TRƯƠNG HỒNG PHÚC
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HỒNG PHÚC
NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG
VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
KHÓA IX/2018
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HỒNG PHÚC
KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG
VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC........................... 23
2.1. Quy định về kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ ........................................................................................... 23
2.2. Tổng quan về kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức ...................................... 34
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm sát việc
khám nghiệm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh .............................................. 48
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT
KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM
GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN QUẬN THỦ ĐỨC.......... 62
3.1.Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến kiểm sát khám nghiệm hiện
trường các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ .................... 62
3.2. Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành; phân công, bố trí cán bộ thực hiện hoạt
động kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ án Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ.................................................................................................. 67
3.3. Nâng cao nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ và kiện toàn đội ngũ Kiểm sát viên
tại Viện kiểm sát nhân dân địa phương đảm bảo yêu cầu công tác .......................... 69
3.4. Tăng cường mối quan hệ phối hợp; đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ
hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ án Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ............................................................................................ 74
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- BLHS
: Thành phố Hồ Chí Minh
- TNGTĐB : Tai nạn giao thông đường bộ
- VAHS
: Vụ án hình sự
- VKS
: Viện kiểm sát
- VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
- Bảng 2.1:
Số vụ TNGT có dấu hiệu tội phạm Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM (Năm
2015 – Năm 2019);
- Bảng 2.2:
Số liệu về khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức,
TP.HCM (Năm 2015 – Năm 2019);
- Bảng 2.3:
bằng nhiều hoạt động khác nhau, trong đó không thể thiếu hoạt động KNHT và hoạt
động kiểm sát KNHT của cơ quan có thẩm quyền. Thống kê cho thấy, trong 5 năm
qua, Cơ quan điều tra và Cảnh sát giao thông Công an quận Thủ Đức đã khám nghiệm
tổng số 585 hiện trường vụ TNGTĐB có hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng,
1
trong đó có 60 vụ có quyết định khởi tố vụ án hình sự, tất cả đều là án Vi phạm quy
định về TGGTĐB. Việc KNHT các vụ, việc trên đều có sự tham gia kiểm sát KNHT
của VKSND quận Thủ Đức ngay từ ban đầu, đảm bảo hoạt động KNHT được thực
hiện một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác, góp phần giải quyết hiệu quả các vụ án Vi
phạm quy định về TGGTĐB xảy ra trên địa bàn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, có lúc, có nơi hoạt động kiểm sát KNHT
các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB vẫn còn những hạn chế nhất định, xuất phát
từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cả về nhận thức lý luận, pháp lý cũng như điều kiện
đặc thù của địa phương, đòi hỏi cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao hơn nữa
chất lượng, hiệu quả của hoạt động này, từ đó góp phần vào việc giải quyết hiệu quả
các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB xảy ra trên thực tế.
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Kiểm sát khám nghiệm hiện
trường vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, từ thực tiễn quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh” một cách hệ thống, cả về mặt lý luận và thực tiễn,
đề xuất những giải pháp hữu ích góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt
động kiểm sát KNHT các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB, xảy ra trên địa bàn
quận Thủ Đức, TP.HCM và tại các địa phương khác trên cả nước là đáp ứng được
yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vi phạm quy định về TGGTĐB là tội phạm xảy ra phổ biến ở hầu hết các địa
phương và hoạt động kiểm sát KNHT các vụ án về tội phạm này được VKSND các
cấp, đặc biệt là các VKSND cấp huyện thường xuyên thực hiện do phân cấp về thẩm
TNGTĐB tại địa bàn thành phố Hà Nội, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai
trò của VKSND đối với hoạt động này trong thời gian tới.
+ “Kiểm sát điều tra tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ
thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Tuyên, Học viện khoa
học xã hội năm 2018. Luận văn đã tập trung nghiên cứu công tác kiểm sát điều tra
các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của
VKSND ở tỉnh Lạng Sơn từ năm 2013 đến năm 2017, đánh giá những kết quả đã đạt
được, nguyên nhân của những kết quả đã đạt được và những mặt còn tồn tại, hạn chế,
đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm
sát điều tra đối với loại tội phạm này ở tỉnh Lạng Sơn.
3
Trong hai Luận văn trên, những nội dung nghiên cứu về kiểm sát KNHT các
vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB chưa thật sự sâu sắc và đầy đủ. Các quy định
pháp luật có liên quan về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cũng như quy trình nghiệp vụ
của KSV khi tiến hành hoạt động này trên thực tế chưa được làm rõ.
- Bài viết khoa học:
+ “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường
trong các vụ tai nạn giao thông” của tác giả Tạ Thanh Bình được đăng trên Tạp chí
Kiểm sát số 13 (7/2011). Thông qua việc phân tích, làm rõ những hạn chế, vướng
mắc và nguyên nhân trong thực tiễn kiểm sát KNHT trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
kiểm sát KNHT đối với các vụ tai nạn giao thông đường bộ nói chung, bao gồm cả
các vụ án hình sự và các vụ việc không có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
- “Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành khám nghiệm hiện trường các vụ
tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào ban đêm” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn
đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Số 16/2017. Nội dung bài viết chia sẻ kinh nghiệm quý
báu khi tiến hành khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy
KNHT các vụ án về tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về một số vấn đề lý luận và thực trạng hoạt
động kiểm sát việc KNHT các vụ án về tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB (bao
gồm tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB quy định tại Điều 260 BLHS năm
2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS hiện hành) và tội phạm Vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại điều 202 Bộ
luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009) (Sau đây được gọi chung là tội
phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB.)
- Về không gian: Địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM.
- Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận triết học duy vật biện chứng Mác
- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, chính sách TTHS, về công tác kiểm sát được
5
thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tác giả sử dụngcác phương pháp nghiên cứu
cụ thể như sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ quá trình
nghiên cứu đề thực hiện các nhiệm vụ và đạt được mụcđích nghiêncứu đề ra.
+ Phương pháp so sánh được sử dụng trong quá trình đối chiếu, so sánh số liệu
thực tiễn liên quan đến kiểm sát KNHT các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB để
đánh giá được tình hình có liên quan. Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng
để dối sánh quy định của pháp luật có liên quan đến kiểm sát KNHT với việc thực
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm sát khám nghiệm
hiện trường vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn
quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
7
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM
HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ
án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ
1.1.1.1. Khái niệm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ
Tham gia giao thông đường bộ là hoạt động thuộc về nhu cầu của đa số người
dân. Việc tuân thủ các quy định về tham gia giao thông không chỉ là đòi hỏi của Nhà
nước đối với mỗi cá nhân nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội mà còn góp phần hạn
chế những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra về người và tài sản. Theo đó, hành vi vi
phạm pháp luật về tham gia giao thông đường bộ tùy theo tính chất, mức độ nguy
hiểm sẽ bị áp dụng các biện pháp xử lý tương ứng. Trong trường hợp, hành vi đó thỏa
mãn các yếu tố cấu thành của tội phạm được quy định trong BLHS thì việc xử lý hành
vi đó phải thực hiện theo các quy định về tố tụng hình sự và hình sự hiện hành, cụ thể
là tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB được quy định tại Điều 260 BLHS năm
2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS hiện hành). Tội phạm này trước đây
được quy định quy định tại điều 202 Bộ luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm
2009 và Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 với tên gọi là tội Vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Sự thay đổi tên tội danh từ tội “Vi phạm
gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác.
- Chủ thể của tội phạm này là người tham gia giao thông đường bộ, bao
gồm: người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ;
người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ (Khoản 22 Điều 3 Luật
Giao thông đường bộ năm 2008). Người đó có khả năng nhận thức, khả năng điều
khiển hành vi, từ đủ 16 tuổi trở lên.
- Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm các yếu tố lỗi, động cơ, mục đích. Trong
đó, khi nghiên cứu về tội phạm quy định về TGGTĐB, yếu tố động cơ, mục đích
9
trong mặt chủ quan không được phản ánh trong cấu thành tội phạm. Riêng yếu tố lỗi
của người phạm tội này được xác định là lỗi vô ý. Người phạm tội này có thể có lỗi
vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Nói cách khác, người phạm tội tuy thấy trước
hành vi vi phạm quy định về TGGTĐB của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc
người phạm tội không thấy trước hành vi vi phạm quy định về TGGTĐB của mình
có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước
hậu quả đó.
Những phân tích nêu trên cho thấy, tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB
là một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS có những đặc điểm riêng phân biệt
với vi phạm pháp luật và các tội phạm khác.
Hiện trường trong vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB nói riêng và hiện
trường VAHS nói chung chưa được quy định cụ thể trong BLTTHS. Tuy nhiên, trong
khoa học điều tra hình sự - ngành khoa học liên quan chặt chẽ với tố tụng hình sự đã xác định khái niệm về “hiện trường” như sau: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát
hiện vụ việc mang tính hình sự” [49, tr.56]. Nơi xảy ra vụ việc mang tính hình sự
được hiểu là không gian, địa điểm đã xảy ra hành vi của con người làm phương hại
đến khách thể được luật hình sự bảo vệ. Tại nơi đó tồn tại những dấu vết, vật chứng
quan trọng nếu được phát hiện, khai thác tốt sẽ là cơ sở để tái hiện toàn bộ vụ việc đã
đó có đặc điểm là: “xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, thể hiện đặc điểm của
chúng trên các vật chất khác, tồn tại ở dạng vật thể và các chất cụ thể, biến đổi vật
chất vốn có. Dù hình thức tồn tại nào, phản ánh vậy chất cũng có thể được con người
tri giác trực tiếp như cầm cắm, sờ, mó, cân, đong , đo, đếm, quan sát hình dạng, kích
thước, màu sắc...”[49, tr.223]. Do đó, để điều tra, làm rõ tội phạm và người phạm tội
Vi phạm quy định về TGGTĐB, cơ quan và người có thẩm quyền không thể không
tiến hành các hoạt động điều tra tại hiện trường bởi mọi vụ án Vi phạm quy định về
TGGTĐB đều có hiện trường và tại hiện trường của vụ án luôn tồn tại những phản
ánh vật chất có liên quan trực tiếp đến tội phạm và người phạm tội, đó là những dấu
vết hình sự.
Thực tiễn cho thấy, tại hiện trường vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB
thường xuất hiện các dấu vết hình sự như: Dấu vết phanh, dấu vết máu, dấu vết vân
lốp xe, các loại dấu vết khác như: mảnh vỡ, bùn đất, sơn, kính, gỉ sắt, chất lỏng, hàng
11
hoá, vật liệu, vết cày xước trên đường... Thông thường, dấu vết hình sự nói chung
xuất hiện ở nơi diễn ra hành vi của chủ thể tác động, bao gồm: Địa điểm chuân bị tội
phạm, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội và địa điểm che dấu tội phạm. Riêng đối
với dấu vết hình sự của tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB thì chỉ tồn tại ở nơi
tội phạm được thực hiện hoặc nơi che giấu tội phạm (nơi phát hiện tội phạm) bởi tội
phạm này không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Mỗi dấu vết hình sự đều chứa đựng những lượng thông tin nhất định phản ánh
diễn biến, bản chất của vụ án. Do đó, việc phát hiện, thu thập, đánh giá dấu vết hình
sự thông qua hoạt động điều tra tại hiện trường vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB
để phục vụ điều tra, làm rõ bản chất vụ việc là điều hết sức cần thiết.
1.1.1.2. Đặc điểm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ
Với bản chất là là nơi xảy ra, nơi phát hiện vụ án Vi phạm quy định về
1.1.2.1. Khái niệm khám nghiệm hiện trường vụ án vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ
Mối quan hệ giữa dấu vết hình sự và hiện trường vụ án Vi phạm quy định về
TGGTĐB như đã phân tích cho thấy rằng: KNHT là hoạt động điều tra quan trọng
được tiến hành trong tất cả các vụ án có hiện trường, đặc biệt là các vụ án Vi phạm
quy định về TGGTĐB. Các nghiên cứu về KNHT đều chỉ ra rằng: Bản chất của hoạt
động KNHT là một hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự, do chủ thể có thẩm quyền
tiến hành nhằm nghiên cứu, ghi nhận, mô tả hiện trường; phát hiện, thu thập, đánh
giá các dấu vết, vật chứng, các tin tức, tài liệu liên quan tại hiện trường phục vụ cho
điều tra, xử lý tội phạm Vi phạm quy định về TGGTĐB.
Thống nhất với nhận thức về KNHT nêu trên, kết hợp với những hiểu biết về
hiện trường vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB, tác giả cho rằng KNHT vụ án Vi
phạm quy định về TGGTĐB được hiểu như sau:
Khám nghiệm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB là hoạt động
điều tra hình sự do chủ thể có thẩm quyền tiến hành trong quá trình giải quyết các
vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB, nhằm nghiên cứu, ghi nhận, mô tả hiện trường;
phát hiện, thu thập, đánh giá các dấu vết, vật chứng, các tin tức, tài liệu có liên quan
tại hiện trường, phục vụ cho việc khởi tố, điều tra tội phạm và người phạm tội.
13
1.1.2.2. Đặc điểm của hoạt động khám nghiệm hiện trường vụ án vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ
Là hoạt động điều tra được thực hiện trong quá trình giải quyết các vụ án Vi
phạm quy định về TGGTĐB, KNHT có những đặc điểm sau đây:
- Khám nghiệm hiện trường vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB là hoạt động
điều tra được thực hiện trên cơ sở quy định chung của BLTTHS và các văn bản quy
pháp phạm luật có liên quan về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động
KNHT nói chung.
vụ để phát hiện, thu thập các dấu vết, vật chứng tại hiện trường, phát hiện, thu thập
dấu vết, vật chứng; chụp ảnh hiện trường; vẽ sơ đồ hiện trường; lập biên bản khám
nghiệm hiện trường...
KSV của VKSND có thẩm quyền thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của các chủ thể nêu trên trong quá trình KNHT.
Người chứng kiến việc KNHT là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động KNHT, có trách nhiệm xác nhận
nội dung, kết quả công việc mà người có thẩm quyền đã tiến hành trong khi mình có
mặt và có thể nêu ý kiến cá nhân. Ý kiến này được ghi vào biên bản. Sự có mặt của
người chứng kiến trong khi KNHT là bắt buộc.
+ Chủ thể tham dự KNHT có thể là nhà chuyên môn, người phiên dịch, người
có liên quan đến vụ án như bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng. Những
người này tham dự việc khám nghiệm khi Cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy cần
thiết. Sự có mặt của những người này không phải là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính
hợp pháp cho hoạt động KNHT.
Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể tham gia KNHT được điều chỉnh
bởi BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến KNHT, trong đó
bao gồm các văn bản hướng dẫn về quy trình chuyên môn, nghiệp vụ trong KNHT
các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB do các cơ quan hữu quan ban hành.
- Kết quả của hoạt động KNHT các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB là
Biên bản KNHT.
Biên bản KNHT là tài liệu pháp lý, ghi nhận tình hình thực tế khách quan ở
hiện trường và kết quả KNHT bằng hình thức mô tả. Nội dung biên bản KNHT phải
đầy đủ, chính xác, khách quan và toàn diện, phù hợp với các tài liệu khác như sơ đồ
15
hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu thu được tại
hiện trường. Biên bản KNHT được coi nguồn là chứng cứ chỉ khi được xác lập theo
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS. Trong khi đó, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt
động của VKSND nhằm kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định
của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp ở các lĩnh vực khác nhau, nhằm
đảm bảo hoạt động tư pháp được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ,
chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải
được phát hiện nhằm khắc phục và xử lý nghiêm minh. Trong lĩnh vực hình sự, VKS
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân từ khi tiếp nhận tin
báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
cho đến khi thi hành án hình sự
Có thể thấy rằng, kết quả giải quyết VAHS phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng,
hiệu quả của các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người có thẩm quyền,
đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Mọi hành vi, quyết định tố
tụng trái pháp luật, không được thực hiện, ban hành một cách thận trọng, kịp thời đều
có thể dẫn đến khả năng gây oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Nói cách khác, kết quả của các
hành vi, quyết định tố tụng chính là những điều kiện cho thực hành quyền công tố có
hiệu quả và ngược lại. Do đó, nếu hoạt động kiểm sát không kịp thời phát hiện những
vi phạm, thiếu sót trong hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
để kịp thời khắc phục thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát. Chính vì thế, trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự, Viện kiểm sát không thể tách rời hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách
độc lập mà hai chức năng đó phải thực hiện song trùng và có sự tác động tương hỗ
lẫn nhau, nhằm đảm bảo việc giải quyết VAHS được tiến hành một cách kịp thời,
đúng pháp luật. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 20 BLTTHS, đó là: “Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi
hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải
được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
Là một hoạt động nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong
quá trình giải quyết các vụ án Vi phạm quy định về TGGTĐB, kiểm sát KNHT các
vụ án này có những đặc điểm sau:
18