TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM TIỂU học và một số yếu tố LIÊN QUAN tại 2 xã HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN năm học 2016 2017 - Pdf 65

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÙI THỊ KIM HUẾ

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM TIỂU HỌC
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 XÃ HUYỆN
PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM HỌC 2016-2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2013 - 2017

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÙI THỊ KIM HUẾ

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM TIỂU HỌC
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 XÃ HUYỆN
PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM HỌC 2016-2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA



LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:
- Phòng đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội.
- Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
- Bộ môn Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng trẻ
em tiểu học và một số yếu tố liên quan tại 2 xã huyện Phú Bình tỉnh Thái
Nguyên năm học 2016-2017” lấy một phần số liệu điều tra ban đầu của đề tài
“Đánh giá hiệu quả Sữa Vinamilk 100% Sữa tươi – học đường và Sữa
Vinamilk ADM GOLD – Học đường bổ sung vi chất dinh dưỡng ở trẻ em
tiểu học” và đã được sự đồng ý của tác giả đề tài. Các kết quả, số liệu trong
khóa luận đều có thật và chưa được đăng tải trên tài liệu khoa học nào.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Thị Kim Huế


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BAZ



(United Nations Children’s Fund)
Viện Dinh dưỡng
Z-score cân nặng theo tuổi

WFA
WHO

(Weigh Age Z-score)
Cân nặng theo tuổi(Weigh For Age)
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1. Vai trò của dinh dưỡng với sức khỏe con người
1.2. Tình trạng dinh dưỡng

3

4

1.2.1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng.....................................................4


17

2.4.1. Cỡ mẫu.............................................................................................17
2.4.2. Phương pháp chọn mẫu.....................................................................17
2.5. Kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu và đánh giá

20

2.5.1. Các kĩ thuật và công cụ thu thập số liệu.............................................20


2.5.2. Chỉ tiêu đánh giá...............................................................................20
2.6. Xử lí số liệu 21
2.7. Sai số và hạn chế sai số 21
2.7.1. Sai số thu thập thông tin....................................................................21
2.7.2. Sai số nhớ lại.....................................................................................22
2.7.3. Sai số không trả lời............................................................................22
2.8. Đạo đức nghiên cứu

22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

23

3.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 25
3.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 29
3.3.1. Tình hình bệnh tật và một số hành vi dinh dưỡng...............................29


Bảng 3.3. Một số đặc điểm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình trẻ
24
Bảng 3.4. Chiều cao, cân nặng trung bình theo giới của trẻ 25
Bảng 3.5. Tỷ lệ SDD theo tuổi 26
Bảng 3.6. Tỷ lệ SDD theo mức độ và giới 27
Bảng 3.7. Tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì theo giới

28

Bảng 3.8. Tỷ lệ trẻ nhiễm một số bệnh thường gặp trong 2 tuần qua.
29
Bảng 3.9. Tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ 30
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa số con trong gia đình và tình trạng dinh
dưỡng 31
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và tình trạng dinh dưỡng
32
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa nghề nghiệp, trình độ văn hóa của mẹ và
tỷ lệ SDD của trẻ

32

Bảng 3.13. Mối liên quan giữa mắc một số bệnh thường gặp và tình trạng
dinh dưỡng của trẻ 33
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa thói quen ăn sáng và tình trạng dinh
dưỡng của trẻ

33

Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tần suất tiêu thụ thực phẩm và tình trạng

được cải thiện đáng kể, tuy nhiên việc tiếp tục hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng
trẻ em và hạ thấp một cách đồng đều giữa các vùng vẫn còn là một nhiệm vụ
khó khăn [1]. Đặc biệt trong các giai đoạn phát triển của trẻ, giai đoạn tiểu
học nói chung và giai đoạn tiền dậy thì nói riêng đang chưa nhận được sự
quan tâm đúng mức. Hơn nữa, theo công bố của Qũy Nhi đồng Liên hiệp
Quốc (UNICEF) năm 2011, giai đoạn tiền dậy thì là “cửa sổ” rất tiềm năng để
các can thiệp về y tế có hiệu quả cao và tạo nền tảng tốt cho sức khỏe [2].
Mặc dù vậy, theo kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010 cũng đã cho
thấy ở trẻ 5-10 tuổi, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân lên tới 24,2%, tỉ lệ SDD thể thấp
còi là 23,4%, các tỷ lệ này vẫn nằm trên ngưỡng 20% và được coi là vấn đề
sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng [3]. Mặt khác, ở lứa tuổi này, trẻ cũng đã
bắt đầu có ý thức và khả năng tự chăm sóc bản thân nên sự quan tâm của cha
mẹ bắt đầu ít đi [4]. Bên cạnh đó, tình trạng thừa cân, béo phì và các bệnh
mạn tính liên quan đến dinh dưỡng đang gia tăng tạo nên “gánh nặng kép” về
dinh dưỡng ở nước ta [1].
Một phần quan trọng không thể thiếu trong chăm sóc trẻ độ tuổi tiểu học
chính là chế độ dinh dưỡng. Trẻ có nhu cầu dinh dưỡng rất cao để phục vụ
cho quá trình tăng trưởng và vận động. Đây là những năm quan trọng trong
quá trình phát triển của trẻ, trẻ phát triển nhanh cả về chiều cao và cân nặng
chính vì thế khi chế độ dinh dưỡng không hợp lí sẽ ảnh hưởng đến sự phát
triển của trẻ, trước hết là sự tăng trưởng thể lực và sau là sự phát triển trí tuệ.
Sự thiếu hụt về tăng trưởng thể lực lúc nhỏ rất khó khắc phục, do vậy những


2

đứa trẻ thấp còi sớm trở thành những người trưởng thành thấp còi và kém khả
năng lao động thể lực gây tổn thất lớn về kinh tế. Tình trạng thấp còi ở trẻ nhỏ
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ở tuổi dậy thì và những trẻ còi cọc sẽ có nhiều
khả năng sẽ còi cọc lúc trưởng thành [1]. Học sinh tiểu học là những đối

1.1. Vai trò của dinh dưỡng với sức khỏe con người
Nhu cầu ăn uống là một trong những nhu cầu quan trọng nhất của mọi
cơ thể sống, kể cả con người. Dinh dưỡng là một nhu cầu hàng ngày, một
nhu cầu cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cơ thể sống không thể
thiếu [5].
Ngày nay các công trình nghiên cứu về dinh dưỡng cho thấy rằng cả
thiếu và thừa dinh dưỡng đều dẫn tới bệnh tật. Trước đây, người ta quan niệm
rằng vấn đề dinh dưỡng là không có gì đáng quan tâm ở các nước phát triển,
có mức thu nhập bình quân cao. Tuy nhiên những nghiên cứu dinh dưỡng gần
đây cho thấy dư thừa về dinh dưỡng cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tật và
các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, bệnh ung thư
và bệnh tiểu đường [6],[7].
Ở các nước nghèo và đang phát triển, song song với các bệnh thiếu dinh
dưỡng vẫn còn tồn tại ở một bộ phận khá lớn trong cộng đồng thì các bệnh
liên quan đến thừa dinh dưỡng mà điển hình là thừa cân béo phì đang gia tăng
nhanh chóng đặc biệt ở các vùng đô thị lớn. Ở các nước này tỉ lệ trẻ bị thiếu
cân và thấp còi thường cao tuy nhiên khi điều kiện sống được cải thiện, thu
nhập tăng cao thì những trẻ này rất dễ bị thừa cân, béo phì [6],[8]. Bên cạnh
đó tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng còn khá phổ biến, thiếu máu và thiếu
sắt là một trong những thiếu hụt dinh dưỡng quan trọng ở phụ nữ và trẻ em ở
các nước đang phát triển [9].
Như vậy, cơ thể cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lí để đảm bảo phát
triển khỏe mạnh và phòng chống được bệnh tật [10].


4

1.2. Tình trạng dinh dưỡng
1.2.1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm về cấu trúc,

Suy dinh dưỡng (SDD) protein-năng lượng là tình trạng chậm lớn,
chậm phát triển xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng, thường
kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại tạo điều kiện cho nhiễm
khuẩn phát triển là, nặng thêm tình trạng thiếu dinh dưỡng [10]. Đây là vấn đề
sức khỏe quan trọng và phổ biến nhất của trẻ em trong các nước đang phát
triển như nước ta hiện nay.
• Nguyên nhân của suy dinh dưỡng
Từ lâu người ta đã nhấn mạnh đến hai nguyên nhân trực tiếp cơ bản
dẫn đến SDD trẻ em. Nguyên nhân thứ nhất là chế độ ăn của trẻ không đủ cả
về số lượng, thiếu năng lượng, protein cũng như các chất dinh dưỡng khác
nhau như vitamin và các yếu tố vi lượng. Nguyên nhân trực tiếp thứ hai là các
bệnh nhiễm trùng và kí sinh trùng kèm theo [10]. Nhờ các nghiên cứu dịch tễ
học dinh dưỡng người ta đã tìm ra hàng loạt yếu tố liên quan đến tình trạng
SDD trẻ em ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta. Đó là các yếu tố
về sinh học, di truyền (chủng tộc, dân tộc, tình trạng sức khỏe bệnh tật khi mẹ
mang thai), yếu tố về hành vi, lối sống và bà mẹ trẻ (nuôi con bằng sữa mẹ;
cho con ăn bổ sung, theo dõi, chăm sóc trẻ khi khỏe và khi trẻ ốm…), các yếu
tố về môi trường như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống, tập
quán, môi trường gia đình, nhà trường và yếu tố về loại hình và chất lượng
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên địa bàn [13].
Những trẻ học đường có nguy cơ bị suy dinh dưỡng là: trẻ từ các gia
đình nghèo, có bố hoặc mẹ bị chết hoặc bị bệnh, trẻ thường phải tự lo cho bản
thân mình do bố mẹ đi làm xa, trẻ sống trong vùng bị thiếu ăn, trẻ ăn quá
nhiều quà vặt như kẹo hoặc nước ngọt, thường là những trẻ ở thành thị mà bố
mẹ thường đi làm xa hoặc thường vắng nhà [14].


6

Như vậy, SDD protein-năng lượng thực chất là tình trạng bệnh lí do thiếu

[16],[17]. Đối với SDD thể thấp còi người ta cũng nhận thấy có mối liên quan
giữa thấp còi và thừa cân ở trẻ em [14]. Ở các nước nghèo, số đông trẻ em bị
thấp còi và thiếu cân, nhưng khi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi, chúng
dễ dàng trở nên béo phì, mà chúng ta đều biết phòng chống béo phì ở trẻ em
cũng vất vả không kém phòng chống SDD, thiếu cân [14].
1.2.2.2. Các vấn đề về thừa cân và béo phì
• Định nghĩa về béo phì và thừa cân: Là hiện tượng tích lũy thái quá lipid
trong tổ chức mỡ, có thể cục bộ hay toàn thể. Thừa cân là tình trạng cân nặng
vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao [18].
• Nguyên nhân của thừa cân và béo phì
Có hai nhóm nguyên nhân chính: Béo phì đơn thuần và béo phì bệnh lý.
Béo phì đơn thuầnlà béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng
và béo phì bệnh lí là béo phì có các vấn đề bệnh lí liên quan bao gồm: bệnh lí
nội tiết, bệnh lí do các bệnh ở não, do sử dụng thuốc…
Nguyên nhân béo phì đơn thuần ở trẻ em: 80% có liên quan đến chế độ
ăn, bao gồm: Ăn quá nhiều năng lượng, trẻ em ăn nhiều dầu, mỡ, gạo, tỉ lệ
chất béo trong khẩu phần ăn quá cao. Các thói quen ăn nhanh, ăn thêm bữa
phụ vào buổi tối trước khi đi ngủ, thích ăn các món xào, uống nhiều nước
ngọt. Kèm theo đó là giảm các hoạt động thể lực để tiêu hao năng lượng như:
hoạt động thể thao, nhảy dây, đá cầu. Trẻ thường bị nhốt trong nhà, thiếu sân
chơi, chương trình học quá căng thẳng, xem tivi nhiều, chơi trò chơi điện tử…
• Hậu quả của thừa cân và béo phì
Béo phì ở trẻ em là nguy cơ béo phì ở người lớn, là loại béo phì khó điều
trị ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Béo phì là một bệnh dinh dưỡng đồng thời
là một trong nguy cơ chính của bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch
vành, cao huyết áp và đột quỵ, bệnh đái tháo đường typ II thể không phụ
thuộc insulin. Béo phì còn làm tăng nguy cơ sỏi mật ở mọi lứa tuổi và các


8


tăng trưởng nhanh nhất - không đầy đủ (3 tháng/lần), phương pháp phân tích
không đáp ứng được cho một chuẩn chung, dựa trên một mẫu giới hạn của trẻ
em từ một quốc gia (chủ yếu là trẻ em Mỹ). Các tiêu chuẩn mới xác nhận rằng
trẻ em sinh ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới nếu được nuôi dưỡng hợp lí và
điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng phát triển là như nhau.
Năm 2007, trên cơ sở phân tích những nhược điểm của quần thể tham
chiếu NCHS năm 1977 mà một trong số đó là chỉ số BMI chỉ áp dụng cho trẻ
9 tuổi trở lên và khoảng giới hạn percentile chỉ từ 5-95%. WHO đã thiết lập
chuẩn phát triển tăng trưởng mới cho trẻ từ 5-19 tuổi [19],[20]. Đây là sự
chuyển tiếp từ chuẩn phát triển mới của WHO năm 2006 (dành cho trẻ 0-5
tuổi) với trẻ ở độ tuổi lớn hơn (5-19 tuổi) [20]. Trong đó theo khuyến cáo của
WHO năm 2007, để nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ trong độ tuổi đi
học và tuổi vị thành niên (5-19 tuổi), các chỉ số nhân trắc thường được sử
dụng là cân nặng theo tuổi (weight for age), chiều cao theo tuổi (height of
age) và BMI theo tuổi (BMI for age). Chỉ số chiều cao theo tuổi và BMI theo
tuổi áp dụng cho trẻ 5-19 tuổi. Riêng chỉ số cân nặng theo tuổi chỉ áp dụng
cho trẻ dưới 10 tuổi [21].
1.3.3. Các phương pháp định lượng khác thường sử dụng trong đánh giá
tình trạng dinh dưỡng
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.
- Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng.
- Các xét nghiệm cận lâm sàng (hóa sinh, huyết học, các chất bài tiết).
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do
thiếu hụt dinh dưỡng.
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến TTDD và sức khỏe.


10

11

tế tăng trưởng, tỷ lệ người béo cũng tăng lên cùng với tỷ lệ người gầy giảm
dần. Đối với các nước phát triển, tỷ lệ béo phì cao ở tầng lớp nghèo thu nhập
thấp, nông thôn nhiều hơn thành thị. Đáng chú ý là tình hình béo phì ở trẻ em
không ngừng tăng. Ở Hoa Kỳ, tỉ lệ thừa cân của trẻ em và thanh thiếu niên 524 tuổi Bang Lousiana tăng gấp đôi trong khoảng 1973-1994. Ở Nhật, tỉ lệ
học sinh thừa cân tăng từ 5% đến 10% trong khoảng 1973-1993. Tỉ lệ tăng
cao nhất ở trẻ em học sinh 9-11 tuổi.
1.4.2. Thực trạng dinh dưỡng của trẻ em tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng từ năm 1999 đến năm 2011,
tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm đi một cách rõ rệt [25]. Việt Nam được đánh giá là
quốc gia duy nhất trong khu vực đạt tốc độ giảm SDD nhanh theo tiến độ của
WHO và UNICEF. Tuy vậy, theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2011,
trong năm 2010, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi của nước ta là 17,5% (chỉ tiêu
cân nặng/tuổi). 20/63 tỉnh, thành có mức SDD trẻ em trên 20% (xếp ở mức
cao theo phân loại của WHO). Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi
(SDD thể thấp còi) năm 2010 toàn quốc là 29,3%,trong đó xét theo phân loại
của WHO có tới 31 tỉnh có tỷ lệ trên 30% (mức cao), 2 tỉnh trên 40% (mức rất
cao). Mức giảm trung bình SDD thấp còi trong 15 năm qua (1995-2010) là
1,3%/năm. Tỷ lệ SDD thể gầy còm (chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao) là 7,1%.
SDD trẻ em vẫn còn ở mức cao so với phân loại của WHO và phân bố không
đều giữa các vùng, miền trong cả nước, tập trung chủ yếu ở 3 vùng: Tây
Nguyên, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc, nhất là suy dinh dưỡng thấp còi
(29,3% năm 2010), ảnh hưởng đến chiều cao, tầm vóc của người Việt Nam
[26].
Đặc biệt tình trạng SDD ở lứa tuổi học đường nói chung và lứa tuổi tiểu
học nói riêng hiện đang là một vấn đề nổi cộm. Theo cuộc tổng điều tra dinh
dưỡng năm 2010 của Viện Dinh dưỡng, ở trẻ 5-10 tuổi, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân




13

nhau. Có như vậy bữa ăn mới làm tròn chức năng của nó là cung cấp nguyên
liệu cho mọi hoạt động và sự phát triển của cơ thể. Ở Việt Nam, các số liệu
nghiên cứu trong thập kỷ qua cho tới gần đây cho thấy, bữa ăn của trẻ lứa tuổi
học đường phụ thuộc vào bữa ăn gia đình, thiếu và mất cân đối về giá trị các
chất dinh dưỡng là những yếu tố dẫn đến thiếu các vi chất dinh dưỡng ở trẻ
tuổi học đường. Gần 80% dân số nước ta sống ở nông thôn, nơi chưa có mạng
lưới nhà ăn học đường cho bậc học này. Mặc dù bữa ăn của học sinh nông
thôn hiện nay đã có chiều hướng cải thiện hơn về mặt chất lượng, song nhìn
chung thực phẩm chủ yếu vẫn là gạo, thức ăn động vật còn thấp, đặc biệt
lượng sữa tiêu thụ không đáng kể, lượng rau dao động theo mùa; quả chín tiêu
thụ hàng ngày cho bữa ăn rất ít.
Điều tra khẩu phần ăn của trẻ từ 6-11 tuổi tại 6 tỉnh thành năm 2011
(Nghiên cứu SEANUTS) cho thấy khẩu phần năng lượng đạt khoảng 76%
nhu cầu đề nghị, khẩu phần canxi ở nhóm tuổi 6-9 tuổi đạt 59% nhu cầu đề
nghị và ở nhóm tuổi 9-11 tuổi đạt 45% nhu cầu đề nghị, khẩu phần sắt của
nhóm tuổi 6-9 tuổi đạt 68% nhu cầu đề nghị và nhóm tuổi 9-11 tuổi đạt 54%
nhu cầu đề nghị, khẩu phần vitamin A của nhóm tuổi 6-9 tuổi đạt 54% nhu
cầu đề nghị và nhóm tuổi 9-11 tuổi đạt 43% nhu cầu đề nghị, khẩu phần
vitamin C sau chế biến của nhóm tuổi 6-9 tuổi đạt 61% nhu cầu đề nghị và
nhóm tuổi 9-11 tuổi đạt 49% nhu cầu đề nghị, khẩu phần vitamin D của nhóm
tuổi 6-9 tuổi đạt18% nhu cầu đề nghị và nhóm tuổi 9-11 tuổi đạt 13% nhu cầu
đề nghị [28].
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của
học sinh tiểu học
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tuổi
học đường. Sự phát triển của trẻ em ở lứa tuổi này phản ánh mức sống, tình
trạng kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục.

các phân tích về sử dụng thu nhập ở hộ gia đình cũng cần được quan tâm. Các


15

hộ gia đình nghèo, đặc biệt là hộ nghèo đói lương thực, thực phẩm có tỉ lệ
SDD cao. Yếu tố vùng trong đó có cả yếu tố dân tộc được phân tích cho thấy
ở những vùng khó khăn hay xảy ra thiên tai trẻ em bị SDD nhiều hơn. Tuy
nhiên yếu tố vùng và yếu tố thu nhập thường đi đôi với nhau. Điều này phản
ánh rõ sự phân hóa giữa các vùng kinh tế của nước ta hiện nay. Trình độ văn
hóa bố mẹ có liên quan với tỷ lệ SDD giữa các nhóm trẻ. Con của các gia đình
mà bố mẹ biết chữ có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn gia đình bố mẹ không biết
chữ. Tuy nhiên, khi đưa trình độ văn hóa lên cao dần và phân tích từng bộ số
liệu cho thấy sự khác biệt không lớn về tỉ lệ SDD giữa nhóm gia đình có bố mẹ
có từ 7-10 năm đi học và nhóm gia đình mà bố mẹ có trình độ văn hóa cao hơn.
Điều này có thể giải thích nhóm bố mẹ có trình độ văn hóa cao hơn thường bận
rộn hơn với công việc và ít có thời gian chăm sóc con [33].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status