ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THU VÂN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG CÁC TÔN GIÁO THAM GIA BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THU VÂN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG CÁC TÔN GIÁO THAM GIA BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học định hƣớng ứng dụng
Mã số: 60.22.03.09 (UD)
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. Ngô Hữu Thảo
1
Tiểu kết chương 3 ...................................................................................... 83
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 86
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 91
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngƣỡng, tôn giáo và
các tôn giáo đang có xu hƣớng phát triển, ảnh hƣởng mạnh đến các lĩnh vực
của đời sống xã hội, từ chính trị, văn hóa, phong tục tập quán, cho đến đạo
đức, lối sống của nhân dân. Đảng và Nhà nƣớc ta luôn xác định công tác tôn
giáo là vấn đề chiến lƣợc có ý nghĩa rất quan trọng.
Từ Đại hội VI của Đảng, năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công
cuộc đổi mới đất nƣớc. Đến năm 1990, với Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày
16/10/1990, của Bộ Chính trị, đã đánh dấu bƣớc tiến quan trọng về sự nhận
thức và đổi mới của Đảng về vấn đề tôn giáo. Ngày 12/3/2003, Ban Chấp
hành Trung ƣơng Đảng (khóa IX), đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, Về
công tác tôn giáo và tiếp tục khẳng định các quan điểm cơ bản về tôn giáo và
công tác tôn giáo. Đó là: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng và công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính
quốc nói chung, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội nói
riêng, có một số công trình tiêu biểu sau:
- Thích Thánh Nghiêm chủ trì (1990), Giai đoạn đầu của nghiên cứu Phật
giáo quốc tế Trung Quốc: Lý luận Phật giáo và xã hội hiện đại, Hội thảo khoa
học, Đài Loan. Một số bài viết tham dự hội thảo này đã đề cập đến giới luật
Phật giáo và vấn đề bảo vệ môi trƣờng nhƣ: “Sự đóng góp của Phật giáo Trung
Quốc đối với vấn đề sinh thái” của Vu Quân Phƣơng; “Lý luận Phật giáo và xu
hƣớng hiện đại” của Thích Tuệ Nghiêm; “Lý luận Phật giáo Đại thừa và xã hội
hiện đại” của Dƣơng Tằng Văn; “Nghiên cứu về sự tái thiết của lý luận Đại
4
Thừa hiện đại” của Phó Vĩ Huân.
- Tập đoàn Văn hóa Giáo dục Tài chính Đài Loan (2003), Giai đoạn ba
của lý thuyết nhằm thẳng vào thực tế và cuộc đối thoại của giới Phật giáo thực
dụng với hiện đại, Hội thảo khoa học, Đài Loan. Một số tham luận tại hội thảo
này đề cập về giới luật Phật giáo và vấn đề bảo vệ môi trƣờng nhƣ: “Niềm tin
vào đất: Thiết lập nguồn gốc Sinh thái học Phật giáo” của Dƣơng Huệ Nam,
“Xã hội Phật giáo Đài Loan thực hành việc bảo vệ môi trƣờng” của Thích
Truyền Pháp; “Nguyên tắc của Sinh thái học và sự quan tâm của Phật giáo về
môi trƣờng” của Lâm Triều Thành.
- Thích Nhuận Đạt dịch (2010), Đạo Phật và môi trƣờng, Nhà xuất bản
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách tập hợp những bài viết của các
nhà khoa học, nhà Phật học khu vực Đông Á đề cập đến vấn đề vai trò của Phật
giáo trong việc bảo vệ môi trƣờng hiện nay. Dƣới đây là một số bài viết tiêu
biểu trong công trình này:
Bài viết Tƣ tƣởng bảo vệ môi trƣờng của Phật giáo của Tế Quần. Tác giả
khẳng định, nguyên nhân môi trƣờng sống của con ngƣời trên thế giới hiện nay
ngày càng tồi tệ xuất phát từ sự tham lam của con ngƣời. Từ đó, tác giả đƣa ra
tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và làm rõ nhận thức về vấn đề tôn giáo của
Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ. Theo tác giả, những vấn đề đó là
cái gốc để giải quyết các vấn để tín ngƣỡng, tôn giáo hiện nay. Tác giả cũng
đã làm rõ quá trình hình thành, phát triển của chính sách tôn giáo ở Việt Nam,
nhất là phƣơng diện quản lý nhà nƣớc về tôn giáo; đồng thời vạch ra những
nét chủ yếu trong quá trình thực hiện các chính sách đó trong giai đoạn cách
mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Cuốn sách có nhiều giá trị tốt cho công tác tôn giáo, song từ phƣơng diện
công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của
nhân dân, cuốn sách cũng chƣa luận bàn.
- GS, TS. Đỗ Quang Hƣng, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long -
6
Hà Nội, đã ra mắt cuốn sách Đời sống tôn giáo tín ngƣỡng Thăng Long Hà
Nội, trong đó đề cập khái quát đến tình hình tôn giáo ở Hà Nội từ lịch sử đến
đƣơng đại. Trong đó, vấn đề đời sống tôn giáo từ góc độ lịch sử và văn hoá
truyền thống đã đƣợc tác giả dành quan tâm một cách xuyên suốt. Tác giả
trong phân tích tình hình cũng đã đƣa ra những nhận định, đánh giá của mình
về tình hình tôn giáo ở Hà Nội, nhất là ở tính chất và những hoạt động đa
dạng, mới mẻ của đời sống tôn giáo Hà Nội hiện nay, trong đó đáng kể là vấn
đề “Thách thức về mặt thể chế: Luật pháp tôn giáo ở Việt Nam và xu hƣớng
đa dạng hoá tôn giáo”. Tuy nhiên từ góc độ ảnh hƣởng của tôn giáo đến lĩnh
vực chính trị và nhất là, trách nhiệm trong công tác tôn giáo của hệ thống
chính trị Hà Nội, trong đó có Mặt trận Tổ quốc, cần có những giải pháp ra
sao, vấn đề này, tác giả chƣa có điều kiện đi sâu.
- PGS, TS. Ngô Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác Lênin đến thực tiễn Việt Nam. Cuốn sách đã phân tích, làm rõ quan điểm của
chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, công tác vận động
quần chúng tín đồ tôn giáo của hệ thống chính trị, trong đó có công tác tôn
Hà Nội, các tác giả đã rất coi trọng và làm nổi bật từ phƣơng diện công tác
tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội với tính thực
tiễn và tính lịch sử cụ thể khá cao. Song với mục đích và giới hạn phạm vị
nghiên cứu của cuốn sách, các tác giả chƣa luận bàn về toàn bộ công tác tôn
giáo của Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội và Viện Nghiên
cứu tôn giáo, tín ngƣỡng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (đồng
chủ biên) (2018), Sổ tay công tác tôn giáo, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội.
Cuốn sổ tay cập nhật quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nƣớc về tôn giáo, tín ngƣỡng; giới thiệu vị trí, vai trò và trách nhiệm
của Mặt trận trong công tác tôn giáo; khái quát các tôn giáo ở Việt Nam và
trên địa bàn Hà Nội; các văn bản pháp luật liên quan đến tôn giáo. Song, nhƣ
8
tên cuốn sách này, các tác giả mới đƣa ra, phân tích ở mức độ kiến thức phổ
thông về tôn giáo và công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành
phố Hà Nội hiện nay.
- TS. Lê Bá Trình, PGS, TS. Trần Thị Kim Oanh, TS. Trần Văn Anh (Hòa
thƣợng Thích Tấn Đạt) (đồng chủ biên) (2017), Kỷ yếu hội thảo: Phát huy vai
trò Phật giáo tham gia xã hội hoá công tác xã hội, từ thiện, Nhà xuất bản Tôn
giáo, Hà Nội. Trong tập sách kỷ yếu này có nhiều bài liên quan và hai bài viết
trực tiếp nói về môi trƣờng với Phật giáo. Đây là những nghiên cứu vừa có giá
trị lý luận tôn giáo học và vừa có ý nghĩa thực tiễn về vấn đề con ngƣời và tổ
chức Phật giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng ở các vùng miền Việt Nam, từ
phƣơng diện lý thuyết đến hành động từ thiện, cứu trợ xã hội. Ngƣời đọc đánh
giá cao vai trò Phật giáo Việt Nam từ góc độ thực tiễn.
Ngoài đó ra còn có một số tập tài liệu liên quan công tác Tôn giáo của
Trƣờng Nghiệp vụ công tác Tôn giáo - Ban Tôn giáo Chính phủ (dành cho
3.1. Mục đích
Đề tài làm rõ nhận thức chung về công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam thành phố Hà Nội trong công tác vận động các tôn giáo tham
gia bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực trạng của công
tác đó; đề xuất khuyến nghị đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà
Nội trong công tác vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng, ứng
phó với biến đổi khí hậu ở Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản nhƣ sau:
- Làm rõ nhận thức chung về công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội trong công tác
vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng và ứng phó với biến đổi
khí hậu.
- Làm rõ thực trạng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội vận
10
động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng và ứng phó với biến đổi khí
hậu ở Hà Nội và vấn đề đặt ra.
- Đề xuất khuyến nghị nhằm tăng cƣờng vận động các tôn giáo bảo vệ
môi trƣờng và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Hà Nội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là công tác vận động các tôn giáo chung
tay bảo vệ môi trƣờng và ứng phó với biến đổi khí hậu của hệ thống Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là địa bàn thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa làm sâu sắc và phong phú
thêm cho lý luận của chuyên ngành tôn giáo học và một số ngành khoa học
khác, nhƣ xã hội học, môi trƣờng học và là cơ sở nhận thức khoa học về vai
trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
Luận văn còn có ý nghĩa định hƣớng cho hoạt động thực tiễn phát triển
kinh tế - xã hội ở cơ sở, các địa bàn có tôn giáo và có đông tín đồ tôn giáo.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cán bộ
công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của
nhân dân cũng nhƣ cho công tác quản lý nhà nƣớc về tôn giáo.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, có kết cấu chủ yếu gồm 3 chƣơng, 7 tiết.
12
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA MẶT TRẬN
VÀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CÁC TÔN GIÁO THAM GIA BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Nhận thức chung về công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Với đề tài luận văn: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội
trong công tác vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó
với biến đổi khí hậu”, tác giả trƣớc hết xác định đây thuộc về nội hàm “công
tác tôn giáo” của Mặt trận Tổ quốc.
Công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc lại là một bộ phận của khái niệm
quốc Việt Nam thành phố Hà Nội, ngƣời viết xem đó là cơ sở để luận giải và
giải quyết các nhiệm vụ của đề tài luận văn đặt ra, nhằm đạt tới mục đích của
đề tài.
1.1.2. Nhận thức cơ bản về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để xác định công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc, trƣớc hết cần xác
định vị trí, vai trò của Mặt trận trong đời sống chính trị, xã hội Việt Nam cụ
thể ra sao. Đây chính là nhận thức tổng quát về “chủ thể công tác”.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức thuộc hệ thống chính trị
Việt Nam. Hệ thống chính trị, đó là các tổ chức, các đoàn thể chính trị - xã
hội do Đảng lãnh đạo đƣợc lập ra từ Trung ƣơng tới địa phƣơng, đƣợc luật
pháp thừa nhận và bảo vệ, hoạt động công khai, nhằm thực hiện và phát huy
dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.
Hệ thống chính trị Việt Nam chính thức đƣợc ghi nhận trong đời sống
chính trị nƣớc ta từ năm 1989, tại Nghị quyết của Hội nghị Trung ƣơng Đảng
14
lần thứ VI, khoá VI. Còn trƣớc đó, chính trị nƣớc ta chỉ có và chỉ nói đến
“nhà nƣớc chuyên chính vô sản”. Tiếp đó, hệ thống chính trị nƣớc ta, về cơ
cấu tổ chức đƣợc xác định bao gồm 08 tổ chức xã hội hợp thành, là: Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, UỶ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông
dân Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Hệ thống chính trị Việt Nam xuất hiện và đƣợc xã hội thừa nhận,
đã cho thấy một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc mở rộng và
phát triển triển về chất. Bởi vì từ đó, đời sống chính trị Việt Nam đã không
chỉ có Đảng, nhà nƣớc, mà còn có các tổ chức chính trị khác nữa.
Về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp nƣớc Cộng
3. Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 4) [11, Đ.4].
Ở đây có một điểm đáng chú ý là, trong quy định của Luật Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam nói rõ: Đảng vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo
Mặt trận. Với quy định này, trong Đảng và trong xã hội Việt Nam hiện nay
đang có ý kiến khác nhau, tập trung ở vế sau của quy định, là “Đảng là tổ
chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc”, theo đó, vai trò, vị trí của Đảng có
bị hạ thấp hay không? Chúng tôi biết, có rất nhiều ý kiến cho rằng “vai trò,
vị trí của Đảng bị thấp đi”, song cũng không ít ý kiến cho rằng “vai trò, vị
trí của Đảng đƣợc cao hơn”. Chúng tôi tán thành với ý kiến sau - “vị trí, vai
trò của Đảng không hề thấp đi mà còn cao hơn”. Bởi vì Đảng là của giai
cấp công nhân, của dân và Đảng lãnh đạo giai cấp, xã hội bằng quyền lực
do nhân dân uỷ thác, với mục đích vì dân, giải phóng dân, phát triển dân.
16
Vậy để vai trò lãnh đạo có hiệu quả, chất lƣợng cao, Đảng cần có phƣơng
thức lãnh đạo sâu - sát nhân dân, có thế mới biết dân nghĩ gì, cần gì và
muốn làm gì. Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, Đảng do đó sẽ có cơ hội
và có môi trƣờng “tắm trong biển nhân dân”, qua đó Đảng sẽ hiểu biết nhân
dân sát đúng hơn. Còn nếu ở môi trƣờng khác, “salon, máy lạnh”, Đảng sẽ
hiểu biết dân chắc không nhiều.
Bàn thêm, mở hƣớng suy nghĩ về vấn đề này, ngƣời viết có ý đồ để đề
xuất khuyến nghị ở phần sau của đề tài luận văn.
Còn quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nƣớc, Luật Mặt
trận Tổ quốc quy định: là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
phƣơng thức hoạt động để thực hiện trách nhiệm của mình với Nhân dân theo
quy định của Hiến pháp và pháp luật (Điều 8) [11, Đ.8].
Vậy, Mặt trận Tổ quốc là một tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân ta,
do Đảng thành lập (tiền thân là Mặt trận Dân tộc thống nhất). Mặt trận Tổ
quốc không phải là Đảng, nhà nƣớc, mà đứng bên cạnh Đảng, nhà nƣớc. Mặt
trận Tổ quốc có quyền lực, song không phải và không sử dụng quyền lực
chính trị nhƣ Đảng, Nhà nƣớc mà Mặt trận Tổ quốc tham gia công tác quản lý
của nhà nƣớc và giám sát hoạt động của nhà nƣớc, sử dụng quyền lực nhân
dân bằng phƣơng thức “vận động, tập hợp nhân dân”.
1.1.3. Quan điểm: Công tác tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống
chính trị
Vào thời kỳ đổi mới đất nƣớc, ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị ban hành
Nghị quyết 24-NQ/TW về “T ng cường công tác tôn giáo trong tình hình
mới”. Nghị quyết này là dấu mốc mở đầu cho bƣớc ngoặt phát triển nhận thức
về đổi mới công tác tôn giáo ở nƣớc ta. Nghị quyết 24 của Bộ chính trị đã đƣa
ra một số quan điểm rất cơ bản, có tính đổi mới sâu sắc về vấn đề tôn giáo và
công tác tôn giáo. Trong đó Đảng xác định rõ hai quan điểm: Công tác tôn
18
giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và Nội dung cốt lõi của công
tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Hơn mƣời năm sau sau đó, Nghị quyết Trung ƣơng 7, khóa IX, ngày
12/3/2003 về “Công tác tôn giáo”, Đảng ta trong khi đƣa ra 05 quan điểm
công tác tôn giáo, thì trong đó đã lại tiếp tục khẳng định hai quan điểm trên
của Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị.
Đến gần đây nhất, ngày 10/1/2018, Ban Chấp hành Trung ƣơng đã ban
hành Chỉ thị số 18-CT/TW, của Bộ chính trị, ề tiếp tục thực hiện Nghị qu ết
số 2 -N T
1.1.4. Công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc là một tổ chức thuộc hệ thống chính trị thế nên vị trí
công tác tôn giáo của của Mặt trận Tổ quốc, xét trong tổng thể hệ thống chính
trị, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác tôn giáo của hệ thống
chính trị. Còn đối với hoạt động nội tại của Mặt trận Tổ quốc, công tác tôn
giáo là một lĩnh vực quan trọng trong toàn bộ công tác của Mặt trận Tổ quốc.
Về vai trò công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc là
ngƣời đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân
trong các hoạt động đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; tập hợp, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cƣờng đồng
thuận xã hội trong cộng đồng các tôn giáo; giám sát, phản biện xã hội trên
những hoạt động liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo và động viên, tổ chức để
tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo tham gia xây dựng Đảng, Nhà nƣớc,
hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Song, công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị
- xã hội khác (thƣờng gọi là khối Mặt trận Tổ quốc) phải có nội dung, phƣơng
thức thế nào khi nó đặt cạnh công tác tôn giáo Đảng, Nhà nƣớc? Đó là vấn đề
phải đƣợc làm rõ trƣớc hết từ nhận thức xã hội.
1
Những yêu cầu mới này đƣợc Đảng đƣa vào Nghị quyết số 25-NQ/TW (3/6/2013), Ban Chấp
hành Trung ƣơng, khoá XI (2013), ề t ng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác dân vận trong t nh h nh mới.
20
Chúng ta thấy, Mặt trận Tổ quốc trong công tác tôn giáo chính là ở
liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.
4. Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành,
tín đồ, ngƣời theo tín ngƣỡng, tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực
hiện pháp luật về tín ngƣỡng, tôn giáo.
5. Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín
ngƣỡng, tôn giáo [13, Đ 4].
Về trách nhiệm của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong công tác tôn giáo
Mặt trận Tổ quốc chỉ có tổ chức thành viên và cá nhân tiêu biểu, mà
không có đoàn viên và hội viên nhƣ các tổ chức chính trị - xã hội khác. Đây là
tính chất đặc biệt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Các tổ chức chính trị (Đảng), tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội
(trong đó có các tổ chức tôn giáo) và tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Việt Nam
khi cùng nhau liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, trở thành thành viên
của Mặt trận Tổ quốc đều thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình đối với xã
hội nói chung và đối với công tác tôn giáo nói riêng.
Tuy nhiên, trách nhiệm của các tổ chức thành viên của Mặt trận trong
công tác tôn giáo, quan hệ với Mặt trận là quan hệ phối hợp và thống nhất
hành động theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ tính
độc lập của tổ chức mình.
Nhƣ vậy, những nhận thức chung về “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
thành phố Hà Nội vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng, ứng phó
với biến đổi khí hậu”, cho thấy thực chất là một loại công tác tôn giáo của
Mặt trận Tổ quốc trên lĩnh vực để các tôn giáo ở Hà Nội tham gia bảo vệ mội
trƣờng và ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa bàn Thủ đô Hà Nội. Những
22