt được kết quả tốt và có hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính
sách người có công với cách mạng, trước tiên cần phải tiến hành xây dựng kế
hoạch triển khai thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng từ kế hoạch tổ
chức điều hành, kế hoạch về các nguồn lực, kế hoạch thời gian triển khai, kế
hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách phù hợp với tình hình thực tế của
địa phương; đồng thời phải đảm bảo tuân thủ theo đúng quan điểm, mục tiêu,
yêu cầu của chủ thể ban hành. Khi xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách
người có công với cách mạng cần quy định những nội dung cơ bản sau:
- Kế hoạch tổ chức điều hành: Dự kiến cơ quan chủ trì phải phân công
rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, từng cán bộ, công chức trong thực
thi chính sách, tránh chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quan
khác, cán bộ này với cán bộ khác.
- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực: Dự kiến về cơ sở vật chất, các
công cụ, phương tiện kỹ thuật phục vụ tổ chức thực hiện, đảm bảo cung cấp
đủ nguồn lực tài chính, con người nhằm đảm bảo việc triển khai thực hiện
diễn ra được thuận lợi, mang lại hiệu quả.
- Kế hoạch thời gian thực hiện: Dự trù thời gian duy trì chính sách, thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status