ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1998 Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo là bệnh lao còn tiếp tục
gia tăng và đe doạ toàn cầu. Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu
trong các bệnh nhiễm trùng [11]. Không một châu lục nào, không một quốc
gia nào, không có người mắc và chết do lao.
Hiện nay tỉ lệ mắc lao ở Việt Nam vẫn cao. Đứng thứ 3 về tỉ lệ ở khu
vực Tây Thái Bình Dương. Được xếp vào một trong 22 nước mắc lao cao trên
thế giới [12]. Thực hiện đường lối chung của Tổ chức Y tế thế giới, chương
trình chống lao quốc gia Việt Nam phát hiện thụ động với kỹ thuật xét
nghiệm đờm nhuộm soi trực tiếp gọi là chiến lược Hoá trị liệu ngắn ngày có
kiểm soát trực tiếp (DOTS). Đến năm 1999, chiến lược DOTS đã được thực
hiện trên toàn quốc. Tuy nhiên việc thực hiện DOTS tại khu vực miền núi,
vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn. Theo ước tính của chương trình
chống lao quốc gia năm 2004, tỷ lệ lao phổi AFB đờm dương tính mới mắc là
86 và hiện mắc là 102/100.000 dân. Tháng 5 - 2004, tại hội nghị tổng kết
Chương trình chống lao quốc gia giữa giai đoạn 2001 - 2005 nêu rõ, cần quan
tâm hơn tới công tác chống lao ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc Ýt người.
Hiện nay, có nhiều tiến bộ vượt bậc trong việc chẩn đoán và điều trị,
các thuốc chống lao tốt với các phác đồ điều trị có hiệu quả đã làm tăng tỉ lệ
khỏi bệnh. Mặc dù vậy những hiểu biết sai lầm và hạn chế do nhận thức vẫn
còn tồn tại trong nhân dân, nên đã có không Ýt những trường hợp dấu bệnh
không đi khám mà hậu quả là bệnh nặng, chậm được phát hiện thậm chí rất
nặng mới tới viện.
Hà Giang là một tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc Việt Nam, với dân
số khoảng 700.000 người (theo thống kê năm 2005), trong đó tỉ lệ đồng bào
dân tộc Ýt người chiếm đa số (H’Mông: 30%; Dao: 16%; Tày: 28%; Nùng:
1
10%; Kinh: 10%; các dân tộc khác: 6%). Do điều kiện giao thông, địa hình
phức tạp, điều kiện canh tác, tập quán sinh hoạt, khả năng dân trí còn hạn chế
nên ảnh hưởng rất nhiều đến việc giáo dục truyền thông, tiêm chủng mở rộng
trong công tác phòng chống và điều trị bệnh lao.
Năm 1993, TCYTTG đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu của
bệnh lao và mối hiểm hoạ của nó trong tương lai là bệnh lao kháng thuốc,
theo TCYTTG – 1998, bệnh lao vẫn là một bệnh có số mắc và tử vong cao,
khoảng 1/3 dân số thế giới (1,9 tỷ người). Mỗi năm có tới 8 ÷ 9 triệu người
mắc lao mới và 3 triệu người chết do lao (tỉ lệ tử vong do lao chiếm 25% tổng
số chết do mọi nguyên nhân). Hiện nay, bệnh lao đang quay trở lại do đại dịch
HIV/AIDS bùng phát, tệ nạn ma tuý gia tăng kèm theo đó là tình trạng vô gia
cư, tình trạng đói nghèo hoành hành, tình trạng suy dinh dưỡng ở nhiều nơi,
nhiều nước trên thế giới. Phân bố bệnh lao trên thế giới có thể chia làm 2 khu
3
vực, khu vực các nước phát triển và khu vực gồm các nước đang, chậm phát
triển.
Tại các nước châu Âu từ năm 1990 trở lại đây bệnh lao cũng đã và
đang phát triển trở lại. Ở Anh, có khoảng 6000 bệnh nhân lao (năm 1980),
nhưng đến năm 1992 đã có khoảng 7000 bệnh nhân. Tại Thuỵ Sĩ từ năm 1986
đến năm 1990 số bệnh nhân lao tăng 33,3%; tại Đan Mạch tăng 30,7%. Ở các
nước Đông Âu từ những năm 1990 ÷1992 bệnh nhân lao đã tăng cao ở 20/27
nước với tỉ lệ từ 19 đến 80/100.000 dân. Tại các nước khu vực châu Phi, Nam
Mỹ, Trung Mỹ, Caribe và châu Á bệnh lao đã trở thành một gánh nặng thực
sự cả về kinh tế và xã hội. Nguy cơ nhiễm lao ở các nước này hàng năm cao
gấp 20 ÷ 30 lần so với các nước phát triển. Theo báo cáo thường niên năm
2006 của TCYTTG về tình hình bệnh lao toàn cầu năm 2004, ba khu vực trên
thế giới đó là châu Phi, Đông Nam châu Á và Tây Thái Bình Dương chiếm
80% tổng số người bệnh lao mới mắc.
Theo số liệu của TCYTTG năm 2006 cho thấy các nước đang phát triển
chiÕm hơn 90% số người bệnh lao trên toàn thế giới. Số người bệnh mới mắc
hàng măm nhiều nhất thuộc về khu vực châu Á, chiếm gần 54,9%
(40.892.000/8.918.000), sau đó đến khu vực châu Phi, chiếm 28,9% số người
bệnh lao trên thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ mới mắc/100.000 người lại thuộc về
châu Phi.
lao phối hợp với các địa phương: tỷ lệ nhiễm lao chung 40,29%.
Điều tra ở khu vực phía nam của WHO (1966 - 1967), tỷ lệ nhiễm lao
chung cho mọi lứa tuổi là 58,8%, có tổn thương trên X quang là 5,9%. Người
có ho khạc ra vi khuẩn lao chiếm 1,3%.
5
Từ 1986, với sự hợp tác nghiên cứu của đơn vị dịch tễ Hà Lan. Lần đầu
tiên việc điều tra nguy cơ nhiễm lao đã được tiến hành ở nhiều tỉnh. Kết quả
cho thấy chỉ số nguy cơ nhiễm lao của cả nước khoảng 1,5% (1% cho các tỉnh
phía Bắc, 2% cho các tỉnh phía Nam).
Việt Nam là nước đứng thứ 13/22 nước có số bệnh nhân lao mới mắc
hàng năm cao nhất thế giới, là nước đứng thứ 3 ở khu vực Tây Thái Bình
Dương sau Trung Quốc và Philippines. Ước tính mỗi năm nước ta có khoảng
145.000 bệnh nhân lao các loại, tương đương 189/100.000 dân, trong đó bệnh
nhân lao ho khạc ra BK(+) là 65.000, tương đương 85/100.000 dân. Tổng số
bệnh nhân lao các loại tại một thời điểm khoảng 221.000 người, trong đó có
khoảng 78.1000 người ho khạc ra vi khuẩn. Trong thực tế mỗi năm phát hiện
được khoảng 90.000 bệnh nhân lao các loại, trong đó khoảng 60.000 bệnh
nhân ho khạc ra vi khuẩn lao, tương đương 70/100.000 dân.
Mặc dù chưa thật chính xác, nhưng những số liệu về phát hiện và điều
trị lao trong toàn quốc cũng phản ánh được tình hình bệnh lao ở nước ta. Số
liệu phát hiện bệnh lao trong giai đoạn 1991 ÷ 2004 có các đặc điểm sau: Số
bệnh nhân phát hiện năm sau cao hơn năm trước, khu vực Nam bé, Nam
Trung bộ có mức độ lưu hành bệnh cao nhất trong cả nước.
Trên thực tế, chúng ta đã phát hiện bệnh nhân lao trong một số năm
như sau [12]: Năm 2001: 91.461 bệnh nhân, năm 2002: 95.713 bệnh nhân,
năm 2003: 92.645 bệnh nhân và năm 2004: là 99.703 bệnh nhân.
Qua một số nghiên cứu riêng biệt cho thấy xu hướng gia tăng tình
trạng kháng thuốc, trong đó có kháng đa thuốc ở nước ta cũng đang là một
vấn đề rất đáng quan tâm. Tuy nhiên do nhiều yếu tố tác động nên CTCL
chưa thực hiện điều tra kháng thuốc trên toàn quốc một cách thường kỳ,
tại nhà từ 1 – 2 lần/thỏng.
Hàng năm chương trình chống lao tỉnh đều có kế hoạch tập huấn về
bệnh lao và thực hiện chương trình chống lao cho cán bộ y tế huyện, xó,
thụn bản. Bên cạnh đó công tác giáo dục truyền thông về bệnh lao ngày càng
được đẩy mạnh như tuyên truyền trực tiếp cho các đối tượng chủ chốt của
xó, thụn, tuyên truyền kiến thức bệnh lao qua cỏc kờnh thông tin đại chúng
như: đài phát thanh truyền hình, báo địa phương, phát tờ rơi, tờ bướm tới tận
hộ gia đình. Cho tới nay, CTCLQG triển khai phủ rộng hầu hết tới cỏc xó,
tuy nhiên với trình độ dân trí hạn chế, trình độ chuyên môn của mạng lưới y
tế cơ sở còn yếu, điều kiện về khí hậu, đất đai canh tác rất khó khăn cộng
với phong tục tập quán sinh hoạt riêng của mỗi dân tộc nên việc tuyên
truyền về công tác giáo dục sức khoẻ nói chung, bệnh lao nói riêng là hết
sức khó khăn, tuy nhiên với sự cố gắng của nghành y tế Hà Giang mạng lưới
y tế từ tỉnh đến xã đã được củng cố và có những chuyển biến tích cực, cơ sở
vật chất được tăng cường.
8
Theo số liệu báo cáo của chương trình chống lao Hà Giang từ năm 2000
÷ 2004.
Năm Dân sè
Lao phổi AFB (+) mới
n Tỉ lệ trên 100.000 dân
2000 620.819 78 12,56
2001 632.541 102 15,97
2002 644.420 112 17,38
2003 656,419 130 19,80
2004 66775 125 18,72
Tổng cộng 546
TB/năm 112,8 16,89
Tỉ lệ phát hiện lao phổi AFB(+) mới trung bình hàng năm là:
16,89/100.000 dân.
thể nghe được ran nổ đối xứng hai bên phổi vùng đỉnh hoặc gian sống bả, hội
chứng tràn dịch màng phổi. Trong lao kê cấp tính, gõ vang do biến chứng khí
thũng phổi. Triệu chứng ở những cơ quan khác: Gan, lách to, tổn thương ở
họng, thanh quản, màng não và thần kinh trung ương, màng bụng, phần phụ.
Soi đáy mắt có thể thấy củ hắc mạc.
10
1.3.4 Lao nốt (Lao huyệt): Triệu chứng lõm sàng thì nghèo nàn. Đõy là thể
lao phổi nhẹ ở người lớn tuổi khi được chẩn đoán sớm. thể lao này được phõn
loại chủ yếu dựa trên hình ảnh của phim X quang.
1.3.5 Lao thâm nhiễm: Là thể lao hay gặp nhất ở người lớn với tỉ lệ 60 – 80%.
Thường có hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc rừ. Khỏm phổi có thể thấy hội
chứng đông đặc, hội chứng hang. Là một thể lao phổi đặt ra nhiều chẩn đoán
phõn biệt với như viêm phổi, áp xe phổi, ung thư phế quản v.v Có thể có sốt
cao giao động, toàn thõn suy sụp nặng, đau ngực, khó thở, ho nhiều, chán ăn.
Khám phổi có hội chứng đông đặc thuỳ phổi, có thể nghe thấy tiếng thổi
hang, tiếng thổi vò hoặc tiếng thổi ống với nhiều ran ẩm và ran nổ.
1.3.6 U lao (tuberculoma) Rất dễ nhầm với ung thư phế quản (khó tỡm được
BK trong đờm) cần phải soi phế quản bằng ống mềm để rửa phế quản tỡm BK
và sinh thiết xuyên thành vào khối u để xét nghiệm mô bệnh.
1.3.7 Lao phổi thể hang hay lao hang: Thể lao này thường gặp ở những bệnh
nhõn đã điều trị lao phổi nhiều tháng không hiệu quả, chỉ xoá được tổn
thương xung quanh hang cũn đối với hang thì chỉ nhỏ được một phần rồi tồn
tại và ổn định về kích thước tạo nên một hang lao riêng biệt.
1.3.8 Lao sơ hang: Là thể lao cuối cùng của các thể lao phổi có hang, tiến
triển mạn tính, nhiều biến chứng. Thể lao này thường gặp ở những bệnh nhân
không được điều trị hoặc điều trị không đúng hoặc bỏ trị, bệnh nhân suy giảm
miễn dịch. Lao sơ hang có những đặc điểm: Bệnh sử lâu ngày, thường từ một
năm trở lên, cú cỏc đợt tiến triển xen kẽ với những đợt ổn định. Bệnh nhân
suy kiệt, có khi suy kiệt nặng “da bọc xương”, hay gặp biến chứng tràn khí
màng phổi, ho máu (hay gặp ho mỏu “sột đỏnh”), lao phế quản, tâm phế mạn,
chẩn nếu cần thiết. Chỉ có X quang phổi chuẩn mới chẩn đoán được các thể
lao phổi và các giai đoạn tiến triển (kết hợp với lâm sàng và xét nghiệm), xác
định được vị trí và diện tích tổn thương lao, kích thước và số lượng hang lao.
Ngoài ra, X quang phổi còn cho phép theo dõi và đánh giá kết quả điều trị
bằng cách so sánh các phim trong quá trình điều trị, nếu tổn thương xoá
nhanh dưới một tháng thì thường không phải là lao phổi [9].
Không có hình ảnh X quang nào tuyệt đối đặc thù cho lao phổi mà chỉ
có hình ảnh gợi ý, vì vậy khi đọc phải kết hợp với lâm sàng, cơ chế bệnh sinh,
kết hợp với các phim trước đó, gọi là đọc phim chuỗi [21].
Ba đặc điểm cơ bản của phim X quang phổi của bệnh nhân lao phổi:
Tổn thương thường gặp ở vùng cao (hạ đòn và đỉnh phổi), nhiều dạng tổn
thương phối hợp và tiến triển chậm [13].
Vũ Văn Biên (1995) [2], nghiên cứu 69 bệnh nhõn lao phổi mới phát
hiện tỷ lệ các tổn thương cơ bản của lao trên X quang như sau: nốt 100%,
thõm nhiễm 100%, hang 89,9%, vôi 14,4%, xơ 30,4%.
Hoàng Văn Huấn (2002) [26], nghiên cứu đặc điểm lõm sàng X quang
phổi chuẩn ở lao thõm nhiễm người lớn nhậm thấy tổn thương trên X quang
chủ yếu là nốt và hang (69,4%-86,8%).
Nguyễn Lam (2002) [30], thấy ở bệnh nhõn lao phổi có hang tổn
thương chủ yếu trên X quang là nốt và thõm nhiễm (90,1%-96%).
Theo Marciniuk và CS (1999): Hình ảnh X quang phổi thường rất có
hiệu quả trong chẩn đoán lao phổi nhất là ở những nơi mà bệnh lao còn phổ
biến và xác suất tìm thấy AFB trong tiêu bản đờm chịu ảnh hưởng rÊt lớn bởi
13
các phát hiện trên X quang. Trong số các bệnh nhân có hình ảnh X quang
phổi có hang hoặc thâm nhiễm rộng, tiêu bản đờm dương tính (98%). Nếu
không có hình ảnh thâm nhiễm, hoặc hình ảnh X quang không cho thấy giai
đoạn hoạt động của bệnh thì tiêu bản đờm có AFB(+) chỉ ở một nửa các
trường hợp [87].
1.4. Xét nghiệm cận lõm sàng khác
bào. Xơ hóa tủy xương có thể là hậu quả của sự tăng sinh của đại thực bào
nhằm tiêu diệt trực khuẩn lao.Thờm vào đó BK có thể trực tiếp kích thích làm
tăng xơ hóa. Sợ tăng sinh này làm giảm cỏc dũng tế bào và giảm khả năng tạo
huyết của tủy xương [104].
Xơ hóa tủy xương kết hợp với giảm khả năng tạo huyết có thể gặp
trong lao tản mạn, lao phổi phá hủy hang, tổn thương u hạt ở lách, hạch
lympho, gan [56]. thiếu máu do giảm khả năng tạo huyết có đặc điêm là xuất
hiện hồng cầu hình giọt nước, các tế bào có nhân đỏ, các bạch cầu hạt non ở
máu ngoại vi. Giảm sản hoặc bất sản tủy xương có thể là biến chứng của lao
tản mạn. Thiếu máu hoặc giảm cỏc dũng tế bào trong trường hợp này thường
thứ phát do loạn sản tủy và sẽ trở về bình thường sau khi điều trị lao kết quả
tốt. Ngoài cơ chế trên, thiếu máu trong lao còn do thâm nhiễm u hạt, thoái hóa
dạng tinh bột, hoại tử tủy xương, Hoại tử tủy xương không chỉ kềm theo thiếu
máu mà còn kèm theo giảm bạch cầu, tiểu cầu, tăng LDH, tăng phosphatase
kiềm. Hoại tử tủy xương cũng làm tăng chất lưới và hậu quả là xơ hóa tủy
xương [95].
15
Ngoài ra thiếu máu trong lao còn có thể do tan máu tự miễn và rối loạn
chuyển hóa B6 [90], [92].
1.4.1.2 Bạch cầu
Trong lao, bạch cầu hạt có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều cơ chế. Tăng
bạch cầu mãn tính gặp ở 45% số bệnh nhân. Trước kia, đại thực bào được coi
là yếu tố bảo vệ chính trong bệnh lao; Những nghiên cứu mới đây cho thấy
bạch cầu đa nhân trung tính cũng có vai trò quan trọng. Đặc biệt, ở một số
bệnh nhân có phản ứng tăng bạch cầu và xuất hiện nhiều bạch cầu non và
bạch cầu trưởng thành trong máu ngoại vi, có thể chẩn đoán nhầm với bệnh
máu ác tính. Phản ứng bạch cầu chỉ xuất hiện ở những bệnh nhân bị lao rất
nặng [102].
Giảm bạch cầu trung tính có thể gặp trong lao và là hậu quả của nhiều
yếu tố tương tự như các căn nguyên gây thiếu máu: xơ hóa tủy xương, rối
vi khuẩn lao. Phản ứng dương tính chứng tỏ người đó đã bị nhiễm lao. Đường
kính sẩn cục càng lớn càng chứng tỏ nhiễm lao mạnh. Tuy vậy, phản ứng âm
tính không loại trừ được lao (khi bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch: Sởi, cóm,
HIV, suy dinh dưỡng ). Cũng có một số trường hợp dương tính giả như
nhiễm Mycobacteria không gây lao, tuy vậy trường hợp này dương tính rất
nhẹ; trong thành phần của tuberculin có những chất khác có thể gây dị ứng,
thường sẽ mất đi sau 48 – 72 giờ, vì vậy cần tuân thủ thời gian đọc test; sau
khi đã được làm phản ứng da với tuberculin thì tiêm lần 2 có thể làm tăng
phản ứng, vì vậy nếu có thử 2 lần thì cần cách nhau Ýt nhất 2 tuần.
17
1.4.3. Xét nghiệm đờm trực tiếp
Lấy 3 mẫu đờm: Mẫu thứ nhất khi người bệnh đến khám. Mẫu thứ 2
lấy vào buổi sáng sớm hôm sau khi bệnh nhân mới ngủ dậy. Mẫu thứ 3 lấy tại
chỗ khi người bệnh mang mẫu thứ 2 đến.
Hướng dẫn cách khạc đờm cho bệnh nhân: là việc hết sức quan trọng.
Khạc đờm đúng sẽ giúp sẽ hạn chế sai số của xét nghiệm: HÝt một hơi thật
sâu, khạc sâu từ trong ngực [13,4].
- Phương pháp nhuộm: Ziehl - Neelsen.
- Ưu điểm: Kỹ thuật đơn giản, cho kết quả nhanh, rẻ tiền.
- Nhược điểm:
Trong 1ml đờm cần phải có từ 5000 vi khuẩn trở lên mới cho kết quả
dương tính.
Chỉ cho biết được hình thể của vi khuẩn mà không cho biết nó còn sống
hay đã chết.
Không cho phép phân biệt được các loại vi khuẩn lao.
- Nhận định kết quả:
Không có AFB trên 100 vi trường: KÕt quả âm tính.
Có từ 1 - 9 AFB trên 100 vi trường: Dương tính, ghi cụ thể số vi khuẩn.
Có 10 - 99 AFB trên 100 vi trường: Dương tính 1 (+).
Có 1 - 10 AFB trên 1 vi trường: Dương tính 2 (+).
nhất 70% số bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới hàng năm. Triển khai hoá trị
liệu ngắn ngày cã kiểm soát trực tiếp tại 100% huyện, thị, xã, phường.
Giảm tối đa tác động của HIV vào việc lây lan truyền bệnh lao bằng
cách điều trị dứt điểm các bệnh nhân lao HIV dương tính,
1.6.2. Đường lối chiến lược
- Tiêm phòng lao đầy đủ bằng vaccin BCG cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1
tuổi, đúng kỹ thuật.
- Phát hiện bằng phương pháp thụ động là chủ yếu, sử dụng kỹ thuật soi
đờm trực tiếp, ưu tiên phát hiện nguồn lây là bệnh nhân lao phổi AFB(+).
- Điều trị bằng phác đồ hoá trị ngắn ngày có kiểm soát thống nhất trong
toàn quốc. Thực hiện DOTS.
- Lồng ghép hoạt đọng chống lao vào hệ thống y tế chung.
1.6.3. Phương hướng giải quyết
- Tăng cường năng lực quản lý chương chình chống lao của cán bộ
chống lao tuyến tỉnh, huyện thông qua đào tạo, nghiên cứu khoa học.
- Phát hiện bệnh nhân lao theo phương pháp thụ động.
- Sử dụng phác đồ điều trị ngắn hạn thống nhất trong toàn quốc.
- Tăng cường công tác giao dục truyền thông trong toàn dân, tưng bước
hiện đại hoá công tác chống lao.
- Hoàn thiện hệ thống thu thập số liệu và thống kê báo cáo, từng bước
hiện đại hoá công tác này trong toàn quốc.
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra giám sát, lượng giá tình hình dịch tễ bệnh
lao, thuốc men, bệnh lao nhiễm HIV/AIDS, tình hình kháng thuốc của vi
khuẩn lao.
20
- Phối hợp hoạt động chống lao quốc gia với các chương trình y tế quốc
gia khác tại tuyến huyện, phường, xã và thôn bản.
- Thực hiện phát hiện thụ động là chủ yếu, nhằm vào các đối tượng ho
khạc kéo dài trên 3 tuần, cho làm xét nghiệm đờm soi trực tiếp 03 mẫu đÓ tìm
vi khuẩn lao. Những trường hợp lao phổi nghi nghờ kháng thuốc có thể cho
nghiệm nhuộm đờm soi trực tiếp, lồng ghép công tác này trong mạng lưới
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
- Điều trị bệnh lao bằng hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp cho
bệnh nhân lao mới và tái điều trị. Điều trị miễn phí và gần nhà người bệnh.
- Có một hệ thống cung cấp đầy đủ và kịp thời các thuốc chống lao chính.
- Tổ chức một hệ thống theo dõi giám sát công tác phát hiện và kết quả
điều trị dựa trên các mẫu báo cáo chuẩn.
1.7. Các nghiên cứu về chẩn đoán muộn
Hiện tượng chậm trễ trong phát hiện và điều trị bệnh lao xảy ra rất phổ
biến ở nước ta cũng như nhiều nơi trên thế giới (đặc biệt ở những vùng có lưu
hành bệnh lao cao).
1.7.1. Định nghĩa sự chậm trễ [83]
• Tổng thời gian trậm trễ: Được tính từ lúc có triệu chứng lao đầu tiên
đến ngày được bắt đầu điều trị.
• Đơn vị thời gian cơ bản ước tính sự chậm trễ.
Tuỳ từng nghiên cứu, các tác giả sử dụng các đơn vị thời gian cơ bản
khác nhau như ngày, tuần, thỏng… để ước tính sự chậm trễ. Trong nghiên
cứu này chúng tôi sử dụng đơn vị tháng.
22
Trong một số nghiên cứu khác, thuật ngữ về sự chậm trễ và cỏc cỏch
định nghĩa về sự chậm trễ có chút ít thay đổi:
• Chậm trễ khi tới nơi cung cấp dịch vụ y tế đầu tiên: Là khoảng thời
gian từ khi BN có triệu chứng đầu tiên nghi lao cho tới khi bắt đầu
tìm đến các dịch vụ y tế ngoài gia đình [83].
• Chậm trễ do BN: Là khoảng thời gian BN có triệu chứng đầu tiên nghi
lao cho tới khi đến khám bệnh tại bệnh viện hoặc gặp bác sỹ [83].
• Chậm trễ do thầy thuốc: Là khoảng thời gian tính từ lúc đến khám
bệnh tại bệnh viện hoặc gặp bác sỹ cho tới khi được chuẩn đoán lao
[58], [81], [84], [83].
• Chậm trễ do y tế: Là khoảng thời gian được tính từ khi BN lần đầu
kinh tế: Những BN có tình trạng kinh tế thấp kém tìm đến các dịch vụ y tế
muộn hơn [98]; cơ sở y tế đầu BN tìm đến: Những BN lần đầu tìm đến các cơ
sở y tế tư thường có thời gian chạm trễ kéo dài hơn so với BN đến cơ sở y tế
công [84], [100], [107]; nơi cư trú: Những người sống ở vựng sõu vựng xa có
thời gian chậm trễ kéo dài hơn những người sống ở thành thị [78], [98], [107];
ngôn ngữ, tình trạng sống không nhà cửa [98]. Tình trạng chậm trễ còn liên
quan tới những xét nghiệm được thực hiện tại các cơ sở y tế mà bệnh nhân
đến khám: BN không được xét nghiệm đờm và chụp X quang được phát hiện
và điều trị muộn hơn [78], [98], [100], liên quan tới mức độ trầm trọng của
bệnh: Những BN có triệu chứng đầu là ho ra máu thường có thời gian chậm
24
trễ ngắn hơn [80], liên quan tới sự hiểu biết về bệnh lao của bệnh nhân: BN có
hiểu biết về bệnh lao tìm đến các dịch vụ y tế sớm hơn so với BN không có
hiểu biết [107]…
1.7.2. Nghiên cứu chẩn đoán muộn trên thế giới
Từ năm 1982, tại Hàn Quốc, Mori T., Shimao T đã nghiên cứu trên 630
bệnh nhân lao phổi AFB dương tính và âm tính, 1/4 trong số này là BN điều
trị lại. Gần 80% bệnh nhân được chẩn đoán trong vòng 2 tháng đầu (đây là
khoảng thời gian tương đối ngắn). Bởi đối tượng nghiên cứu bao gồm cả BN
đã có tiền sử mắc lao, những bệnh nhân này thường tìm đến cơ sở y tế sớm
khi có bất kỳ triệu chứng nào có liên quan tới bệnh tình của họ trước đó. Tổng
thời gian chậm trễ trung bình trong nghiên cứu này là 2 tháng, trong đó 80%
là chậm trễ do bệnh nhân. [89].
Năm 1993 – 1994, ở Botswana cũng thực hiện nghiên cứu trên 212
trường hợp lao phổi AFB dương tính (bao gồm cả bệnh nhõn mới và điều trị).
Tổng thời gian chậm trễ là 12 tuần. Thời gian chậm trễ ở thầy thuốc kéo dài
hơn so với BN( bệnh nhõn) và có liên quan tới việc BN lần đầu tìm đến khám
tại trạm y tế, thầy thuốc đông y, liên quan tới những BN sống ở những làng
không có bệnh viện, những BN đã lập gia đình hoặc đã từng mắc các bệnh lây
nhiễm qua đường tình dục [100].