VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH TÚ
PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2020
…,, năm
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH TÚ
PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VŨ THỊ DUYÊN THỦY
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI ............................................................. 58
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải . 58
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải ............................................................................................................................ 60
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh. ............................................ 66
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................. 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Phí bảo vệ môi trường:
Phí BVMT
Sở Tài Nguyên & Môi Trường:
Sở TN&MT
Ngân Sách Nhà Nước:
NSNN
Thành phố Hồ Chí Minh:
TP.HCM
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
1
trưởng kinh tế và BVMT. Công cụ này được thực hiện thông qua việc Nhà
nước thu phí BVMT đối với nước thải. Phí BVMT đối với nước thải đã tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chủ động hơn trong việc tạo
lập kế hoạch BVMT kết hợp giữa phí BVMT và chi phí sản xuất kinh doanh
vào giá thành của sản phẩm.
Đến thời điểm hiện tại, những văn bản được ban hành để điều tiết về
phí BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng có thể kể đến
như: Nghị định số 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ về phí BVMT đối với
nước thải; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân
TP.HCM về việc điều chỉnh mức thu phí BVMT đối với nước thải công
nghiệp trên địa bàn TP.HCM; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP của Chính phủ
về thoát nước và xử lí nước thải; Luật BVMT năm 2014. Những văn bản này
đã thể hiện rõ sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền TP.HCM
trong công tác BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, công tác thi hành các quy định về phí BVMT đối
với nước thải còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong công tác quản lí và BVMT.
Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu về phí BVMT đối với nước thải là điều
cần thiết trong hệ thống các công cụ kinh tế ở lĩnh vực BVMT.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia, trong đó, phí
BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng là một công cụ
kinh tế quan trọng trong việc BVMT và công tác quản lí môi trường. Đây là
vấn đề cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nên cũng đã
có nhiều công trình nghiên cứu từ những khía cạnh tiếp cận khác nhau để làm
rõ về vấn đề này.
Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về phí
chủ biên. Nội dung trọng tâm của sách quy định pháp luật và thực tiễn thi
hành một số công cụ kinh tế trong BVMT ở Việt Nam. Phân tích ưu nhược
3
điểm của các công cụ này, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng công cụ trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Hay bài nghiên cứu “Thực trạng áp dụng một số công cụ kinh tế trong
quản lý môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Nhật
Nguyên (2013) trên Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 5 (3/2010).
Qua những bài nghiên cứu trên cho thấy rằng vấn đề phí BVMT là một
trong những vấn đề khá quan trọng, được nhiều học giả quan tâm. Tuy nhiên,
mỗi công trình lại nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau về phí BVMT, có
công trình chỉ dừng lại ở phí BVMT đối với từng loại nước thải, chưa có công
trình nào nghiên cứu đầy đủ về phí BVMT đối với nước thải được áp dụng tại
một địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận
về pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP.HCM.
Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống những vấn đề lý luận về phí và pháp luật
về phí BVMT đối với nước thải, từ đó đề xuất những giải pháp, phương
hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này nhằm đáp ứng tốt
các yêu cầu trong công tác BVMT.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để luận văn đạt được những mục tiêu nói trên, tác giả đặt ra những
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Một là phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về phí BVMT và
với nước thải từ những khái niệm chung đến thực trạng pháp luật, thực tiễn
thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải.
5
Với đề tài “Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo pháp luật Việt
Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả còn nghiên cứu thêm
những quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước, của HĐND, UBND
Thành Phố về phí BVMT đối với nước thải, từ đó phân tích và thực tiễn thi
hành của những quy định này. Song song đó, tác giả sẽ tìm hiểu thêm một số
quy định về phí BVMT đối với nước thải của một số quốc gia trên trên thế
giới để rút ra bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về phí
BVMT ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, trong quá
trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin.
Phương pháp so sánh, phân tích, diễn giải, bình luận… được sử dụng
trong chương 1 khi nghiên cứu, đưa ra quan niệm về các vấn đề lý luận của
phí BVMT và pháp luật về phí BVMT đối với nước thải.
Với phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề, tác giả sử dụng
trong chương 2 và chương 3 để tìm hiểu về thực tiễn thi hành pháp luật và
thực trạng về phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn thành phố; từ đó chỉ ra
một số điểm đạt được và chưa được trong công tác thực hiện để rút ra bài học
kinh nghiệm, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
trong việc BVMT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
1.1 Khái quát về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.1.1 Khái niệm và phân loại về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.1.1.1 Sơ lược về sự hình thành về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải
Trên thế giới, phí BVMT đối với nước thải là một trong những công cụ
kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm
môi trường. Phí nước thải đã được áp dụng từ khá lâu ở nhiều nước phát triển
như: ở Phần Lan áp dụng năm 1961, ở Thụy Điển từ năm 1970, ở Đức từ năm
1980…đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm
do nước thải gây ra ở nước này [38]. Còn ở các nước đang phát triển, phí
nước thải được áp dụng chậm hơn, ví dụ như ở Trung Quốc và Malaysia được
áp dụng từ năm 1978, ở Philippines và Thái Lan từ năm 2000…
Ở Việt Nam, trước năm 2003, pháp luật hầu như không có quy định cụ
thể nào về việc thu phí BVMT đối với nước thải. Trong Pháp lệnh Phí và lệ
phí năm 2002, phí BVMT đối với nước thải được đề cập trong danh mục phí
BVMT và thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, nhưng chưa có văn bản
nào quy định chi tiết về loại phí này. Do không có cơ sở pháp lý cụ thể cho
việc thu phí BVMT đối với nước thải, nên về cơ bản, loại phí này mới chỉ
được nhắc tên trong quy phạm pháp luật mà chưa được đưa vào thực hiện trên
thực tế.
Ngày 13/6/2003, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số
67/2003/NĐ-CP quy định về phí BVMT đối với nước thải, có hiệu lực từ
1/1/2004. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên quy định cụ thể về phí BVMT đối với
9
Quỹ BVMT của địa phương, trả nợ vay đối với các khoản vay của các dự án
thoát nước thuộc nhiệm vụ của ngân sách địa phương.
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về phí BVMT phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, ngày 29/3/2013, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí BVMT đối với
nước thải thay thế cho những văn bản trước đây quy định về loại phí này.
Cùng thời điểm đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Tài chính
ban hành Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTN&MT ngày
15/5/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ-CP. Sự ra đời của
những văn bản này đã khắc phục một số những vướng mắc về phí BVMT đối
với nước thải ở những văn bản trước như: xác định đầy đủ và bao quát các đối
tượng nộp phí, tránh tình trạng thu phí trùng có thể xảy ra; khắc phục khó
khăn trong việc xác định lưu lượng nước thải chủ yếu thông qua hệ thống
cung cấp nước sạch; cải cách thủ tục kê khai và thẩm định tờ khai phí BVMT
đối với nước thải công nghiệp.
Ngày 16/11/2016, Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số
154/2016/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải (có hiệu lực thi hành từ
01/01/2017) đã quy định rõ các đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải
bao gồm nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Ngoài ra, Nghị định
còn bổ sung quy định hộ gia đình là người nộp phí do Nghị định số
25/2013/NĐ-CP đã quy định đối tượng chịu phí BVMT là nước thải từ hộ gia
đình nhưng lại chưa quy định hộ gia đình là người nộp phí. Với đối tượng
miễn phí BVMT được bổ sung hai thêm đối tượng là: nước thải từ các
phương tiện đánh bắt thủy, hải sản của ngư dân và nước thải sinh hoạt tập
trung do đơn vị vận hành quản lý, vận hành hệ thống thoát nước tiếp nhận và
đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định xả thải ra môi trường.
định là hữu hiệu hơn cả. Bên cạnh đó, phí bảo vệ môi trường đối với nước
11
thải được xác định là công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt là những nước phát triển và đem lại những kết quả đáng ghi
nhận trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra ở những nước này [35].
Ngoài việc xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn, sự ra đời của phí BVMT đối
với nước thải cũng được dựa trên những cơ sở lý luận và cơ sở chính trị, pháp
lý nhất định.
Thứ nhất, về cơ sở lý luận. Theo thông lệ quốc tế, phí BVMT đối với
nước thải là công cụ trực tiếp đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm
được áp dụng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận đó là,
nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả” (PPP) và “Người hưởng thụ phải
trả tiền” (BPP).
Đối với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” bắt nguồn từ các
sáng kiến của OECD đề ra vào năm 1972 và mở rộng năm 1974. Theo định
nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc người gây
ô nhiễm phải trả là nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho các biện
pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư
và thương mại quốc tế [39, Tr.93-117].
“Người gây ô nhiễm phải trả” có nghĩa là buộc người gây ô nhiễm
(doanh nghiệp, cá nhân hay chính quyền) phải trả hoàn toàn các chi phí về sự
phá hoại môi trường do hoạt động của họ gây ra. Điều này sẽ khuyến khích
các chủ thể đó giảm thiểu, điều tiết hành vi của mình, ít ra chi phí biên của
việc giảm ô nhiễm bằng chi phí biên của sự tổn hại do ô nhiễm đó gây ra. Để
làm được điều đó thì tổng chi phí sản xuất ra một hàng hóa, dịch vụ bao gồm
chi phí của tất cả tài nguyên được sử dụng phải được tính đủ vào giá của nó.
nhận muốn BVMT, hoặc do những cá nhân không phải trả tiền cho việc thải
ra các chất gây ô nhiễm trong giá thành sản phẩm nộp. Tuy nhiên, hạn chế của
nguyên tắc này đó là tiền không phải do các chủ thể gây ô nhiễm trực tiếp trả
13
nên sự khuyến khích đối với việc BVMT khó có thể đạt được hiệu quả cao
nhất.
Thứ hai, về cơ sở pháp lý, bảo vệ môi trường luôn được Đảng Bộ, Nhà
nước và chính quyền thành phố đặc biệt quan tâm, là một trong những chủ
trưởng, chính sách và nhiệm vụ quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Để khôi phục hiện trạng môi trường và BVMT nói
chung cũng như xử lý chất thải khắc phục nguồn nước bị ô nhiễm do chất thải
gây ra, Nhà nước đã tiến hành đồng bộ cả ba biện pháp: hành chính – kinh tế giáo dục, trong đó, biện pháp kinh tế được xem là quan trọng nhất. Nhà nước
ta là Nhà nước pháp quyền, do vậy, để quán triệt được các nguyên tắc “Người
gây ô nhiễm phải trả” và “người thụ hưởng phải trả tiền” và đưa những
nguyên tắc này vào cuộc sống thì nó cần phải được thể chế hóa bằng các văn
bản quy phạm pháp luật. Cho nên, việc thu phí BVMT đối với nước thải cần
căn cứ vào hệ thống pháp luật môi trường và những văn bản pháp luật có liên
quan.
Trước đây, Hiến pháp 1992 đã khẳng định, BVMT là nghĩa vụ của mọi
cá nhân, tổ chức trong xã hội. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nước ta xây
dựng các quy phạm pháp luật về phí BVMT nói chung và phí BVMT đối với
nước thải nói riêng. Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 24-NQ-TW ngày
03/06/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa XI) về chủ
động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT
đã ghi nhận, BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là
nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần
quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc
này”. Theo đó, Luật phí và lệ phí sẽ điều chỉnh đối với các khoản thu phí
thuộc dịch vụ công do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ
chức khác được giao thực hiện, không điều chỉnh đối với các khoản phí do
các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước cung ứng. Đồng thời, trong Danh mục
15
phí, lệ phí ban hành kèm theo cũng có liệt kê phí BVMT đối với nước thải
thuộc về nhóm phí trong lĩnh vực BVMT nói riêng và lĩnh vực tài nguyên môi
trường nói chung. Loại phí này sẽ do Chính phủ quy định.
Hiện nay, văn bản điều chỉnh trực tiếp về phí BVMT đối với nước thải
là Nghị định số 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 11 năm 2016
về phí BVMT đối với nước thải.
1.1.1.3 Khái niệm phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Về khái niệm phí BVMT đối với nước thải, trên thực tế, pháp luật hiện
hành chỉ đưa ra khái niệm về phí BVMT nói chung, chưa có khái niệm cụ thể
nào là phí BVMT đối với nước thải, nhưng dựa vào những hiểu biết của tác
giả, có thể hiểu phí BVMT đối với nước thải như sau:
“Phí BVMT đối với nước thải là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải
trả cho việc xả thải gây ô nhiễm vào môi trường với mục đích giảm thiểu số
lượng nước thải chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường, đồng thời tạo
nguồn thu để phục vụ, bù đắp chi phí cho việc khôi phục và bảo vệ môi
trường”.
Nếu nhìn nhận các khoản phí thuộc nguồn thu của NSNN, có thể thấy,
khoản thu này do các tổ chức, cá nhân nộp vào quỹ NSNN khi thụ hưởng lợi
ích từ hàng hóa, dịch vụ công cộng được cung cấp bởi Nhà nước [24, Tr.160].
Chính vì vậy mà phí mang tính đối giá và tính hoàn trả trực tiếp, khác biệt so
với thuế không mang hai đặc điểm này, và khác biệt so với lệ phí không mang
tính đối giá. Khoản thu phí có tác dụng bù đắp một phần chi phí cho những
cho việc khôi phục, cải thiện chất lượng môi trường sống.
Việc thu phí BVMT đối với nước thải có thể bù đắp một phần chi phí
thường xuyên và không thường xuyên cho việc duy trì, bảo vệ và cả thiện các
thành phần môi trường, giữ gìn sự cân bằng sinh thái và các chi phí khác về tổ
17
chức và quản lý phục vụ cho vấn đề BVMT nói chung và vấn đề nước thải nói
riêng.
Hai là, việc áp dụng phí BVMT đối với nước thải không gây ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế vì mức phí này được quy định trên điều kiện
kinh tế - xã hội, thu nhập và mức sống của người dân, nên khi áp dụng loại
phí này, các nhà chuyên môn đã có sự tính toán, cân nhắc để không ảnh
hưởng việc tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Ba là, công tác thu phí BVMT đối với nước thải cũng góp phần làm
giảm ô nhiễm nước, đồng thời, tạo nguồn thu cho công tác BVMT, tái đầu tư
vào các hoạt động BVMT. Song song đó, việc thu phí cũng ảnh hưởng ít
nhiều đến hành vi của các tổ chức, cá nhân bởi vì càng thải nhiều chất độc hại
ra môi trường càng phải nộp phí nhiều và để không phải nộp phí nhiều, họ
phải cắt giảm lượng nước thải xả trực tiếp ra môi trường. Điều này cho thấy
phí BVMT đối với nước thải góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường nước,
đồng thời số phí thu được sẽ dùng cho các hoạt động xử lý, khắc phục thiệt
hại từ nước thải và các hoạt động BVMT khác.
Sau cùng, để cho việc thu phí BVMT đạt được hiệu quả cao nhất, cần
phải có hệ thống kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm đối với các hành vi
vi phạm. Việc thu đúng, thu đủ phí BVMT đối với nước thải gặp không ít khó
khăn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là công tác kiểm tra, giám
sát, thanh tra và xử lý vi phạm chưa thật sự triệt để. Vì vậy, để công tác thu
phí đạt hiệu quả, cần làm tốt hơn trong công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra
trường. [10, Khoản 3, Điều 2]
Dựa vào những tiêu chí phân loại này mà Nhà nước đưa ra những quy
định điều chỉnh hoạt động, quản lý đối với từng loại nước thải tương ứng.
Theo đó, pháp luật của Việt Nam hiện nay chỉ quy định thu phí đối với hai
loại nước thải, đó là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt vì đây là
hai loại nước thải chủ yếu, chứa hàm lượng cao các chất gây ô nhiễm. Vì vậy,
19