SẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Quốc Tuấn, Ngô Minh Thắng
NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ
Ở THAI PHỤ CÓ DỊ DẠNG TỬ CUNG ĐÔI TỪ TUỔI THAI 22
TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Nguyễn Thị Thủy(1), Nguyễn Quốc Tuấn(2), Ngô Minh Thắng(1)
(1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
TÓM TẮT
Mục tiêu: nhận xét về chẩn đoán và thái độ xử trí với
thai phụ có tử cung đôi từ tuổi thai 22 tuần tại bệnh viện
Phụ sản Trung ương. Phương pháp nghiên cứu: Hồi
cứu mô tả. Kết quả: có 43 thai phụ tử cung đôi /125000
trường hợp đẻ, tỷ lệ 1/3000. 81,4% thai phụ được chẩn
đoán trước sinh. Dị tật chủ yếu là 2 tử cung với 2 CTC và
1 âm đạo có vách ngăn dọc chiếm 25,6%. 2 tử cung với
1 CTC và 1 âm đạo chiếm 39,5%. Có 17,1% trường hợp
được nội soi chẩn đoán trước vì vô sinh. 34,3% chỉ được
chẩn đoán khi đã có thai bằng siêu âm. Bệnh nhân TC đôi
có tỷ lệ sảy thai, thai lưu: 48,8%, sảy thai liên tiếp 16,3%,
đẻ non 13,9%, vô sinh 16,3%. Tỷ lệ đẻ non dưới 37 tuần là
27,8%. 42/ 43 trường hợp là ngôi dọc trong đó có 32,5% là
ngôi ngược và 97,6% được mổ đẻ. Tuy nhiên có 67,4 % trẻ
sinh ra trọng lượng >2500g và 97,6% trẻ khỏe mạnh. Kết
luận: Dị tật tử cung đôi có thể được chẩn đoán sớm dựa
vào tiền sử, thăm khám lâm sàng kết hợp siêu âm để có
thái độ xử trí tích cực đối với thai phụ giúp làm giảm nguy
cơ đẻ non, tăng khả năng sống của trẻ
Objectives: Research about diagnosis and
management on the pregnancy with uterus didelphys
from 22 weeks gestation at the National Hospital of
OB/GYN. Methods: retrospective study. Results: 43
didelphys/125.000 births (1/3000). 81.4% case was
diagnosis prenatal. Uterus didelphys with double cervix
and double vagina: 25.6%. Which with only one cervix
and one vagina: 39.5%. 17.1% cases were diagnosed by
endoscopy infertility. 34.2% diagnosed during pregnancy
by ultrasonography. Pregnancy losses rate in history was
48.8%. Continuous miscarriage rate was 16.3%, preterm
delivery history was 13.9%, infertile rate was 16.3%.
Preterm delivery under 37 weeks was 27.8%. 42/43 cases
with vertical presentation and 32.5% breech presentation.
97.6% cesarean section. 67.4% newborn weigh >2500g
and 97.6% healthy. Conclusion: Didelphys uterine is able
to be diagnosed early base on history, clinical examination
and ultrasound in order to active management to the
patient, reduce preterm birth rate and increase survives
ability of the newborn. Cesarean section is the first choice.
Keywords:
Didelphys
uterine,
diagnosis,
malformation, gestation.
bình thường là một tử cung chột, kém phát triển, cổ
tử cung đôi khi không quan sát thấy qua đường âm
đạo, thay vào đó là một lỗ chấm nhỏ đổ vào âm đạo
hoặc bám vào một bên tử cung đôi bình thường, do
chung
2 cổ với
tử 1 âm đạo th
hai sừng
giữavách
nhưnggiữa
2 cổcó
tử cung
được khi ra ngoài. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành cung và 1 âm đạo
bình thường và 1 âm đạo tịt
nghiên cứu nhằm mục đich : “Nhận xét tình hình
14- Tử cung mất đoạn cổ tử cung
cung hai sừng chung vách giữa có 2 cổ tử cung với 2 âm đạo
chẩn đoán và thái độ xử trí đối với những thai phụ có 12- Tử
Trong
nghiên cứu này chỉ chọn những thai phụ có
cung
sừngđôi
chung
giữanhóm
có 2 cổ3tử
1 âm đạo
dị dạng tử cung đôi có tuổi thai từ 22 tuần tại Bệnh 13dị Tử
dạng
tửhai
cung
tứcvách
thuộc
vàcung
4 vìvànhóm
đoán tử cung đôi với tuổi thai từ 22
đoán xác định là tử cung đôi trước, trong hoặc sau khi có
tuần 5vào
đẻ(từtại1/2008
BVPSTW.
Trong
năm
đến 12/2012) có 43 thai phụ được chẩn đoán tử
- Các
thaiđẻ
phụtạicóBV
tuổi
thaisản
trênTrung
22 tuầnương
được từ
chẩn
đoán2008
xác định
tử cung đôi
thai,
Phụ
năm
đếnlà2012.
Tỷ lệ tử cung đôi là: 43/125.000 tổng số đẻ 5 năm
mô tả
với cỡ có
mẫuđầy
là tấtđủ
cả hồ
số thai
đạt án
tiêu và
chuẩn có
các
thông
tin
cần
thiết
trong
thời
gian
từ
2008-2012.
đầy đủ hồ sơ bệnh án và các thông tin cần thiết trong thời gian từ 2008-2012.
2.3. Tiêu chuẩn của tử cung đôi trong các loại bất thường về tử cung, cổ tử cung
2.3. Tiêu chuẩn của Tử cung Đôi Trong các loại
bấT Thường về Tử cung, cổ Tử cung và âm Đạo:
và âm đạo:
1. Tiềnsửsửthai
thai nghén
Biểu Biểu
toànnày
bộ với
cổ tử cung
âm đạo:
Loại này
cung
âmngăn
đạo:dọc
Loại
gần2 giống
vớivàtử2cung
đôi.
≥37 tuần
31
72,2
gần giống với
tử
cung
đôi.
4- Hai Tử cung với 2 cổ tử cung và 2 âm đạo (tử
Đầu
28
65,1
4- Hai
Tử cung
cung
đôi)với 2 cổ tử cung và 2 âm đạo (tử cung đôi)
ngôi thai
ngược
14
7- Tử cung hai sừng trong đó một sừng tit và không kết nối với bên kia
< 2500g
14
32,5
7- Tử cung hai sừng trong đó một sừng tit và
Trọng lượng thai
2500-3000g
16
37,2
không kết nối với bên kia
> 3000g
13
30,2
8- Tử cung một sừng
< 7 điểm
1
2,3
9- Tử cung đôi nhưng không có âm đạo
Chỉ số apgar sau 5 phút
≥ 7 điểm
42
97,7
10- Tử cung chung vách nhưng có 2 cổ tử cung và
2 âm đạo
11- Tử cung hai sừng chung vách giữa nhưng 2 cổ tử
3.3. Khám và quản lý Thai nghén Trong chẩn
cung với 1 âm đạo thông bình thường và 1 âm đạo tịt
Đoán Tử cung Đôi Trước sinh
Tạp chí Phụ Sản
Tập 11, số 02
Mổ đẻ trước đó
Hút thai lưu trước đó
Phẫu thuật ổ bụng khác
Chỉ siêu âm thai kỳ
Tổng
n
6
11
3
3
12
35
Âm đạo
Cổ tử cung
Tử cung
TC có thai
Bất thường thận
kèm theo
4.1. Tiền sử thai nghén nặng nề:
%
41,9
16,2
41,9
11
17
3
12
3.8. Hậu phẫu
4. Bàn luận
Bảng 4. Đặc điểm từng loại dị tật
n
18
17
18
17
11
15
25
3
3
12
15
24
4
1
3
39
Tất cả các trường hợp này đều mổ lấy thai theo
2 tử cung bình thường
2 TC, 1 tử cung nhỏ hơn
2 TC, 1 tử cung chột
Không đánh giá TC còn lại
Bên phải
Bên trái
Không mô tả
Chỉ có 1 thận
2 thận bình thường
Không đánh giá thận
3.7. Thái độ xử trí:
%
25,6
39,5
7,0
27,9
Tỷ lệ tử cung đôi có thai từ 22 tuần trở lên tại
BV Phụ sản trung ương:1/3000 ca đẻ tương đương
với một số báo cáo của thế giới [1].
Bất thường tử cung là 1 trong những nguyên
nhân thường dẫn đến vô sinh ở phụ nữ, chiếm
khoảng 10% các trường hợp, trong đó tử cung
dạng hình tim chiếm 57,8%, tiếp theo là tử cung
có vách ngăn với 18,2%, tử cung hai sừng và một
cổ tử cung chiếm 10,6%, tử cung hai buồng và 2
cổ tử cung chiếm 3%, tử cung có vách ngăn toàn
bộ chiếm 6%, tử cung một sừng và một cổ tử cung
thì MRI được coi chẩn đoán bất thường vùng tiểu
khung có độ nhạy đến 100%, đặc hiệu 67%.
Tuy nhiên chẩn đoán bất thường tử cung
trong thời kỳ có thai thường dựa vào siêu âm
2-D và trong một số trường hợp có thể sử dụng
kỹ thuật 3D. 12 nghiên cứu được công bố trên
PubMed đánh giá vai trò của kỹ thuật siêu âm
đầu dò âm đạo 3D chẩn đoán dị dạng tử cung có
thể chính xác tới 100% [3]. Trong nghiên cứu của
chúng tôi số bệnh nhân được chẩn đoán tử cung
đôi trước sinh khá cao 88,2% liên quan với việc
khám thai đầy đủ. Các bệnh nhân này được chẩn
đoán dựa vào tiền sử có phẫu thuật ổ bụng trước
đó (nội soi vô sinh: 17,1%; mổ đẻ : 31,4%; hút thai
lưu: 8,6%; phẫu thuật GEU, bóc U xơ tử cung, viêm
ruột thừa), chỉ dựa vào siêu âm thai kỳ có 34,3%
phát hiện thai trên bệnh nhân tử cung đôi.
Điều đó cho thấy rằng thực tế siêu âm là
phương pháp chẩn đoán nhanh chóng chính xác,
rẻ tiền chẩn đoán sớm dị dạng tử cung. Đặc biệt
nếu có siêu âm 3 D. Việc chẩn đoán sẽ chính xác
hơn nếu thai nghén trong quý đầu khi ta có thể
quan sát cả 2 tử cung đồng thời.
Chẩn đoán phân loại dị tật kết hợp (dị tật âm
đạo, cổ tử cung) chủ yếu dựa vào thăm khám lâm
sàng, đánh giá vách ngăn dọc âm đạo, đánh giá
CTC, đánh giá sự nối thông âm đạo, cổ tử cung
với buồng tử cung. Trong nghiên cứu của chúng
tôi, âm đạo có vách ngăn dọc chiếm 41,9%, 2 CTC
chiếm 25,6%, có tỷ lệ khá cao không đánh giá âm
phẫu thuật tử cung đôi. [5]
Dị tật tử cung đôi được khuyến cáo có lên
quan đến hệ thống thận và xương. Bệnh nhân có
thể có 1 thận duy nhất, bất sản thận cùng bên.
Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có
4 trường hợp: đánh giá trước mổ (1 trường hợp)
có 1 thận, đánh giá trong lúc mổ (3 trường hợp) là
2 thận bình thường. Như vậy rõ ràng thái độ của
bác sỹ trước 1 tử cung dị dạng thường bỏ qua 1
thao tác quan trọng là đánh giá hình thái và chức
năng thận.
Việc chẩn đoán sớm sẽ giúp bác sỹ có thái độ
tích cực trong theo dõi và điều trị thai phụ có dị
dạng tử cung.
4.3. Đặc điểm lâm sàng của thai nghén ở bệnh
nhân tử cung đôi
Ở bệnh nhân tử cung đôi, do buồng tử cung
hẹp, sự thay đổi về giải phẫu và sinh lý làm thai
khó làm tổ, dễ sảy thai, lưu thai, đẻ non, ngôi thế
bất thường. Sau đẻ thường có nguy cơ chảy máu,
nhiễm trùng nhiều hơn so với nhóm thai nghén ở
tử cung bình thường [1].
Đẻ non xảy ra trong 90% trường hợp tử cung
đôi, ngôi mông
phổ biến (43%) [1]. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, 27,9% trường hợp thai non tháng
(dưới 37 tuần tuổi), trong đó rất non chiếm
16,3%. Ngôi thai bất thường chiếm 34,9 % (ngôi
ngược 32,6%, ngang: 2,3%). 32,6% trọng lượng
bệnh nhân được báo cáo bởi Heinonen [1]. Trong
nghiên cứu tỷ lệ mổ lấy thai là 97,6%, mổ lấy thai
chủ động chiếm 39,5%, mổ lấy thai khi có dấu
hiệu chuyển dạ chiếm 58,1%. Đẻ thường chỉ có
1 trường hợp do đẻ nhanh, thai nhỏ. Cách thức
phẫu thuật theo phương pháp thông thường
rạch ngang đoạn dưới tử cung lấy thai. Triệt sản
nếu bệnh nhân có đủ con.
5. Kết luận
Chẩn đoán dị dạng tử cung đôi có thể chẩn
đoán sớm, chính xác. Chẩn đoán sớm tử cung đôi
có thể đơn giản dựa vào khám thai, khai thác tiền
sử thai nghén, thăm khám lâm sàng kết hợp siêu
âm 2D, 3D. Việc chẩn đoán sớm giúp việc theo
dõi và điều trị thành công giảm tỷ lệ đẻ non, tăng
khả năng sống của trẻ. Mổ lấy thai thường là lựa
chọn hàng đầu.
Tạp chí Phụ Sản
38
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Quốc Tuấn, Ngô Minh Thắng
TÀI LIỆU THAM KHẢO