VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM THỊ THÚY HẰNG
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành:
Mã số:
Chính trị học
60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Lưu Văn Quảng
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
thạc sỹ chính trị học “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế
dân chủ cơ sở từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội” là hoàn toàn
trung thực, không trùng lắp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Nội dung
1
HĐND
Hội đồng nhân dân
3
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
4
QCDC
Quy chế dân chủ
5
xã hội. Khi quyền làm chủ của người dân được tôn trọng và bảo đảm, sẽ tạo nên nền
tảng, cơ sở vững chắc để các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp
luật của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả trong thực tế. Muốn thực hiện được
điều đó, việc dân chủ hóa mọi hoạt động của Đảng và của cả hệ thống chính trị
nhằm tập hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia quản lý các công việc
của Nhà nước và xã hội, đóng góp trí tuệ và vật chất để xây dựng, bảo vệ đất nước
sẽ là một quan điểm hết sức đúng đắn, sáng suốt. Phương châm "dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra" đã được thể hiện trong nhiều văn kiện, chỉ thị, nghị
quyết của Đảng và được thể chế thành pháp luật của Nhà nước.
1
Trước thực trạng yếu kém của hệ thống chính trị ở cơ sở và vấn đề mất dân
chủ ở cơ sở diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi, làm xói mòn lòng tin của nhân dân
đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở nhiều
địa phương, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về việc xây
dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Đây là lần đầu tiên, Đảng ta có một
văn bản riêng về vấn đề này. Việc ban hành Chỉ thị quan trọng này của Đảng chính
là để tiếp tục mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân trong xây dựng và quản lý Nhà nước; thực hiện tốt phương châm "Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" nhằm phát huy quyền làm chủ của dân,
thu hút nhân dân tham gia quản lý, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy
thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng đang xảy ra ở nhiều nơi trên đất
nước ta. Qua đó, nhằm xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở ngày càng trong sạch,
vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; góp phần to lớn vào việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ thị đã nêu rõ nhiệm vụ quan
trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; bởi
đó là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nước, là nơi thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” chưa chặt
chẽ và đồng bộ. Cụ thể là các nội dung “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
còn hình thức, thiếu cơ chế, điều kiện để nhân dân phát huy quyền kiểm tra, giám
sát đối với một số hoạt động của cấp ủy, chính quyền cơ sở; hoạt động của ban
thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng còn lúng túng, chưa phát huy
được vai trò giám sát, nhất là đối với các công trình lớn do cấp trên đầu tư; việc
thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các
loại hình doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức, chưa coi trọng việc tổng kết
các quy chế, quy định đã ban hành; công tác phối hợp giữa mặt trận, các đoàn thể
trong thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi đạt hiệu quả chưa cao…
Từ thực tế nêu trên, việc lựa chọn vấn đề: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà
Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ Chính trị học rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ lâu, vấn đề dân chủ đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạt động
chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở
trong nước và trên thế giới. Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở, vai trò của MTTQ
trong hệ thống chính trị đã được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng, văn bản,
quyết định của Chính phủ và đã có nhiều công trình nghiên cứu (ở cấp độ luận văn,
luận án, bài viết trên các tạp chí, các cuốn sách…) để bàn về đề tài này ở những góc
độ, khía cạnh khác nhau và được chia nhiều nhóm vấn đề.
- Nhóm thứ nhất, những công trình đã được nghiên cứu sâu về vấn đề dân
chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã được in thành sách và các bài viết trên
các báo, tạp chí như: Đỗ Mười (1998) “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ
sở”, Tạp chí Cộng sản số 20; PGS. TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên) Học viện
việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác
Mặt trận (2009), của Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Công trình tập trung nghiên
cứu những vấn đề về cơ sở lý luận, nội dung, đặc điểm, vai trò, hoạt động… của
công tác MTTQVN. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2007), Lịch sử Mặt trận dân tộc
thống nhất Việt Nam, quyển III (1974-2004), Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập
trung nghiên cứu về lịch sử hình thành của MTTQVN trong lịch sử.
Nhóm vấn đề này các tác giả tập trung trình bày về lý luận và thực tiễn của
MTTQ Việt Nam, cũng như tình hình thực hiện QCDC ở cơ sở tại các địa phương.
Các công trình nghiên cứu, bài viết nói trên cung cấp những vấn đề lý luận
và thực tiễn về MTTQ Việt Nam, về dân chủ, thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng như
tình hình thực hiện quy chế dân chủ ở địa phương. Tuy nhiên việc nghiên cứu về đề
tài “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ thực tiễn
thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội" cho đến nay chưa có bài viết hay đề tài nào đề
cập, phản ánh. Những tài liệu nêu trên sẽ giúp tác giả tham khảo trong quá trình
thực hiện nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây trong việc tham gia thực hiện quy chế dân
5
chủ cơ sở, luận văn đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm phát huy vai trò của
MTTQ thị xã trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ
3.1. Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng của mặt trận trong việc tham
gia thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sỏ.
3.2. Nghiên cứu về việc Ủy ban MTTQ tham gia thực hiện quy chế dân chủ
ở xã, phường - thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực tiễn.
địa bàn thị xã Sơn Tây, luận văn khái quát một số kết quả bước đầu, chỉ ra những
hạn chế, nguyên nhân của nó, đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ
thể nhằm tăng cường thực hiện dân chủ phù hợp với điều kiện địa bàn.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho học viên Học viện khoa học xã hội
muốn nghiên cứu sâu hơn về vai trò của Ủy ban MTTQ việc thực hiện pháp lệnh
dân chủ ở cơ sở. Ủy ban MTTQ các xã, phường trên địa bàn thị xã có thể sử dụng
kết quả nghiên cứu của luận văn để thực hiện có hiệu quả hơn vai trò của mình đối
với việc thực hiện QCDC ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Dân chủ cơ sở và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
Chương 2: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, thực trạng và những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam thị xã Sơn Tây trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
7
Chương 1
DÂN CHỦ CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1. Dân chủ và thực hiện dân chủ cở sở
1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ cơ sở
Khái niệm "dân chủ" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "demos", nghĩa là nhân
dân và "kratos" - chính quyền, quyền lực. "Demokratia" có nghĩa là quyền lực của
nhân dân, chính quyền của nhân dân. Dân chủ là một chính quyền "của dân, do dân
và vì dân". Như vậy, dân chủ là một thể chế do dân làm chủ và dân chủ trước hết là
Bản chất của nhà nước ta được khẳng định trong Hiến pháp, là nhà nước
của dân, do dân, vì dân. Tuy vậy trong thực tế, cán bộ, công chức nhà nước chưa
thực sự là công bộc của dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn. Nếu không
thực hiện dân chủ, nhà nước sẽ trở nên độc tài, chuyên chế, và do đó dân phải học
để làm chủ; nhà nước phải bảo đảm cơ chế để lắng nghe dân. Do vậy, nói tới dân
chủ có nghĩa là nói đến mối quan hệ giữa dân và chính quyền mà ở đó chính quyền
phải lắng nghe, phải tạo điều kiện để người dân được quyết định hoặc tham gia
quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự phát triển của mỗi người
dân, của cả cộng đồng. Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng ở cấp xã,
phường, thị trấn.
Trong thực tế chưa có một xã hội nào đạt được tình trạng dân chủ tuyệt đối
do nhiều lý do khách quan và chủ quan như: trình độ phát triển kinh tế - xã hội,
năng lực nhận thức của dân và của chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa pháp
quyền, v.v... Vì thế, dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của dân tộc
Việt Nam đó là: thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Những mục tiêu đó đều có mối liên hệ gắn bó với nhau. Dân có giàu
thì nước với mạnh. Có dân chủ thì mới có công bằng xã hội. Có dân chủ thực sự thì
dân mới giàu và quốc gia mới mạnh. "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn
lần dân liệu cũng xong". Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân chủ là
những yếu tố không thể thiếu của một nền văn minh. Với mục tiêu phấn đấu như
vậy, việc phát huy dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, được coi là chủ trương, biện
9
pháp và là hành động tất yếu của nhân dân và chính quyền trong quá trình phát triển
của đất nước ta.
Dân chủ được đảm bảo và phát huy bằng nhiều biện pháp. Việc thực thi dân
chủ luôn gắn liền với mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Ở nước ta hiện nay, hệ
thống chính trị dựa trên thể chế "Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ".
tương đương là theo đơn vị dân cư - với tư cách là những cộng đồng người nhỏ nhất
sinh sống cùng nhau. Ở đây, đời sống dân cư diễn ra tự quản là chính.
Dân chủ ở cơ sở là dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn, làng, ấp, bản,
khóm, tổ dân phố (là các hình thức cộng đồng dân cư như đã nêu). Dân chủ ở cơ sở
chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp (mặc dù có cả dân chủ đại diện), và
các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư. Dân chủ cơ sở có ý nghĩa vô cùng to
lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực
tiếp và rộng rãi nhất.
Vậy có thể hiểu một cách khái quát về tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã là
quá trình tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về dân chủ tại các địa bàn
dân cư, nơi mà người dân sinh sống, lao động, sản xuất ra của cải, vật chất. Hay có
thể hiểu đó là việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm
bảo “quyền làm chủ của người dân ở cơ sở” theo phương châm: “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra”.
Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng sẽ góp phần cải cách hành chính, sửa
đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính cho sát thực, phù hợp với thực
tiễn. Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng là biện pháp phát huy và mở rộng dân
chủ, đưa nội dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi vào cuộc sống, có
hiệu quả cao hơn.
Dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng là nội dung quan trọng của nền dân
chủ XHCN. Lênin nói: “Chủ nghĩa xã hội sẽ không có nếu không có dân chủ với hai
nghĩa: Thứ nhất, giai cấp vô sản không thể hoàn thành cách mạng XHCN nếu nó không
tự chuẩn bị dân chủ cho mình thông qua cuộc đấu tranh vì dân chủ. Thứ hai, chủ nghĩa
xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi và không dẫn đến sự tiêu vong của nhà
nước nếu thiếu thực hiện dân chủ một cách trọn vẹn” [37, tr28].
11
12
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành
chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của
cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm
Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã.
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề
thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến
nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính
quyền cấp xã trực tiếp thu.
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc
liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.
- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.
Những nội dung trên được công khai bằng hình thức: Niêm yết công khai tại
trụ sở HĐND, UBND cấp xã; Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;
Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân
dân; Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai, thực
hiện việc cung cấp thông tin theo quy định...
Về cách thức thông tin, nhân dân có quyền yêu cầu chính quyền sử dụng các
phương tiện thông tin sẵn có ở xã, thôn để truyền tải những thông tin mà nhân dân
được quyền biết, đó là: trực tiếp bằng văn bản đến thôn, xã; niêm yết công khai tại
trụ sở UBND xã hoặc ở những trung tâm dân cư; hệ thống truyền thanh xã, thôn; tại
các cuộc họp tiếp xúc đại biểu HĐND xã.
Về nội dung thông tin, nhân dân có quyền yêu cầu tất cả những thông tin mà
dân được quyền biết. Tuy nhiên không phải bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, hoặc bất kỳ
loại thông tin nào cũng có thể được yêu cầu. Có những loại thông tin được cung cấp
- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã;
chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng,
tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.
- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã.
14
- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp
luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã
thấy cần thiết.
Những nội dung này được thể hiện bằng hình thức: Họp cử tri hoặc cử tri đại
diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến cử tri
hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Thông qua hòm thư góp ý.
1.1.2.4. Những nội dung nhân dân giám sát
Đối với những nội dung mà nhân dân được biết, được thông tin, được bàn và
quyết định, được tham gia ý kiến như trên đã trình bày thì nhân dân đều có quyền
giám sát việc thực hiện. Một số việc quan trọng mà nhân dân ở địa phương có
quyền giám sát, kiểm tra:
- Hoạt động của đại biểu HĐND xã, cán bộ UBND xã.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Dự toán và quyết toán ngân sách xã.
- Kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây
dựng và các chương trình dự án do nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư tài trợ
trực tiếp cho xã.
- Quản lý và sử dụng đất đai.
- Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của nhà nước, các khoản đóng
góp của nhân dân
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng liên
1.1.3. Vai trò của thực hiện dân chủ cơ sở đối với đời sống chính trị Việt Nam
Quy chế dân chủ cơ sở ra đời là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện
dân chủ ở nước ta. Quy chế không đơn thuần chỉ là một phản ứng chính trị của
Đảng và Nhà nước trước tình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở, mà thể
hiện cái nhìn hướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở nên mang tính chiến lược,
căn bản, lâu dài. Lần đầu tiên định hướng chính trị về dân chủ, phương châm để
thực hiện dân chủ như “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được cụ thể
hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở có vai trò hết sức to lớn.
Thứ nhất, thực hiện quy chế dân chủ đảm bảo quyền lực chính trị của nhân
16
dân lao động, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
do dân, vì dân ngay ở cấp chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay.
Trong một thời gian dài trước đây, nhiều địa phương đã không thực sự quan
tâm đến tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề của
làng xã. Do vậy khi QCDC được triển khai, người dân rất phấn khởi và nhiệt tình
hưởng ứng. Nơi nào làm tốt việc xây dựng và thực hiện quy chế, nơi ấy sẽ xây dựng
được phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn, có tác dụng đến nhiều mặt đời sống xã
hội. Thông qua quá trình học tập, xây dựng và thực hiện quy chế, cán bộ, nhân dân
thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời sống
dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân của người dân đã có sự chuyển
biến khá rõ.
Thứ hai, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha
hóa quyền lực của nhà nước. Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thể
hiện tập trung thông qua quyền lực của Nhà nước. Với hình thức dân chủ đại diện,
quyền lực nhà nước sẽ được giao cho một số người đảm nhận, chịu trách nhiệm
quản lý, điều hành công việc chung. Những quy luật chung là khi tập trung quyền
tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình,
cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú trọng đầy đủ đến yếu
tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. Xây dựng và phát triển văn hóa là
sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thể
sáng tạo, đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng.
Từ khi có Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị Trung
ương Đảng, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ cả hai nội dung: Triển khai quy chế
dân chủ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”
nhằm khắc phục những vấn đề nhức nhối về tư tưởng đạo đức, lối sống và xây dựng
môi trường văn hóa văn minh, lành mạnh trong từng gia đình, làng xã, vận động
nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, lối sống lành mạnh, bài trừ các hủ tục, tệ
nạn xã hội và mê tín dị đoan.
Thứ năm, thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra pháp lý để Mặt trận tổ quốc các
cấp và các tổ chức chính trị xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhà nước và
nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.
18
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy quyền
làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi
hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại
biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý chí, nguyện vọng của nhân
dân để phản ánh kiến nghị kịp thời với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng củng
cố chính quyền nhân dân; cùng nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng của nhân dân. MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên thông qua hoạt
động phối hợp tuyên truyền vận động nhân dân chỉ đạo triển khai xây dựng, thực
hiện và giám sát việc thực hiện QCDC, phát huy tốt vai trò đại diện quyền làm chủ
của nhân dân, góp phần tạo ra môi trường dân chủ lành mạnh ở cơ sở, góp phần
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [20, tr.7-8] Điều đó khẳng định MTTQ Việt Nam là
một bộ phận không thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước càng đòi
hỏi phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân. Do vậy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể thành viên càng quan trọng. Nâng
cao vai trò, tác dụng của Mặt trận trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một
yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
*Vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị.
Để hiểu rõ hơn về vai trò, chức năng của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính
trị nước ta cần phân tích kỹ các điều, khoản của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
MTTQ Việt Nam với tư cách là bộ phận của hệ thống chính trị - là một trong
những chủ thể tổ chức thực hiện, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân và
tăng cường khối đoàn kết toàn dân. Một trong những vấn đề bức xúc từ nhiều năm
nay trong số các vấn đề cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta là: Làm thế nào có
những đòn bẩy để thực sự phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. Vấn đề
này có thể thấy trong vai trò của MTTQ Việt Nam. Luật MTTQ Việt Nam ra đời là
một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ trọng đại đó, xác định địa
vị pháp lý của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị và là một công cụ pháp lý
hữu hiệu tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.
MTTQ Việt Nam tập hợp nhân dân thông qua các đoàn thể và cá nhân rộng
rãi trong toàn xã hội để trở thành một bộ phận của hệ thống chính trị. Việc tự nhân
dân đứng ra tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của mình thông
20
qua MTTQ Việt Nam với tư cách một bộ phận của hệ thống chính trị thể hiện ở bản
chất và tính nhân dân của MTTQ Việt Nam, ở nhiệm vụ và chức năng của MTTQ
Việt Nam trong hệ thống chính trị và ở quan hệ của MTTQ Viêt Nam với Nhà
nước.