SKKN áp dụng dạy học STEM chủ đề làm đèn học đa năng tiết kiệm điện môn công nghệ 12 giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học kĩ thuật - Pdf 65

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÁP DỤNG DẠY HỌC STEM CHỦ ĐỀ LÀM ĐÈN HỌC ĐA
NĂNG TIẾT KIỆM ĐIỆN MÔN CÔNG NGHỆ 12 GIÚP
HỌC SINH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT

Người thực hiện: Nguyễn Hữu Hóa
Chức vụ: TPCM
SKKN thuộc môn: Công nghệ CN

THANH HÓA NĂM 2020


MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC………………………………………………………………….. 1
1. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………. 2
1.1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………... 2
1.2.Mục đích nghiên cứu……………………………………………………. 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………... 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….. 3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM….………………………….. 4
2.1. Cơ sở lí luận…………………………………………………………….. 4
2.1.1. Khái niệm về nghiên cứu khoa học………………………………… 4
2.1.2. Khái niệm về giáo dục STEM………………………………….
4

nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh sản phẩm đồng thời là cơ hội lớn cho
sản xuất công nghiệp với trình độ và công nghệ tiên tiến. Yêu cầu đặt ra cho các
quốc gia là cần chuẩn bị gấp nguồn nhân lực trong tương lai có khả năng đối
mặt với những thách thức và nhu cầu của nền kinh tế theo định hướng STEM,
có nền tảng vững chắc để trở thành những công dân số và những người đổi mới
tương lai trong một thế giới phát triển nhanh chóng, và nổ lực tích hợp các
ngành được yêu cầu[4]. Một nền kinh tế thịnh vượng trong thế kỉ 21 sẽ dựa trên
nền tảng của Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học[5].
Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, giáo dục- đào tạo tiếp tục phát triển
mạnh mẽ; giáo dục đang tích cực thực hiện đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số
29-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI “Nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng,… năng lực và kĩ năng thực hành, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích
học tập suốt đời”[2].
Thực hiện chủ trương đổi mới đồng bộ hình thức dạy học, phương pháp
dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, để tăng cường việc gắn liền dạy
học trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống và góp phần hình thành năng lực
tự giải quyết vấn đề của học sinh trung học. Từ năm 2012, Cuộc thi Khoa học kĩ
thuật dành cho học sinh trung học do Bộ GD&ĐT tổ chức dành cho học sinh
trung học đã trở thành điểm sáng tích cực trong giáo dục phát triển năng lực cho
học sinh.
Nghiên cứu khoa học kĩ thuật (KHKT) khuyến khích các em học sinh
(HS) quan tâm đến các vấn đề của cuộc sống, liên hệ kiến thức học được ở
trường phổ thông với thực tế sinh động của thế giới tự nhiên và xã hội, rèn luyện
kĩ năng vận dụng những kiến thức tổng hợp đã học được để giải quyết các vấn
đề thực tiễn, định hướng nghề nghiệp cho các em sau này. Tuy nhiên, nghiên
cứu KHKT của HS tại các trường phổ thông còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các
trường phổ thông đóng trên địa bàn Miền núi trong đó có trường THPT Như
Xuân.
Giáo dục STEM đặt HS trước những vấn đề thực tiễn cần giải quyết, từ

môn Công nghệ 12 tại các lớp 12 trường THPT Như Xuân, huyện Như Xuân.

3


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm về nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học kĩ thuật là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra
hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để
phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội[1].
Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về
lĩnh vực nghiên cứu, có đam mê nghiên cứu, ham thích tìm tòi, khám phá cái
mới và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp phù
hợp từ lúc đang ngồi trên ghế nhà trường.
2.1.2. Khái niệm về giáo dục STEM
STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology
(Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học), thường được
sử dụng khi bàn đến các chính sách phát triển về Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật
và Toán học của mỗi quốc gia[3].
Theo Hiệp hội các giáo viên dạy khoa học quốc gia Mỹ (NSTA) đã đề
xuất ra khái niệm giáo dục STEM với cách định nghĩa ban đầu tạm dịch như
sau: “Giáo dục STEM là một cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong
đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài
học trong thế giới thực, ở đó các học sinh áp dụng các kiến thức trong khoa học,
công nghệ, kỹ thuật và toán vào trong các bối cảnh cụ thể, giúp kết nối giữa
trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển
các năng lực trong lĩnh vực STEM và cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền
kinh tế mới”[6].
Theo mô tả trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 như sau:

2.2. Thực trạng của đề tài
Trường THPT Như Xuân là ngôi trường đóng trên địa bàn huyện Miền
núi cao Như Xuân của tỉnh Thanh Hóa, HS chủ yếu là con em đồng bào dân tộc,
điểm đầu vào rất thấp (chỉ cần không bị điểm liệt). Vì vậy năng lực tự học, tìm
tòi, nghiên cứu KHKT của các em còn nhiều hạn chế và mang tính thụ động.
Hoạt động nghiên cứu KHKT chưa thực sự được các em yêu thích. Có
nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có nguyên nhân là do hoạt động dạy học của
GV chưa lôi cuốn được HS, chưa làm cho các em cảm thấy thích thú, các hoạt
động tìm tòi, nghiên cứu, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn
và hoạt động thực hành còn rất hạn chế.
Bên cạnh đó đa số các em là con em dân tộc, ít được giao lưu học hỏi, các
em còn e ngại trình bày các ý kiến của mình trước đám đông. Giáo viên chỉ mới
chủ trọng cung cấp nội dung kiến thức cho HS, mà chưa quan tâm đến hoạt
động thực hành và hướng dẫn HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề
thực tiễn. Vì vậy GV cần phải thay đổi phương pháp dạy học để lôi cuốn HS vào
môn học, quan trọng hơn là quan tâm đến hoạt động thực hành và hướng dẫn HS
vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Để hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu KHKT thì HS phải tích
cực học tập để lĩnh hội kiến thức, các em phải chủ động tìm tòi, nghiên cứu
những kiến thức liên quan, tự giải quyết vấn đề đặt ra. Dạy học STEM là cách
tốt nhất giúp HS phát triển năng lực nghiên cứu KHKT, tuy nhiên thực tế tại
trường THPT Như Xuân thì giáo dục STEM các giáo viên rất ít sử dụng.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Tìm hiểu mối liên hệ giữa chủ đề với các bài học trong chương trình
môn Công nghệ 12
Tiến hành tìm hiểu, phân tích nội dung chương trình Công nghệ 12, từ đó
đưa ra các bài có nội dung liên quan để xây dựng thành chủ đề: Làm đèn học đa
năng tiết kiệm điện có thể áp dụng giáo dục STEM như sau:
Bảng 1: Mối liên hệ giữa chủ đề với các bài học trong môn Công nghệ 12
TT

phẩm.
Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học
Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế theo các phương pháp
và kĩ thuật dạy học tích cực. Mỗi hoạt động dạy học được thiết kế rõ ràng về
mục đích, nội dung và sản phẩm học tập mà HS phải hoàn thành. Các hoạt động
học đó có thể được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học.
2.3.3. Tổ chức dạy học chủ đề/bài học STEM
2.3.3.1. Tiến trình dạy học chủ đề/bài học STEM[3]
Tiến trình mỗi bài học STEM được thực hiện phỏng theo quy trình kĩ
thuật sau:
Hoạt động 1: Xác định vấn đề
- Mục tiêu: Xác định tiêu chí sản phẩm; phát hiện vấn đề/nhu cầu
- Nội dung: Tìm hiểu về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ; đánh giá về hiện
tượng, sản phẩm, công nghệ…
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của HS: Các mức độ hoàn thành nội dung (Bài
ghi chép thông tin về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ; đánh giá, đặt câu hỏi về
hiện tượng, sản phẩm, công nghệ).
- Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (nội dung, phương
tiện, cách thực hiện, yêu cầu sản phẩm phải hoàn thành); HS (cá nhân hoặc
nhóm) thực hiện nhiện vụ (quan sát thực tế, tài liệu, video); Báo cáo, thảo luận
(thời gian, địa điểm, cách thức); phát hiện/phát biểu vấn đề.
- Đánh giá: GV đánh giá, nhận xét các sản phẩm của HS để định hướng cho
hoạt động tiếp theo của HS.
Hoạt đông 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp
- Mục tiêu: Trang bị cho HS kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu cần đạt của chương
trình giáo dục phổ thông.
- Nội dung: Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, tài liệu, thí nghiệm để tiếp
nhận, hình thành kiến thức mới và đề xuất giải pháp/thiết kế.
6


chế tạo và thử nghiệm, đánh giá.
- Cách thức tổ chức hoạt động: GV giao nhiệm vụ (lựa chọn dụng cụ/thiết bị
thí nghiệm để chế tạo, lắp ráp…); HS thực hành chế tạo, lắp ráp và thử nghiệm;
GV hỗ trợ HS trong quá trình thực hiện.
Hoạt động 5: Chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh
- Mục đích: Trình bày, chia sẻ, đánh giá sản phẩm nghiên cứu.
- Nội dung: Trình bày và thảo luận.
- Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: Dụng cụ/thiết bị/mô hình/đồ
vật…đã chế tạo được và bài trình bày báo cáo.
- Cách thức tổ chức hoạt động: GV giao nhiệm vụ (mô tả rõ yêu cầu và sản
phẩm trình bày); HS báo cáo, thảo luận (bài báo cáo, trình chiếu, video, dụng cụ/
thiết bị/mô hình/đồ vật đã chế tạo…) theo các hình thức phù hợp (trưng bày,
triễn lãm, sân khấu hóa); GV đánh giá, kết luận, cho điểm và định hướng tiếp
tục hoàn thiện.
2.3.3.2. Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề “Làm đèn học đa năng tiết kiệm
điện”
7


Dựa vào tiến trình dạy học STEM ở trên tôi đã thiết kế tiến trình dạy học
chủ đề “Làm đèn học đa năng tiết kiệm điện” như sau:
Hoạt động 1: Xác định yêu cầu làm đèn học đa năng tiết kiệm điện
A, Mục đích: Sau hoạt động này HS có khả năng:
- Nêu được cấu tạo, phân loại, nguyên lí hoạt động và ứng dụng của điôt bán
dẫn.
- Xác định được nhiệm vụ là chế tạo đèn học tiết kiệm điện tích hợp sạc điện
thoại với các yêu cầu cụ thể.
B, Nội dung
- GV mở đầu bằng nhu cầu tiết kiệm điện năng. Vậy làm thế nào để tiết kiệm
điện? Như Xuân là huyện Miền núi thường xuyên bị mất điện lưới ảnh hưởng

sử dụng các thiết bị tiêu thụ ít điện năng, thiết bị này có thể hoạt động được cả
8


khi mất điện lưới.
GV giới thiệu chủ đề: Làm đèn học đa năng tiết kiệm điện.
2, Tìm hiểu thông số kĩ thuật của sản phẩm
- GV đưa ra các câu hỏi. Các nhóm HS tìm kiếm thông tin, thảo luận để trả lời.
Sau thời gian 5 phút đại diện các nhóm báo cáo.
- Khi HS báo cáo, GV và HS các nhóm khác phản hồi. GV và HS thống nhất
các yêu cầu của sản phẩm.
3, Thống nhất tiến trình dự án và tiêu chí đánh giá
- GV đặt vấn đề: Để hoàn thành dự án này trong 4 tuần (4 tiết) thì cần thực
hiện theo tiến trình nào?
- GV và HS thống nhất kế hoạch dự án
TT
Nội dung
1
- Nhận nhiệm vụ
- Thống nhất tiến trình
và tiêu chí đánh giá
2
Tìm hiểu kiến thức, kĩ
năng liên quan
3

Báo cáo kiến thức, kĩ
năng liên quan
Lập phương án thiết kế


phương án thiết kế
ở nhà (1 tuần)
7 Báo cáo sản phẩm
HS báo cáo trên lớp
(1 tiết)
- GV đặt vấn đề: Làm thế nào để đánh giá công bằng giữa các nhóm?
- GV và HS thống nhất các tiêu chí để đánh giá.
4, Giao nhiệm vụ tìm kiếm kiến thức, kĩ năng và lập bản thiết kế sản
phẩm - GV yêu cầu HS cần xem nội dung các bài học
Bài 7: Khái niệm về mạch điện tử -Chỉnh lưu - Nguồn một chiều.
Bài 9: Thiết kế mạch điện tử đơn giản.
Bài 10: Thực hành mạch nguồn điện một chiều.
Bài 11: Lắp mạch nguồn chỉnh lưu cầu có biến áp nguồn và tụ lọc.
- Các nhóm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu kiến thức, kĩ năng cần thiết và lập
bản thiết kế sản phẩm trong vòng 1 tuần với các yêu cầu:
(1) Các em tự nghiên cứu bài học và trả lời các câu hỏi. Phần trả lời câu hỏi
nộp lại cho GV trước buổi báo cáo.
9


(2) Thảo luận nhóm để lập bản thiết kế sản phẩm với các yêu cầu
Bài trình chiếu Powerpoint về bản thiết kế sản phẩm gồm các nội dung
Sơ đồ mạch điện kín (hình
vẽ). Bản vẽ thiết kế sản phẩm.
Linh kiện, thiết bị, vật liệu cần dùng.
Nguyên lí hoạt động của sản phẩm.
(3) Các nhóm chuẩn bị phần trình bày trong 5 phút, gồm các nội
dung Nguyên vật liệu.
Cấu tạo, sơ đồ mạch điện.
Nguyên lí hoạt động của sản phẩm.

- GV và HS nhận xét, phản biện và đặt câu hỏi.
- GV sử dụng phiếu đánh giá để đánh giá phần trình bày của các nhóm HS.
Tổng kết
- GV chốt các kiến thức quan trọng cần lưu ý.
10


- GV yêu cầu HS đánh giá các nhóm trên các tiêu chí đã thống nhất.
- GV thực hiện bản đánh giá
riêng: Nội dung
Hình thức bài báo cáo
Kĩ năng thuyết trình
- GV yêu cầu HS tổng hợp các ý kiến của GV và của các nhóm, điều chỉnh
bản thiết kế và lựa chọn phương án thiết kế tối ưu.
- GV thông báo nhiệm vụ hoạt động học tập tiếp theo: thi công và báo cáo sản
phẩm của nhóm.
Hoạt động 3: Chế tạo đèn học đa năng tiết kiệm điện
A, Mục đích
- Chế tạo được đèn học đa năng tiết kiệm điện dựa trên phương án đã lựa chọn.
- Thử nghiệm sản phẩm chế tạo được và tiến hành điều chỉnh cần thiết.
B, Nội dung
- HS chế tạo đèn học đa năng tiết kiệm điện tại gia đình theo các nhóm.
- GV theo dõi và hỗ trợ HS khi các em gặp khó khăn.
C, Dự kiến sản phẩm hoạt động của HS
- Đèn học đa năng tiết kiệm điện.
- Bản thiết kế sau điều chỉnh nếu có.
- Bài báo cáo quá trình chế tạo đèn học đa năng tiết kiệm điện.
- Thao tác thực hiện sản phẩm (các clip, ảnh…).
D, Cách thức tổ chức hoạt động
- GV lấy số điện thoại của nhóm trưởng và thư kí của các nhóm để thuận tiện

- GV và HS ghi nhận vào phiếu đánh giá sản phẩm.
Tổng kết, đánh giá dự án
- HS và GV nhận xét về sản phẩm của các nhóm.
- GV nhận xét và đánh giá chung về dự án.
- GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành hồ sơ dự án.
2.3.3.3. Thiết kế giáo án dạy STEM chủ đề “Làm đèn học đa năng tiết kiệm
điện”
1, Tên chủ đề: Làm đèn học đa năng tiết kiệm điện (4 tuần); Công nghệ 12
2, Mô tả chủ đề
Trong thời gian qua đã có nhiều cuộc vận động sử dụng hiệu quả và tiết
kiệm điện năng để góp phần bảo vệ môi trường. Có nhiều cách để sử dụng tiết
kiệm điện như sử dụng bóng đèn LED thay thế bóng đèn sợ đốt; đồng thời sản
phẩm phải có tính đa năng, tiện lợi, an toàn phù hợp với các yêu cầu sử dụng.
Như Xuân là huyện Miền núi chưa có đường dây truyền tải điện riêng nên
thường gặp nhiều sự cố về điện. Những lần mất điện vào buổi tối gây khó khăn
cho sinh hoạt của người dân và đặc biệt là ảnh hưởng đến việc học tập của học
sinh. Bên cạnh đó đất nước ta đang trong quá trình CNH- HĐH nên vấn đề về ô
nhiễm môi trường do rác thải điện tử gây ra đang làm đau đầu các nhà quản lí.
Theo cơ quan môi trường châu Âu (EEA), lượng rác điện tử thải ra trên thế giới
khoảng 40 triệu tấn/năm và rác thải này tăng nhanh gấp 3 lần so với các loại rác
thải khác. Do đó việc tái sử dụng và tái chế rác thải điện tử là cần thiết. Trong
chủ đề này sẽ thiết kế đèn học đa năng tiết kiệm điện từ vật liệu tái chế.
Địa điểm tổ chức: Trên lớp học.
Môn học chính: Công nghệ 12
- Bài 7: Khái niệm về mạch điện tử - Chỉnh lưu - Nguồn một chiều.
- Bài 9: Thiết kế mạch điện tử đơn giản.
- Bài 10: Thực hành mạch nguồn điện một chiều.
- Bài 11: Lắp mạch nguồn chỉnh lưu cầu có biến áp nguồn và tụ lọc.
Kiến thức nền cần tìm hiểu của chủ đề:
- Công dụng của điôt.

an toàn, tiết kiệm điện và bảo vệ môi trường.
c, Phát triển năng lực
- Năng lực khoa học tự nhiên.
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực giao tiếp và làm việc nhóm.
4, Thiết bị
Đèn LED, biến áp 220V- 6V, điôt 1N4007, tụ điện 1000µF-25V, Cổng
USB và một số phụ kiện khác (các thiết bị này có thể lấy từ các đồ điện tử hư
hỏng như đèn pin, trong các mạch điện tử…).
5, Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Xác định yêu cầu làm đèn học đa năng tiết kiệm điện
(Thực hiện trên lớp, thời gian 45 phút)
A, Mục đích: Sau hoạt động này HS có khả năng:
- Nêu được cấu tạo, phân loại, nguyên lí hoạt động và ứng dụng của điôt bán
dẫn.
- Xác định được nhiệm vụ là chế tạo đèn học tiết kiệm điện tích hợp sạc điện
thoại với các yêu cầu:
(1) Đèn tiêu thụ với công suất nhỏ.
(2) Đèn học hoạt động được cả khi có hoặc mất điện lưới, có độ sáng đảm
bảo cho học tập và tích hợp cổng sạc điện thoại có điện áp 5V.
(3) Sử dụng thiết bị và các linh kiện điện tử đơn giản, an toàn, có thể sử
dụng các loại vật liệu tái chế.
(4) Đèn có hình thức đẹp, hoạt động an toàn, ổn định, thuận tiện trong
tháo lắp và sửa chữa.
B, Nội dung
13


- GV mở đầu bằng nhu cầu tiết kiệm điện năng. Vậy làm thế nào để tiết kiệm
điện? Như Xuân là huyện Miền núi thường xuyên bị mất điện lưới ảnh hưởng

GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm từ 8-10 HS. Yêu cầu mỗi nhóm
bầu nhóm trưởng, thư kí và đặt tên nhóm mình.
1, Đặt vấn đề; giao nhiệm vụ học tập (5 phút)
- GV chuẩn bị một số hình ảnh hoặc video cho HS xem về việc cần thiết phải
tiết kiệm điện, sự cần thiết của việc tái chế rác điện tử.
- GV đặt vấn đề: làm thế nào để tiết kiệm điện năng? Làm thế nào các em có
thể học tập khi mất điện lưới vào buổi tối mà không phải dùng máy phát điện?
- HS thảo luận, đại diện các nhóm trình bày phương án. GV gợi ý phương án:
sử dụng các thiết bị tiêu thụ ít điện năng, thiết bị này có thể hoạt động được cả
khi mất điện lưới.
GV giới thiệu chủ đề: Làm đèn học đa năng tiết kiệm điện.
2, Tìm hiểu thông số kĩ thuật của sản phẩm (15 phút)
- GV đưa ra các câu hỏi. Các nhóm HS tìm kiếm thông tin, thảo luận để trả lời.
14


Sau thời gian 5 phút đại diện các nhóm báo cáo.
Câu hỏi
Câu 1: Chúng ta thường dùng loại đèn chiếu sáng nào để tiết kiệm điện năng
nhất? Nêu công suât, điện áp định mức, nguồn điện đèn sử dụng?
Câu 2: Nguồn điện vào và nguồn điện ra của cục sạc điện thoại là loài gì?
Có điện áp là bao nhiêu? Và có những yêu cầu gì?
Câu 3: Để biến đổi dòng điện xoay chiều thành dòng một chiều cần sử dụng
linh kiện nào? Vẽ kí hiệu linh kiện đó.
Câu 4: Để sạc được điện thoại chúng ta cần có thêm bộ phận nào?
- Khi HS báo cáo, GV và HS các nhóm khác phản hồi. GV và HS thống nhất
các yêu cầu của sản phẩm.
(1) Đèn tiêu thụ công suất nhỏ.
(2) Đèn học hoạt động được cả khi có hoặc mất điện lưới, có độ sáng
đảm bảo cho học tập và tích hợp cổng sạc điện thoại có điện áp 5V.

kế
sản phẩm
lớp
6 Làm sản phẩm theo phương
HS làm việc theo
án thiết kế
nhóm ở nhà
7 Báo cáo sản phẩm
HS báo cáo trên
lớp
- GV đặt vấn đề: Làm thế nào để đánh giá công bằng giữa các nhóm?
- GV và HS thống nhất các tiêu chí để đánh giá và thang điểm (phụ lục 2)
4, Giao nhiệm vụ tìm kiếm kiến thức, kĩ năng và lập bản thiết kế sản phẩm
(10 phút)
15


- GV yêu cầu HS cần xem nội dung các bài học
Bài 7: Khái niệm về mạch điện tử - Chỉnh lưu - Nguồn một chiều.
Bài 9: Thiết kế mạch điện tử đơn giản.
Bài 10: Thực hành mạch nguồn điện một chiều.
Bài 11: Lắp mạch nguồn chỉnh lưu cầu có biến áp nguồn và tụ lọc.
- Các nhóm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu kiến thức, kĩ năng cần thiết và lập
bản thiết kế sản phẩm trong vòng 1 tuần với các yêu cầu:
(1) Các em tự nghiên cứu bài học và trả lời các câu hỏi. Phần trả lời câu hỏi
nộp lại cho GV trước buổi báo cáo.
(2) Thảo luận nhóm để lập bản thiết kế sản phẩm với các yêu cầu
Bài trình chiếu Powerpoint về bản thiết kế sản phẩm gồm các nội dung
Sơ đồ mạch điện kín (hình vẽ).
Bản vẽ thiết kế sản phẩm.

Thời gian báo cáo của mỗi nhóm.
16


Thời gian đặt câu hỏi và trao đổi.
Trong khi nhóm bạn báo cáo, mỗi HS ghi chép ý kiến nhận xét và đặt
câu hỏi cho nhóm báo cáo.
- GV nhắc lại về các tiêu chí đánh giá cho báo cáo bản thiết kế (GV trình chiếu
bảng phụ lục 1)
Báo cáo (30 phút)
- Các nhóm HS báo cáo, ghi chép và trả lời câu hỏi phản biện.
- GV và HS nhận xét, phản biện và đặt câu hỏi.
- GV sử dụng phiếu đánh giá để đánh giá phần trình bày của các nhóm HS.
Tổng kết (10 phút)
- GV chốt các kiến thức quan trọng cần lưu ý.
- GV yêu cầu HS đánh giá các nhóm trên các tiêu chí đã thống nhất.
- GV thực hiện bản đánh giá
riêng: Nội dung
Hình thức bài báo cáo
Kĩ năng thuyết trình
- GV yêu cầu HS tổng hợp các ý kiến của GV và của các nhóm, điều chỉnh
bản thiết kế và lựa chọn phương án thiết kế tối ưu.
- GV thông báo nhiệm vụ hoạt động học tập tiếp theo: thi công và báo cáo sản
phẩm của nhóm.
Hoạt động 3: Chế tạo đèn học đa năng tiết kiệm điện (HS thực hiện ở nhà,
thời gian 1 tuần)
A, Mục đích
- Chế tạo được đèn học đa năng tiết kiệm điện dựa trên phương án đã lựa chọn.
- Thử nghiệm sản phẩm chế tạo được và tiến hành điều chỉnh cần thiết.
B, Nội dung

- Tiến trình chế tạo sản phẩm.
- Kết quả các lần thử nghiệm.
- Phương án thiết kế cuối cùng.
- Cách sử dụng đèn học đa năng tiết kiệm điện.
Thử nghiệm sản phẩm trên lớp học (20 phút)
- GV xem mạch điện lắp ráp của sản phẩm.
- HS tiến hành cấp điện cho sản phẩm.
- Kiểm tra điện áp ra ở cổng sạc USB và tiến hành sạc thử cho điện thoại.
- Đánh giá hình thức bên ngoài của sản phẩm.
- GV và HS ghi nhận vào phiếu đánh giá sản phẩm.
Tổng kết, đánh giá dự án (5 phút)
- HS và GV nhận xét về sản phẩm của các nhóm.
- GV nhận xét và đánh giá chung về dự án.
Kiến thức, kĩ năng liên quan đến dự
án. Quá trình thiết kế và chế tạo sản
phẩm. Kĩ năng làm việc theo nhóm.
Kĩ năng trình bày, báo cáo, trả lời câu hỏi.
- GV yêu cầu các nhóm về hoàn thành hồ sơ dự án.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Niềm vui, hứng thú của các em học sinh được tôi nhận thấy qua chủ đề
học tập được tổ chức, các em hào hứng và nhiệt tình tham gia thực hiện các chủ
đề học tập. Các nhiệm vụ học tập không còn mang tính ép buộc và khô khan nữa
mà đã trở thành những dự án, những đề tài gắn với thực tiễn được các em đón
nhận một cách đam mê, thích thú và hoàn thành một cách say mê.
Trong quá trình thực hiện chủ đề học tập, các năng lực của học sinh được
khẳng định đặc biệt là năng lực nghiên cứu KHKT. Các em đã hình thành được các
ý tưởng về các dự án KHKT, các em đã biết tự lập kế hoạch, biết hợp tác cùng nhau
thực hiện công việc, biết tìm tòi thông tin, nghiên cứu tài liệu để giải quyết những
vấn đề liên quan đến dự án. Các em đã ý thức được nhiệm vụ của mình và hoàn
thành công việc của mình, của nhóm đúng tín độ. Các em chủ động nhiệt tình thực

3.1. Kết luận
Giáo dục STEM đề cao một hình thức học tập mới cho người học, đó là
hình thức học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò nhà phát minh, người học
phải hiểu được các kiến thức được trang bị, phải biết cách mở rộng kiến thức,
phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn
đề mà người học đang phải giải quyết
Qua mỗi chủ đề dạy học STEM, các em học sinh đã hình thành và phát
triển năng lực giải quyết vấn đề. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học sinh
được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến
các kiến thức khoa học. Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên
cứu những kiến thức thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề và sử dụng
chúng để giải quyết vấn đề đặt ra.
Khi áp dụng giáo dục STEM học sinh đã được tiếp cận kiến thức liên môn
và thông qua thực hành, ứng dụng. Qua đó, học sinh vừa học được kiến thức
khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn từ đó giúp các
em hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu KHKT. Giáo dục STEM đã phá
đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực
làm việc trong môi trường có tính sáng tạo cao với những công việc đòi hỏi trí
óc cao.
Khi đề tài được áp dụng ở trường THPT Như Xuân; một ngôi trường mà
trình độ và khả năng sử dụng máy tính, máy chiếu của các em học sinh còn
nhiều hạn chế, nhưng các em học sinh vẫn có thể làm việc tích cực để hoàn
thành tốt dự án và đã chế tạo được các sản phẩm để dự thi Cuộc thi KHKT hàng
năm càng chứng tỏ tính khả thi của đề tài khi áp dụng ở các trường khác. Đồng
thời có thể áp dụng dạy học STEM ở những chủ đề khác trong chương trình
Công nghệ phổ thông.
3.2. Kiến nghị và đề xuất
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi có có một số kiến nghị
và đề xuất như sau:
Để nâng cao chất lượng dạy học STEM thì học sinh cần được trang bị các


TÀI LIỆU THAM KHẢO
/>2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (2013).
3. Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên về xây dựng chủ đề giáo dục
STEM trong giáo dục trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019.
4. Khair bin Mohamad Yusof, 2017.
5. Marginson S., Tytler R., Freeman B., 2013.
6. Tsupros, N., Kohler, R., and Hallinen, J. (2009). STEM education: A project
to identify the missing components, Intermediate Unit 1 and Carnegie Mellon,
Pennsylvania.
1.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status