Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận thủ đức, thành phố hồ chí minh - Pdf 65

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................................................................... 8
1.1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm .................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong
xét xử sơ thẩm ............................................................................................ 8
1.1.2. Đặc điểm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong
xét xử sơ thẩm .......................................................................................... 16
1.2. Nội dung bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự...................................................................................... 20
1.2.1. Bảo đảm bằng pháp luật ................................................................. 20
1.2.2. Bảo đảm bằng hoạt động thực tiễn xét xử sơ thẩm ......................... 24
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ ........................................................................................................ 31
2.1. Bảo đảm nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội ..................................................................................................................... 31


2.1.1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, bảo đảm quyền và lợi ích tốt
nhất của người dưới 18 tuổi phạm tội ...................................................... 32
2.1.2. Bảo đảm quyền bào chữa ............................................................... 39

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS
BLTTHS
HĐXX
HTND
KSV
NBC
TAND
TNHS
TGTT
THTT
TTHS
VKS

Bộ luật hình sự
Bộ Luật tố tụng hình sự
Hội đồng xét xử
Hội thẩm nhân dân
Kiểm sát viên
Người bào chữa
Tòa án nhân dân
Trách nhiệm hình sự
Tham gia tố tụng
Tiến hành tố tụng
Tố tụng hình sự
Viện kiểm sát


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

tuổi chưa đầy đủ nên dễ bị tổn thương, dễ bị lôi kéo, tác động dẫn đến
hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Hoạt động tố tụng được tiến hành
nhằm bảo vệ quyền con người nhưng cũng chính trong hoạt động tố tụng
này mà quyền con người dễ bị vi phạm nhất [20], dễ gây ra những tổn
thương về thể chất, tinh thần đối với người dưới 18 tuổi. Trong tuyên
ngôn quốc tế nhân quyền, Liên Hợp Quốc đã công bố rằng, trẻ em có
quyền được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ [19]. Do đó, bảo đảm quyền con
người nói chung và bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội nói
riêng là giá trị quan trọng và là đối tượng bảo vệ của pháp luật TTHS.
Mục tiêu hướng đến của pháp luật TTHS là phòng ngừa và ngăn chặn vi
phạm từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm
bảo đảm không bỏ lọt người, lọt tội nhưng cũng không làm oan người vô
tội.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế dẫn đầu cả nước.
Quận Thủ Đức có vị trí địa lý là quận ngoại thành, cửa ngõ phía đông
bắc của Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều trục đường giao thông huyết
mạch nối các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai... vào trung tâm
thành phố. Đồng thời, đây cũng là địa phương có nhiều trường đại học,
khu chế xuất, khu công nghiệp, chợ đầu mối nông sản nên có nhiều lợi
thế quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Là địa phương được thành
lập từ năm 1997 trên cơ sở tách ra từ huyện Thủ Đức, quận Thủ Đức có
quỹ đất trống dồi dào, sự phát triển nhanh chóng của những khu dân cư

1


tự phát, khu nhà trọ... dẫn đến số lượng dân nhập cư đông, trình độ dân
trí có sự phân hóa nhiều, số lượng học sinh và những người trong độ tuổi
học sinh nhưng không được đến trường chiếm tỷ lệ không nhỏ. Cùng với
sự phát triển của kinh tế xã hội, tình hình phạm tội của người dưới 18

pháp lý của việc bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội như:
- GS.TS Võ Khánh Vinh – Bình luận khoa học Bộ Luật tố tụng
hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004;
- Ths. Đinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ Luật Hình Sự 1999,
Nxb Tổng Hợp, TP.HCM, 2006;
- TS. Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) – Đảm bảo quyền con người
trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ
Chí Minh, 2010;
- Đặng Thanh Nga, Trương Quang Vinh – Người chưa thành niên
phạm tội, đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2011;
- TS. Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) – Bình luận những điểm mới cơ
bản của Bộ Luật TTHS năm 2015, Nxb Hồng Đức, 2016;
- PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Những nội dung mới trong
Bộ luật TTHS năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016;
- GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, TS.LS Phan Trung Hoài – Bình luận
khoa học Bộ Luật TTHS năm 2015 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2018;
- Các bài viết về những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và
bảo đảm quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật tố
tụng hình sự Việt Nam đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp
chí Cảnh sát nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân trong
những năm vừa qua.
Những công trình nghiên cứu nêu trên là các tài liệu tham khảo
quan trọng để hoàn thiện đề tài này. Bên cạnh đó, đã có một số luận văn

3


thạc sĩ luật học nghiên cứu liên quan đến thủ tục tố tụng đối với người

pháp bảo đảm hơn nữa quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của người dưới
18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Phân tích các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo
đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự.
- Đánh giá thực tiễn bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội
trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những quyền cần được bảo
đảm của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những quy định của pháp luật về bảo đảm quyền
của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm tại Chương XXVIII
Bộ luật TTHS năm 2015 và những quy định có liên quan.
Thực tiễn đảm bảo quyền của của người dưới 18 tuổi trong xét xử sơ
thẩm được khảo sát, đánh giá trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh. Thẩm quyền xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân

5




địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó có những đề xuất có
thể phục vụ cho việc đảm bảo quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong
xét xử sơ thẩm, công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm tại địa phương
và dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa học pháp lý tố
tụng hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của người dưới
18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện
hành về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
Chương 3: Thực tiễn bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại quận Thủ Đức và giải pháp.

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền của người dưới 18
tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm
1.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm
Người dưới 18 tuổi là những người chưa phát triển đầy đủ về thể

toàn bộ phiên tòa; phiên tòa diễn ra công khai sẽ có sự tham gia của
nhiều người tham gia tố tụng và người tham dự phiên tòa. Những đặc
điểm này dễ gây cho người phạm tội dưới 18 tuổi cảm giác cô độc, xấu
hổ, sợ hãi, ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lý, nhận thức của
người phạm tội dưới 18 tuổi. Việc xử lý hình sự đối với người dưới 18
tuổi phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát
triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, cần phải
bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội để hiện thực hóa mục
đích xử lý hình sự, đảm bảo được mục đích, ý nghĩa của công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm.
Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tại Điều 4 Quy tắc Bắc Kinh
hướng dẫn rằng, điểm bắt đầu của giới hạn tuổi chịu TNHS không được
quy định ở mức quá thấp, phải chú ý tới sự phát triển của cảm xúc, tâm
lý và nhận thức của người chưa thành niên. Tức là việc quy định tuổi tối
thiểu của TNHS phải đủ cao để đảm bảo trẻ em đã nhận thức được tính
chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội thì mới có thể phải chịu TNHS.
Trên thực tế, tuổi tối thiểu của TNHS được quy định rất khác nhau giữa
các quốc gia, từ 6 đến 18 tuổi, hoặc không được quy định. Theo so sánh

9


giữa các quốc gia về tư pháp người chưa thành niên thì quốc gia quy
định độ tuổi phải chịu TNHS thấp nhất là 6 tuổi (Mê Hi Cô, Hoa Kỳ),
phổ biến nhất là khoảng từ 13 đến 18 tuổi (Bỉ là 16 tuổi; Italia là 14 tuổi;
Trung Quốc là 14 tuổi; Colombia là 18 tuổi; Nga là 14 tuổi;…) [59].
BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tuổi
tối thiểu phải chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi (Điều 12). Trong bài viết này,
“người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” được
hiểu là bị can, bị cáo mà tại thời điểm phạm tội, họ từ đủ 14 tuổi đến

đồng bào lạc lối, lạc đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ” [22],
thể hiện tư tưởng bao dung với người lầm lỗi, lấy nhân nghĩa để cảm
hóa, lấy khoan hồng để đối xử, giúp đỡ người phạm tội làm lại cuộc đời,
trở thành người tốt.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác cải cách tư pháp được nêu tại Nghị quyết 48-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị là “Công tác tư pháp phải thực hiện đúng
đường lối, chủ trương của Đảng, ... phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế; giữ vững bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “Công tác tư
pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại
tội phạm hình sự...” [6]. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Ban
chấp hành Trung ương đưa ra mục tiêu cải cách tư pháp là “Xây dựng
nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” với phương hướng “hoàn thiện
các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai,
minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”; nhiệm vụ “đề cao
hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm

11


tội”, “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã
tham gia.”[7]. Chủ trương, đường lối đúng đắn này tiếp tục được nhắc
lại tại Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII [9].
Những văn kiện pháp lý quốc tế và công ước quốc tế về quyền con
người, quyền trẻ em liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự mà Việt Nam
đã tham gia có thể kể đến những văn bản sau: Tuyên ngôn quốc tế nhân

trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em”, “Tôn trọng, lắng
nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em” (Điều 5);
nghiêm cấm “Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình”,
“Công bố, Tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ
em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha,
mẹ, người giám hộ của trẻ em” (Điều 6) [39].
Quan điểm của Đảng là tổ chức thực hiện tốt các điều ước mà Nhà
nước ta đã tham gia [7]. Theo khoản 2.3 Quy tắc Bắc Kinh: “Trong mỗi
hệ thống pháp luật quốc gia, cần phải cố gắng xây dựng một hệ thống
các văn bản pháp luật, những quy tắc, quy định áp dụng riêng đối với
người chưa thành niên phạm tội, và phải hình thành các tổ chức, các cơ
quan được giao phó chức năng áp dụng tư pháp đối với người chưa thành
niên” [18]. Để thực hiện được điều này, chính sách hình sự được cụ thể
hóa bằng hệ thống văn bản luật hình sự mà cơ bản là Bộ luật Hình sự, Bộ
luật TTHS đều có những chương quy định riêng đối với người dưới 18
tuổi, phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi và buộc những chủ thể có liên
quan phải thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của họ. Hoạt
động tố tụng được tiến hành nhằm bảo vệ quyền con người nhưng cũng
chính trong hoạt động tố tụng này mà quyền con người dễ bị vi phạm
nhất [20]. Do đó, cần thiết phải đưa những chính sách hình sự vào cuộc
sống thông qua các hoạt động tố tụng và những quy định, nguyên tắc tiến
hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần phải được thực thi

13


đầy đủ.
Theo BLTTHS năm 2015, “người bị buộc tội” gồm người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ Khoản 1 Điều 4). “Bị can là
người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự” (Khoản 1 Điều 60), “Bị

thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do luật TTHS quy định thì không có
giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình
sự. Do đó, để có cơ sở xác định người bị buộc tội là có tội hoặc không có
tội, trước hết, những chủ thể được trao quyền tiến hành tố tụng phải tiến
hành hoạt động tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Nghĩa là người THTT phải thực hiện đúng, đầy đủ những hoạt động tố
tụng và chỉ trong giới hạn các hoạt động mà pháp luật cho phép.
Như vậy, quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật
TTHS cũng được xây dựng trên tinh thần các văn kiện pháp lý quốc tế,
quan điểm của Đảng và nhà nước cũng như các quy định của Hiến pháp
và pháp luật có liên quan. Hệ thống quan điểm chính trị, pháp lý đó
hướng đến cơ chế pháp lý và thực tiễn bảo đảm lợi ích tốt nhất của người
dưới 18 tuổi phạm tội trong tư pháp hình sự sự nói chung và trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
Mặc dù BLHS và BLTTHS đã quy định những nguyên tắc riêng
trong việc xử lý hình sự, tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội, hiện vẫn có một số quy định về nguyên tắc tiến hành tố tụng
chưa được cụ thể hóa thành các điều luật dẫn đến việc lúng túng trong
việc áp dụng quy định pháp luật, như: nguyên tắc bảo đảm giữ bí mật cá
nhân của người dưới 18 tuổi, nguyên tắc bảo đảm quyền được trợ giúp
pháp lý của người dưới 18 tuổi, nguyên tắc bảo đảm giải quyết nhanh
chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.
Hiệu quả bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội phụ
thuộc rất lớn vào việc thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và trách

15


nhiệm của những chủ thể bảo đảm quyền. Thực tế, nhiều trường hợp
VKS, Tòa án có sự lạm dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18

luật. Quyền công dân luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân. Quyền
công dân là quyền do Nhà nước thừa nhận cho công dân có quốc tịch của
quốc gia đó.
Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người:
“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo
vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc
mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của
con người”.
Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự, và
chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa vào
năm 1982. Hiến pháp năm 1992 ghi nhận quyền con người thể hiện ở
quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến
pháp năm 2013 không còn đồng nhất quyền con người và quyền công
dân như tại Điều 50 Hiến pháp năm 1992 mà sử dụng thuật ngữ “quyền
con người”, “quyền công dân” riêng biệt. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các
quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và
pháp luật” [35]. Do đó, người bị buộc tội phải được bảo đảm về quyền
con người theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989:
“Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp
luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm
hơn” [17]. Việt Nam đã phê chuẩn công ước này năm 1990. Điều 1 Luật
Trẻ em năm 2016 của nước ta quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.

17


Như vậy, người bị buộc tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì ngoài

tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm mà cụ thể là bảo đảm những nguyên
tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, có nội hàm
gồm bảo đảm quyền được công nhận trong cái chung và quyền được
hưởng những ưu đãi đặc biệt của pháp luật phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của lứa tuổi.
- Đặc điểm về chủ thể bảo đảm quyền: đó là người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số
chủ thể khác có liên quan.
Chủ thể bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trước hết
là Nhà nước. Nhà nước quy định quyền của bị can, bị cáo trong luật
TTHS nên để thực thi các quyền này, Nhà nước là một chủ thể đảm bảo
quyền thông qua hệ thống pháp luật, cơ quan áp dụng pháp luật. Theo
quy định của luật TTHS, cơ quan THTT, người THTT được Nhà nước
giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động tố tụng, cụ thể là các hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử.
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, những chủ thể bảo đảm quyền của
bị can, bị cáo là cơ quan THTT (gồm Tòa án, Viện kiểm sát) và người
THTT (gồm Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký
Tòa án, KSV). Bằng việc thực hiện những quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm
được quy định trong luật TTHS, những chủ thể này bảo đảm quyền của
người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua hệ thống pháp luật TTHS và
những hoạt động tố tụng thực tiễn.
Bên cạnh đó, luật TTHS còn quy định việc tham gia tố tụng của
người đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức. Để quyền của người dưới
18 tuổi phạm tội được thực thi đầy đủ, chủ thể bảo đảm quyền còn là
người đại diện của họ, người bào chữa, nhà trường, Đoàn thanh niên.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status