A. PHẦN MỞ ĐẦU
Phật giáo được khởi nguồn từ Ấn Độ, sau đó truyền qua Trung Quốc –
một đất nước phồn thịnh, đất rộng, người đông với một nền văn minh cổ xưa từ
thời nhà Hạ, Ân, Chu tới Tiền Hán. Song phải đến thời Hậu Hán, Phật giáo mới
chính thức được du nhập miền đất này. Nhờ nguồn giáo lý cao diệu của mình,
Phật giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nếp sống, tình cảm cũng như tư tưởng của
người dân Trung Quốc. Chẳng bao lâu, Phật giáo đó nhanh chóng chiếm được
địa vị của Nho giáo và Đạo giáo. Cho tới thời nhà Đường, Phật giáo trở thành
tôn giáo trọng yếu nhất của Trung Quốc.
Sau khi được du nhập, Phật giáo Trung Quốc không chỉ bó hẹp phạm vi
phát triển trong nước mà còn truyền bá ra bên ngoài theo các ngả khác nhau.
Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Triều Tiên, Phật giáo Nhật Bản ít nhiều đều chịu
ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa
phương đông thì “Phật giáo Trung Quốc là một kho tàng phong phú nhất của
nền tư tưởng Á Đông. Muốn khảo cứu văn hóa Á Đông, phải tìm hiểu Phật giáo
Trung Quốc bởi chính Phật giáo nói chung và Phật giáo Trung Quốc nói riêng
là tinh túy của nền văn hóa Á Đông”. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu,
học tập chuyên đề Phật giáo Trung Quốc là một việc có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn.
Thông thường khi nói tới đạo Phật là nói tới giáo chủ, giáo lý và giáo
đoàn. Giáo đoàn Phật giáo có thể được chia theo địa lý: hình thành phái Nam
truyền và Bắc truyền. Giáo đoàn Phật giáo cũng có thể được chia theo giáo lý
đạo Phật: phái Tiểu thừa và phái Đạo thừa. Quá trình phát triển của giáo đoàn
Phật giáo được gắn liền với sự phát triển của giáo lý đạo Phật. Các trường phái
khai thác tư tưởng của giáo chủ ở mức độ khác nhau sẽ có giáo lý khác nhau.
Càng về sau này, giáo đoàn Phật giáo càng phong phú và có ý nghĩa chính trị
hơn. Vấn đề đặt ra là vậy giáo đoàn Phật giáo Trung Quốc đó có quá trình hình
thành, phát triển như thế nào trong thời cổ trung đại? Đó chính là động lực viết
nên đề tài “Sự hình thành và phát triển của Phật giáo Trung Quốc từ thời
1
nằm mơ thấy một con voi trắng dùng vòi dâng lên cho bà một bông sen trắng,
đặt hẳn vào lòng bà. Sau đó bà đã sinh được một hoàng tử ở Lum - bi - ni.
2
Hoàng tử vừa mới sinh ra đã đi được 7 bước, mỗi bước đều nở hoa sen. Vị
hoàng tử kỳ lạ ấy là Cau-ta-ma-xi-da-ta (Gautama Seddhartha: Tất đạt đà), sau
này trở thành người sáng tạo ra đạo Phật và được gọi là vị thánh của dân tộc
Swka (Thích ca mâu ni)
Xi-da-ta thông minh hiếu học, tri thức thâm uyên, lại rất giỏi cưỡi ngựa
bắn cung. Song hoàng tử lại là người đa sầu đa cảm và rất từ thiện. Một hôm,
Hoàng tử đi xe ngựa ra ngoài thành chơi trông thấy một ông già gù, quần áo lam
lũ, chống gậy đi lại một cách khó khăn lúc nào cũng chỉ chực ngã xuống. Một lát
sau, Hoàng tử lại gặp một người gầy như que củi đang ngồi rên trên một tảng đá,
tiếng rên đau đớn khiến người nghe tan nát cõi lòng. Tiếp đó, Hoàng tử lại gặp
một xác người nằm bên vệ đường… Gặp những cảnh thương tâm đó, Hoàng tử
Xi-đa-ta ngẩn ngơ cả người, lấy hai tay ôm mặt và bảo người xà ích: "Về ngay
thôi, nhanh lên". Người xà ích đánh xe quay về, buồn rầu thanh: "Đó là con
đường của một đời người".
Câu nói ấy của người xà ích làm cho Hoàng tử trầm tư. Sinh, lão, bệnh, tử
đó là con đường mà một đời người phải trải qua đó ư! Không kể là người sang
hay kẻ hèn, chẳng ai thoát khỏi con đường này ư? Làm cách nào để con người
được "giải thoát", được cứu ra khỏi con đường đau khổ đó? Hoàng tử đã đọc
biết bao nhiêu kinh Vê-đa, mời biết bao thầy thuộc đạo Bà-la-môn giảng cho
song đều không tìm thấy câu trả lời. Từ đó, Hoàng tử Xi-đa-ta nảy ra ý định xuất
gia tu hành, hy vọng tự tìm ra lời giải.
Vua Tịnh Phạn nghe nói Hoàng tử muốn đi tu giật mình vội cưới cho
Hoàng tử một công chúa xinh đẹp của Vương quốc láng giềng, hòng đánh tan ý
định tu hành của Hoàng tử. Năm Xi-đa-ta 29 tuổi, Công chúa sinh được một
người con trai là Rô-hao-đô, Xi-đa-ta cho rằng vương vị đã có người nối dõi. Và
Phật đà đi truyền đạo ở mọi nơi, dấu tích in khắp hai bờ sông Hằng.
Những năm cuối đời ông chỉ đi lại trong vùng giữa thành Vương xá và Xá vệ.
Ông đưa ra mục tiêu cơ bản cho mọi người, tức là đạt đến độ hạnh phúc nhất
cho người ta là thoát khỏi mọi dục vọng, khi đó con người đạt đến sự viên mãn
về tinh thần và linh hồn. Học thuyết của ông đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi
tầng lớp xã hội, bản thân ông được toàn ấn Độ kính trọng.
4
Để phổ độ chúng sinh, Phật đà đã không mệt mỏi vân du truyền đạo khắp
mọi nơi trong suốt 45 năm. Ngày 15/2/485 TCN, ông dẫn các đệ tử đến Cô-xưna-rô, lúc này ông đã là một ông già 80 tuổi. Con người luôn kêu gọi mọi người
bình đẳng, yêu hòa bình, từ bi bác ái đã không còn đi nổi nữa. Ông nằm nghiêng
dưới hai gốc cây Bô-rô, lấy tay phải gối đầu, đầu ở hướng Bắc, chân ở hướng
Nam, lưng hướng Đông, mặt hướng Tây, lặng lẽ rời khỏi thế gian. Trăm họ đổ
về đây tưởng niệm, họ phủ lên mình ông những bó hoa tươi và các loại hương
liệu. Họ cúng ông 12 con vật: chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà,
chó, lợn. Bảy ngày sau thi thể ông đươc hỏa táng. Quốc vương của 8 nước yêu
cầu được chia Xá lị Phật (Tro cốt) xây tháp để cúng. Xá lỵ Phật được chia thành
9 phần và nơi hỏa táng Đức Phật là nơi được xây tháp đầu tiên trong 9 tháp xá lị.
Vào thế kỷ thứ 3 TCN, dưới triều đại Khổng Tước của Ấn Độ, vua A-uy
lấy đạo Phật làm quốc giáo. Từ đó đạo Phật bắt đầu được truyền bá rộng khắp
sang các nước Đông Nam Á, Trung Á và Trung Quốc. Ngày nay Phật giáo đã
trở thành 1 trong 3 tôn giáo lớn trên Thế Giới.
2. Phật giáo cổ trung đại Trung Quốc.
Như trên đã nói Phật giáo được sinh ra ở Ấn Độ. Trong quá trình trưởng
thành đã như 2 thân cây lớn: Một phát triển về hướng Nam tức là Phật giáo Nam
truyền, một phát triển về hướng Bắc tức là Phật giáo Bắc truyền.
Nói đến Bắc truyền Phật giáo, trước hết phải kể tới quốc độ lớn nhất và có
ảnh hưởng quyết định đến những nước xung quanh đó là Trung Quốc. Đó cũng
chính là dòng Đại Thừa Phật Giáo.
Trung Quốc. Vua Hán Minh Đế truyền cho xây dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật
và mời hai ngài ở đó để dịch kinh, truyền đạo. Vua Hán Minh Đế cũng sai thợ
vẽ tượng Thích Tôn do ông Thái Hâm đem về để thờ ở đài "Thanh Lương".
II. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo Trung Quốc từ thời
Hán đến thời Đường.
1. Thời kỳ sơ khai của Phật Giáo nhà Hán.
Sau khi đến Trung Quốc, hai vị sư Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan
chuyên về công việc phiên dịch Kinh điển. Hai người đã phiên dịch bộ Kinh
điển đầu tiên tại chùa Bạch Mã - chùa Phật giáo đầu tiên trên đất Trung Quốc.
Bộ kinh đó là kinh "Tứ thập nhị chương". Riêng ngài Trúc Pháp Lan sau đó còn
6
dịch được một số bộ kinh như "Thập địa đoạn kết tinh" 8 quyển, "Pháp Hải tạng
kinh" 1 quyển, "Phật bản hạnh kinh" 5 quyển, "Phật bản sinh kinh" 1 quyển và
"Nhị bách lục thập giới hợp dị" 2 quyển... dần dần, Phật giáo được triều đình
Trung Quốc thừa nhận, nhà vua cho phép xây chùa, dịch kinh và truyền đạo.
Lúc này các nhà truyền đạo từ Tây Vực kéo sang Trung Quốc bắt đầu
đông dần lên. Trong số đó các bậc nổi tiếng như ngài An Thế Cao, ngài Chi Câu
La Sấm. An Thế Cao vốn là Thái tử của vua An Tức. Sau khi xuất gia, ngài đã
chuyên chú học kinh, luận, thông hiểu phép thiền quán. Niên hiệu Kiến Xương
năm đầu 147 đời vua Hoàn Đế, ngài tới đất Lạc Dương tỉnh Hà Nam. Từ đó về
sau trong khoảng hơn 20 năm, Ngài chuyên lo công việc phiên dịch kinh điển.
Những kinh điển Ngài đã dịch sang chữ Hán có tất cả 34 bộ gồm 40 quyển.
Ngài Chi Câu La Sấm là người nước Đại Nhục Chi, tới Trung Quốc vào
khoảng niên hiệu Quang Hòa (178 - 183) và Trung Bình (184-189) đời vua Linh
Đế. Trong khoảng 12 năm, Ngài đã phiên dịch sang chữ Hán được những bộ
kinh điển Đại Thừa như: "Kinh thư Lăng Nghiêm" 2 quyển, "Kinh ban chu tam
muội" 1 quyển, "Kinh vô lương thanh tịnh Bình Đẳng Giáp". Tất cả kinh điển
Ngài Chi Câu La Sấm dịch là 10 bộ gồm 20 quyển. Có thể nói rằng: Sự nghiệp
điển Trung Quốc.
Có thể kết luận rằng Phật giáo Trung Quốc thời kỳ du nhập chỉ lấy việc
phiên dịch kinh điển và truyền bá kinh điển làm chính. Sự truyền bá gáo lý cũng
đã phát triển rộng rãi đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của Phật giáo
thời kỳ tiếp theo. Kinh điển từ chữ Phạn dịch sang chữ Hán trong thời kỳ sơ khai
đã lên đến 300 quyển.
Phải từ sau thời kỳ du nhập thì giáo đoàn Phật giáo Trung Quốc mới thể
hiện rõ quá trình phát triển của nó. Trên nền tảng chung ấy em chia ra thành bốn
thời kỳ tiêu biểu.
2. Bốn thời kỳ tiêu biểu cho sự hình thành và phát triển của Phật giáo
Trung Quốc
a. Thời Tấn (265 - 317)
Từ khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc đến thời đại Tây Tấn đã có hơn
300 năm nên Phật giáo đã được phổ cập rộng rãi. Vua Huệ Đế cho dựng chùa
Hưng Thành ở Lạc Dương, đặt tiệc trai cúng dàng 100 vị tăng. Còn vua Mẫn Đế
dựng chùa Linh Thông và Bạch Mã ở kinh thành Tràng An, hết sức bảo hộ Phật
8
giáo vào thời Tây Tấn, số chùa ở Trung Quốc có 108 chùa, số tăng ni có hơn
3.700 người. Tuy vậy trạng thái Phật giáo thời Tây Tấn cũng không ngoài công
việc phiên dịch kinh điển mà người dịch kinh điển tiêu biểu là Đàm Ma La Sát
và Trúc Pháp Hộ.
Đến thời Đông Tấn, ngài Cưu Ma La Thập tiếp nối sự nghiệp hoằng
dương chính pháp của các bậc tiền bối và đưa Phật giáo Trung Quốc đến một vị
trí vô cùng rực rỡ. Trong thời Đông Tấn, ngoài việc dịch kinh điển ra đã bắt đầu
có sự hình thành tổ chức giáo đoàn Phật giáo.
Giáo đoàn Phật giáo ấn Độ có chứng cứ, đó là Tỳ khiêu, Tỳ khiêu ni, Ưu
bà tắc, Ưu bà di, Tỳ khiêu và Tỳ khiêu ni thuộc phía xuất gia. Còn Ưu bà tắc,
Ưu bà di thuộc tại phía tại gia. Vào thời Đông Tấn, số tăng ni ở Trung Quốc đã