Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - Pdf 65

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
------------------------

Mã SKKN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4

Giáo viên: Vũ Thị Thảo Giang
Môn : Tập làm văn
Cấp học : Tiểu học

NĂM HỌC 2018 - 2019


Mục lục

PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ.....................................................................................2
1.1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................2
1.3. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................3
1.4. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................3
1.5. Nội dung nghiên cứu...................................................................................3
PHẦN 2 : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.....................................................................4
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN..........................................................................................4
2.2. THỰC TRẠNG............................................................................................4
2.3. BIỆN PHÁP..................................................................................................6
2.3.1.Tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh................................................6
2.3.2. Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả....................................7
2.3.3. Mở rộng vốn từ ngữ và lựa chọn từ ngữ miêu tả....................................9

càng khó hơn nhiều. Để dạy tốt phân môn này, đòi hỏi người giáo viên phải luôn
tìm tòi phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tổ chức hướng dẫn các hoạt động
linh hoạt nhằm kích thích các em hứng thú học tập, lĩnh hội được kiến thức có
hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế như vậy, là giáo viên đứng lớp, tôi luôn không ngừng
nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học sao
cho giảng dạy đạt hiệu quả. Vậy làm thế nào để dạy tốt phân môn Tập làm văn
nhằm góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt? Vì vậy tôi đã chọn nghiên
cứu đề tài : “Biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4”

1.2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu nguyên nhân khiến học sinh nhầm lẫn giữa miêu tả và kể lại.
- Tìm hiểu nguyên nhân khiến học sinh chưa biết cách diễn đạt suy nghĩ
của mình, những điều mà mình quan sát được thành câu văn hay, đoạn văn hay.
2


- Tìm ra phương pháp để giúp học sinh biết cách quan sát, miêu tả sao cho
với bất kì sự vật nào thì học sinh cũng có thể miêu tả được.
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập làm văn ở lớp 4 để
học sinh phát triển được tư duy, nâng cao khả năng mở rộng, suy nghĩ để viết
được những câu văn hay.

1.3. Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu, ghi chép lại những lỗi sai mà học sinh hay mắc phải khi viết bài
văn miêu tả.
- Xây dựng các tiết học Tiếng Việt ( trong đó có các phân môn Tập đọc,
Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện ) để nâng cào vốn từ, cách
đặt câu hay cho học sinh.
- Cung cấp những tư liệu thực tế cho học sinh để các em có nhiều cơ hội

giúp cho các em học tốt các môn học khác. Vậy dạy phân môn Tập làm văn là
dạy các kiến thức và kĩ năng giúp cho học sinh tạo lập và sản sinh ngôn bản,
đồng thời giáo dục cho các em tình cảm trong sáng, rèn luyện khả năng giao tiếp
góp phần giữ gìn và phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt.
Mục đích của việc dạy văn miêu tả ở Tiểu học là giúp cho các em học sinh
có thói quen quan sát, phát hiện những điều mới, thú vị về thế giới xung quanh,
biết cảm nhận cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ, cuộc sống, biết rung động
trước đối tượng được miêu tả. Rồi từ đó các em có cơ sở để tái hiện lại bằng
ngôn ngữ giàu hình ảnh vào bài văn miêu tả. Nếu bài tập làm văn thiếu sáng tạo,
thiếu cảm xúc, không dùng từ ngữ giàu hình ảnh thì trở nên bài văn khô khan,
nghèo ý. Vậy để làm được bài văn miêu tả hay, không những phải thể hiện rõ
nét, chính xác, sinh động của đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng
tượng, tình cảm của mình đối với đối tượng miêu tả. Do đó đòi hỏi học sinh phải
có kiến thức sâu rộng và chính xác của phân môn này, nắm vững mục tiêu chung
của từng bài, có những hiểu biết cơ bản về nội dung bài học, có trí óc tưởng
tượng thật phong phú, biết cách dùng từ viết câu phù hợp, viết bố cục rõ ràng,
diễn đạt mạch lạc...Là một giáo viên giảng dạy lớp Bốn, bản thân tôi luôn trăn
trở, tìm mọi biện pháp để tạo điều kiện giúp đỡ các em học tốt phân môn này.
Với những mục đích nêu trên, để giúp học sinh có kĩ năng viết văn miêu tả
đạt hiệu quả là việc làm vô cùng cần thiết.
2.2. THỰC TRẠNG
Qua quá trình tìm hiểu việc học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp
4A6 nói riêng và học sinh lớp Bốn ở trường Tiểu học Khương Đình nói chung,
4


tôi nhận thấy trình độ học sinh trong lớp không đồng đều, số lượng học sinh làm
văn hay ít. Phân môn Tập làm văn lớp 4 vô cùng khó, mang tính trừu tượng cao
nên phần lớn học sinh không thích học phân môn này.
Học sinh làm bài hời hợt, chung chung; chưa miêu tả để phân biệt đối

phát huy tối đa năng lực học tập và cảm thụ văn học của học sinh, chưa bồi
dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt.
Đặc biệt sau mỗi bài văn, giáo viên chưa hướng dẫn học sinh nhận thấy
được hình ảnh hay, câu văn hay cần học và những chỗ sai cần khắc phục.
2.3. BIỆN PHÁP
Từ những thực trạng nêu trên, trong thời gian giảng dạy trên lớp, bản thân
tôi có những biện pháp như sau:
2.3.1.Tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh
Quá trình dạy ở lớp khoảng vài tuần đầu, tôi căn cứ vào đó để phân loại
từng đối tượng học sinh: học sinh có năng khiếu viết văn, học sinh biết cách
diễn đạt câu nhưng chưa hay, học sinh chưa biết cách viết .
Cụ thể:
Lớp 4A6: 61 em

Học sinh có năng khiếu : 5 em - chiếm 8,2 %

Học sinh viết đúng nhưng chưa hay : 25 em chiếm 41%
Học sinh chưa biết cách viết

: 31 em chiếm 50,8 %

Từ đó, tôi nắm chắc từng đối tượng học sinh để đề ra được kế hoạch dạy
học phù hợp, phát triển được năng lực viết văn miêu tả, đồng thời giúp những
em yếu biết vận dụng làm một bài văn miêu tả hoàn chỉnh.
Chẳng hạn: Học sinh năng khiếu viết được bài văn miêu tả đúng bố cục, có
sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, tôi hướng dẫn thêm để học sinh biết sử dụng
nhiều từ ngữ miêu tả giàu hình ảnh và sử dụng các biện pháp nghệ thuật vào
bài để bài viết hay hơn.
Cụ thể: Đoạn tả chú gà trống: “Con gà trống ra dáng một con gà trống
oai vệ. Chú khoác bộ lông tía sặc sỡ nhiều màu sắc. Trên đầu đội chiếc mào đỏ

2.3.2. Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả
Để các em có thể vẽ lại được cụ thể, sinh động mọi vật trong đời sống
hằng ngày, các em cần phải quan sát cụ thể vật đó: Quan sát phải kết hợp sử
dụng nhiều giác quan (mắt – nhìn, tai – nghe, mũi – ngửi, tay - sờ…) để thu
nhận được càng nhiều chi tiết thì bài miêu tả càng giống với đối tượng miêu tả;
quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ tổng quát đến cụ thể
rồi ghi chép lại vào sổ tay văn học.

7


* Nếu tả đồ vật: cần quan sát bao quát đồ vật, rồi quan sát tỉ mỉ từng phần
của đồ vật theo trình tự hợp lí từ ngoài vào trong.
Ví dụ: Tả chiếc cặp: quan sát bao quát cặp có hình thù như thế nào ? Màu
sắc gì ? quan sát từng phần đồ vật từ ngoài vào trong, đặc biệt quan sát các bộ
phận có đặc điểm nổi bật: phía trước cặp được trang trí hình gì? Sau cặp có bộ
phận gì ?(quai cặp, dây đeo) Rồi đến quan sát bên trong (cặp có mấy ngăn?),
dùng mũi ngửi thấy mùi gì? Và dùng tay sờ vào từng ngăn cặp có cảm giác như
thế nào?
* Nếu tả cây cối: cần quan sát kĩ từng bộ phận của cây hay từng thời kì
phát triển của cây và ích lợi.
Ví dụ: Tả cây xoài: Quan sát kĩ các bộ phận (thân, gốc, cành, lá, hoa,
quả…) hay từng thời kì phát triển của cây (cây non, cây lớn lên và cây trưởng
thành cho quả…) và ích lợi (cho quả, tăng thu nhập cho gia đình….)Ngoài ra
cần sử dụng thêm các giác quan khác như mũi ngửi thấy mùi của xoài như thế
nào?, tay sờ thấy vỏ cây, da của quả như thế nào? Và lưỡi nếm vị của quả ra
sao?...
* Nếu tả con vật: cần quan sát kĩ đặc điểm ngoại hình (bộ lông, mắt, mũi,
chân, đuôi…), thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của nó.
Ví dụ: Tả con gà trống: quan sát con gà to cỡ nào ? lông màu gì ? Mào ra

như màu vàng của nắng mùa thu. Bốn cánh khẽ rung rung như đang còn phân
vân”. Tác giả đã sử dung hình ảnh so sánh để miêu tả chú chuồn chuồn một cách
sinh động, hấp dẫn.
Không những phân môn Tập đọc mà còn các phân môn khác như Luyện từ
và câu cũng giúp cho học sinh mở rộng vốn từ cho mình như các bài: Mở rộng
vốn từ theo chủ điểm, các em cũng lĩnh hội thêm được một ít từ ngữ và phân
môn Mĩ thuật cũng giúp cho học sinh rèn kĩ năng quan sát và trí tưởng tượng
phong phú…và một số phân môn khác nữa (Kể chuyện, Khoa học…)
Bên một cạnh đó, học sinh đọc các bài tham khảo cần phải biết học tập
cách miêu tả và chọn lọc số từ ngữ miêu tả. Từ đó học sinh bổ sung được vốn từ
ngữ cho mình.
Đặc biệt là học sinh tích lũy vốn từ qua thực tế cuộc sống hằng ngày ví dụ
như nghe và ghi nhớ tiếng kêu của con mèo(meo…meo), Tiếng gáy của con
gà(ò..ó..o), tiếng sủa của con chó(gâu..gâu) …
9


Ngoài ra, tôi còn giới thiệu thêm một số từ, ngữ cần thiết để làm giàu thêm
vốn từ cho học sinh.
Chẳng hạn:
Tả cây cối
Thân cây to xù xì, rễ cây ăn sâu xuống lòng đất, cành đâm ra tua tủa, hoa
kết lại từng chùm, quả treo lúc lỉu, hương thơm ngào ngạt....
Tả con vật
Chú khoác lên mình bộ áo đẹp; đầu tròn, mắt sáng và tinh, tai vểnh lên để
nghe ngóng, chân nhanh nhẹn, đi lại rất nhẹ nhàng, móng vuốt sắc nhọn là vũ
khí tự vệ và rất lợi hại, khi kiếm được mồi, chú mang về cho con cùng ăn ...
Từ vốn từ mà học sinh đã tích lũy được, tôi hướng dẫn cho học sinh lựa
chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả, sử dụng cho phù hợp. Khi trình bày kết quả
quan sát được hoặc khi học sinh luyện viết đoạn, tôi đã uốn nắn, chỉ chỗ sai cho

Tôi rất yêu gia đình tôi, ngôi nhà của tôi. Ở đó, tôi có bố mẹ và chị gái thân
thương, có những đồ vật, đồ chơi thân quen và một góc học tập sáng sủa. Nổi
bật trong góc học tập đó là cái bàn học xinh xắn của tôi.( Mở bài gián tiếp- Bài
làm của em Phạm Thái Phương Linh )
* Thân bài: +Tả đồ vật: Tả bao quát đồ vật rồi đến tả những bộ phận có đặc
điểm nổi bật và nêu công dụng.
+Tả cây cối: Tả từng bộ phận của cây hoặc từng thời kì phát triển
của cây và ích lợi của cây.
+Tả con vật: Tả ngoại hình rồi đến thói quen sinh hoạt của con vật
và hoạt động chính của con vật.
Phần thân bài chính là phần trọng tâm của một bài văn. Một bài văn có
phần mở đầu và kết thúc hấp dẫn nhưng phần thân bài sáo rỗng, hời hợt, không
giải quyết được đầy đủ các yêu cầu được đặt ra ở phần đề bài thì chưa phải là
một bài văn hay. Để khắc phục khuyết điểm này, khi lập dàn ý của bài văn,
chúng ta cần tách phần thân bài thành các ý lớn cho đầy đủ, rồi từ các ý đó, viết
thành các đoạn văn hoàn chỉnh
* Kết bài: Nêu cảm nghĩ, ấn tượng, tình cảm của mình với đối tượng miêu
tả.
Nếu như phần mở bài giống như một lời mời chào thân ái thì phần kết bài
giống như một cuộc tiễn đưa người khách vừa đến thăm “vườn văn” của mình.
11


Để tạo cho khách sự quyến luyến không muốn rời xa, cuộc tiễn đưa ấy phải thật
tình cảm và chân thành. Muốn vậy, khi viết phần kết bài, giáo viên hướng dẫn
học sinh viết thật cô đọng, ngắn gọn và súc tích, tránh kết thúc một cách đơn
điệu, tẻ nhạt và cộc lốc. Kết bài chính là kết lại, khép lại nội dung vừa trình bày
ở phần thân bài. Vì vậy cần khép bài một cách khéo léo để nó đọng lại và mở ra
trong lòng người đọc những cảm xúc tràn trề, những hình ảnh đẹp đẽ mà chúng
ta đã miêu tả, đã kể trong bài văn của mình.

2.3.5. Hướng dẫn sử dụng nghệ thuật và bộc lộ cảm xúc
Để giúp cho học sinh làm được bài văn hay hơn, sinh động hơn, lôi cuốn
người đọc, tôi đã hướng dẫn học sinh sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hóa vào
bài; đồng thời bộc lộ cảm xúc của mình để thấy đồ vật, con vật, cây cối thân
thiết và gần gũi với mình hơn.
Để học sinh vận dụng được, tôi giúp các em tìm hiểu kĩ tiết Luyện tập miêu
tả các bộ phận, tổ chức cho học sinh trình bày, luyện cho học sinh nói, viết
những câu có hình ảnh và sử dụng phép nghệ thuật đồng thời bộc lộ cảm xúc
của mình.
Ví dụ: Miêu tả về thói quen của con chó-(Bài làm của em Nguyễn Hoàng
Quân)
“Bữa nào chú cũng được ăn cơm. Chú thật hốc ăn. Chú chỉ xốc hai miếng
là hết bát cơm to, lại ngẩn ngơ liếm mép. Bữa bữa, chú nhìn chăm chú mọi
người ăn cơm, cái đầu cứ lắc lắc theo từng đôi đũa khi mọi người gắp thức ăn.
Trông chú như đang đói và thèm ăn lắm”.
Ví dụ : Tả ngoại hình con mèo –(Bài làm của em Phạm Việt Anh )
“Lông mèo mượt như tơ. Đầu nó tròn bên trên có hai cái tai dựng đứng, hết
quay phía này lại quay phía khác để nghe ngóng. Hai con mắt nó mới sáng làm
sao, ở ngoài sáng mắt xanh biếc, trong đêm tối mắt nó lấp lánh như ánh lửa”.
2.3.6. Nhận xét, đánh giá và chữa bài
Mỗi dạng bài đều có một tiết trả bài văn viết, tiết này rất quan trọng nhằm
giúp các em thấy được ưu điểm và nhược điểm trong bài viết của mình, của bạn
để học hỏi, trao đổi lẫn nhau, tìm ra cách sửa sai để cùng tiến bộ và qua đó tôi
biết được học sinh hiểu bài và vận dụng thế nào.
* Đánh giá, nhận xét: Tôi tiến hành chấm bài thật kĩ, xác định học sinh làm
đúng bố cục hay chưa? và bố cục có chặt chẽ không? Tôi phát hiện những ưu
13


điểm của bài văn hay, câu hay, ý hay, dùng từ sáng tạo…và nắm được những lỗi

Tai mèo rât tinh

tai mèo rất thính

+ Chữa lỗi về câu:
- Học sinh viết chưa thành câu: Có lá xum xuê, rễ mọc dưới đất  Lá cây
bàng xum xuê. Rễ ăn sâu vào lòng đất.
- Sử dụng dấu câu sai: Đến mùa hè. Cây ra hoa đỏ rực. Đến mùa hè, cây
phượng nở hoa đỏ rực. Giáo viên gợi mở để học sinh biết sử dụng dấu câu hợp lí.
+ Chữa lỗi về diễn đạt
Ví dụ: Tả đồ vật
14


- Trước cái cặp có hình siêu nhân và sau có dây đeo rất sung sướng.
Mặt cặp được trang trí hình siêu nhân trông rất đáng yêu. Sau lưng cặp
có dây đeo rất tiện lợi.
- Cái bút thon nhọn và dài bằng gang tay của em.
Cây bút dài bằng gang tay của em. Ngòi bút nhọn, viết ra những nét chữ
thật đều và đẹp.
+Chữa lỗi lạc đề:
Ví dụ:Tả con mèo
Chú mèo này thật giỏi. Hễ nó nghe tiếng động của lũ chuột là nó nhảy vồ
đến và chụp ngay chú chuột. Chú chuột này chịu thua và kêu chít chít như mắng
chửi mèo vậy.
Sửa lại: Chú mèo này bắt chuột thật giỏi. Hễ nó nghe tiếng động của lũ
chuột là nó đi nhẹ nhàng đến rình, rồi nhảy vồ đến chụp ngay chú chuột.Thế là
con chuột xấu số đã nằm gọn trong móng vuốt của nó.
2.4. HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI:
Năm học 2018-2019, tôi đã vận dụng những biện pháp nêu trên cùng với sự

4 (6,6%)

Điểm dưới 5
0 (0%)


Không những thế khi học đến những bài văn miêu tả con vật và cây cối thì
kết quả được nâng cao dần. Số lượng các em đạt khá, giỏi tăng rõ rệt. Học sinh
hứng thú học tập hơn. Trong giờ học các em tập trung hơn, say sưa cùng bạn bè
quan sát đối tượng cần miêu tả. Tôi rất vui khi thấy có khá nhiều học sinh đã có
cuốn sổ tay riêng để ghi những điều quan sát được và những câu văn hay, từ ngữ
gợi tả, gợi cảm,…Có thể nói rằng học sinh đã không còn ngại khi học văn miêu
tả. Học sinh dùng từ chính xác, sử dụng từ hay biết viết thành câu, kĩ năng viết
văn có tiến bộ, nhiều em viết hay được chọn làm bài mẫu để đọc trước lớp. Thể
loại văn miêu tả được các em thích hơn.
Học sinh có tinh thần hợp tác, biết tôn trọng lắng nghe ý kiến của bạn bè
mình và mạnh dạn nhận xét về bài làm của bạn.

16


PHẦN 3 : KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân,
nhằm xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ cho trẻ và hình
thành cơ bản ban đầu nhân cách con người. Đặc biệt Tiếng Việt có vị trí quan
trọng, nó hình thành khả năng giao tiếp và phát triển tư duy cho trẻ.
Như vậy, mục đích của việc dạy phân môn Tập làm văn lớp 4 là giúp cho
học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh, lời văn gãy gọn, bố cục rõ ràng, súc tích,
diễn đạt có hình ảnh, sinh động và gợi cảm và yêu thích làm văn.Tuy nhiên,

thảo luận tìm phương án phù hợp nhất.
Trên đây là toàn bộ nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Rèn kĩ năng làm
văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ” tôi đã nghiên cứu và áp dụng trong năm học 20182019. Đây là những cách làm mà tôi đã thực hiện và thực sự có hiệu quả.Tuy nhiên
khi viết thành đề tài sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong hội đồng khoa học các
cấp góp ý để đề tài của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
`

Khương Đình, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Người viết

Vũ Thị Thảo Giang

18


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ( NXB Giáo dục, Hà Nội )
2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học ( NXB Giáo dục, Hà Nội )
3. Giáo dục học ( NXB Giáo dục, Hà Nội )
4. Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ( NXB Giáo dục, Hà Nội )
5. Luật giáo dục ( NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội )
6. Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại ( NXB Giáo dục, Hà Nội )
7. Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới ( NXB Giáo dục, Hà Nội )
8. Tiếng Việt 4 tập 1 và 2 (SGK+Sách giáo viên) - Nhà xuất bản giáo dục
9. Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 4 – Nhà xuất bản Hà Nội
10. Hướng dẫn viết SKKN của phòng giáo dục và đào tạo Quận Thanh Xuân

19

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status