TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 838.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐINH NGỌC VƯỢNG

HÀ NỘI, năm 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, luận văn "Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng" là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đinh
Ngọc Vượng. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực. Kết quả
nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Viết đầy đủ

BTV

Ban Thường vụ

CBCNVC

Cán bộ công nhân viên chức

CBCNVC

Can bộ công nhân viên chức

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CTQG

Chính trị Quốc gia

ĐTN

Đoàn thanh niên

HCCB

Hội Cựu chiến binh


Ủy ban Mặt trận

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBND

Ủy ban nhân dân

XDCB

Xây dựng cơ bản

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.

Diện tích, dân số và mật độ dân số quận Hải Châu năm
2019


xã hội chủ nghĩa, là điều kiện tất yếu đảm bảo thành công của sự nghiệp Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Do đó, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa
1


IX của Đảng năm 2002, Ban Chấp hành TW Đảng đã ban hành nghị quyết về
"Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị
trấn". Và cũng tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XI của Đảng năm 2013 đã ban
hành Kết luận số 64 ngày 28/5/2013 về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở" nhằm hoàn thiện và
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) được xác định
là cấp cuối cùng trong phân cấp hành chính ở nước ta hiện nay, là nơi tuyệt
đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời
sống xã hội.
Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta bao gồm: Đảng, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội hoạt động trên địa bàn
cấp xã, có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng
thời vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc; đồng thời tổ chức hoạt động và huy động mọi khả năng tại cộng đồng
dân cư để phát triển kinh tế - xã hội.
Sau hơn 30 năm công cuộc đổi mới ở nước ta, dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống chính trị các cấp nói chung và hệ
thống chính trị cấp cơ sở đã được nâng lên, năng lực và hiệu quả hoạt động có
nhiều chuyển biến. Bộ máy Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện
theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận đang được
đổi mới cả về tổ chức cũng như phương thức hoạt động. 30 công cuộc Đổi
mới ở nước ta chứng minh rằng, đổi mới hệ thống chính trị - một đòi hỏi

sĩ chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
 Các nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở (các nghiên cứu gần với đề tài)
Các công trình nghiên cứu có phạm vi nghiên cứu gần với đề tài có thể
3


kể đến như: Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ngoại
thành Hà Nội (cấp cơ sở) trong giai đoạn hiện nay, TS. Lưu Minh Trị, năm
1993; Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông thôn (thông qua
khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang), Đặng Thị Hiền, Luận văn thạc sĩ
khoa học chuyên ngành Triết học, 1993; Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân
chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta, TS. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu
hướng và giải pháp, TS. Võ Hoàng Công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2002; Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ
sở xã, phường, thị trấn, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung
ương khoá IX, Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội; Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi
mới, TS. Chu Văn Thành (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004; GS, TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn nước ta hiện nay (sách tham khảo).
Các nghiên cứu nêu trên cũng chỉ ra những vấn đề thực trạng và những
hạn chế cần khắc phục đối với hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống
chính trị cơ sở trên một số địa bàn cụ thể nói riêng. Ngoài ra, các nghiên cứu
cũng chỉ ra những cấu thành của hệ thống chính trị cơ sở, vị trí, vai trò của
từng cấu thành và đánh giá các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế đưa
ra các giải pháp đổi mới đối với từng cấu thành trong hệ thống chính trị cơ sở.
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cá biệt còn chỉ ra được những khác biệt về

Thứ ba, từ việc tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị nước ta ở phương diện
khảo sát thực tiễn và nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học đã chỉ ra những
tích cực và những hạn chế, bất cập này cùng những nguyên nhân của nó.
Nhiều công trình đã đi tìm những bức xúc nổi cộm của hệ thống chính trị
Việt Nam hiện nay.

5


Những vấn đề mà đề tài cần phải tiến hành nghiên cứu
Như đã trình bày, những nghiên cứu lý luận trước đây về hệ thống chính
trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng mặc dù đã được các tác giả
dày công nghiên cứu nhưng vẫn có những ý kiến khác nhau. Có những các
tiếp cận hệ thống chính trị từ phương diện thực tiễn, có các tiếp cận từ
phương diện lý luận hoặc từ các mô hình. Do đó, mỗi các tiếp cận khác nhau
đều mang đến những điểm khác nhau. Vì vậy muốn đề tài đạt được kết quả
mong muốn tác giả hi vọng sẽ mang nhiều tiếng nói từ thực tiễn để có thể lý
giải những vấn đề cần được làm rõ hiện nay.
Trong các nghiên cứu đã đề cập trên, hầu hết các nghiên cứu đã giải
quyết được những vấn đề mang tính lịch sử của nó đó là: Các nghiên cứu đó
đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn ở giai đoạn đó nhưng hiện nay khi mà
chúng ta đang có những nhiệm vụ chính trị của Đại hội XII thì mục tiêu cũng
như các yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ
sở nói riêng là khác nhau. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc đổi mới hệ
thống chính trị cần đáp ứng những điều kiện mới đó cũng là vấn đề mà đề tài
phải quan tâm nghiên cứu.
Sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay trong điều kiện một xã
hội mở cửa, hội nhập, nhiều giá trị mới cũng như nhiều công nghệ mới được
áp dụng, vận hành. Do đó, cách thức tiếp cận của hệ thống chính trị cơ sở
đối với những vấn đề thực tiễn cũng cần phải được nghiên cứu một cách

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn có đối tượng nghiên cứu
là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở nói chung và hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống chính
7


trị cơ sở từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 đến
năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa và về Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp trong nghiên cứu
khóa học như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại… kết hợp
lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về hệ thống
chính trị nước ta nói chung và đặc biệt là tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở nói riêng căn cứ vào thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

thống chính trị mang tính giai cấp. Nhà nước và thiết chế chính trị liên kết với
nhau thành một hệ thống, tác động đến đời sống chính trị - xã hội, để củng cố,
duy trì và phát triển chế độ, phục vụ lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
Giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động ở Việt Nam là chủ
thể của quyền lực nhà nước. Do đó, hệ thống chính trị Việt Nam là công cụ
thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự
lãnh đạo tài tình, sáng suất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khái niệm "Hệ
thống chính trị" theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lenin, là sản phẩm của
quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử
nhất định. C. Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu khái niệm hệ thống chính trị
như một chế độ chính trị với tính cách là một chỉnh thể, một hệ thống, như cơ
cấu chính trị của xã hội, Chế độ chính trị của nhà nước.
Phát triển tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.Mác, V.I.
Lenin đã đưa ra khái niệm hệ thống chính trị ở nước Nga Xô viết trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với khái niệm "chuyên chính vô sản" (Khái
niệm này vẫn được dùng ở nước ta cho đến Hiến pháp năm 1980). Hệ thống
chuyên chính vô sản theo quan niệm của Lenin bao gồm: Nhà nước của giai
cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo
đối với nhà nước và các tổ chức quần chúng, trong đó tổ chức công đoàn đóng

10


vai trò quan trọng.
Ở phương Tây, về cơ bản có 2 cách tiếp cận đối với hệ thống chính trị.
Một là, tiếp cận về thể chế: được xem hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế
chính trị bao gồm các tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và
những mối quan hệ của chúng. Hai là, tiếp cận về hệ thống: được xem hệ
thống chính trị không chỉ bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa
chúng, mà còn là những hành vi chính trị, vai trò chính trị, chuẩn mực chính

trị - xã hội nhân dân. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống
chính trị, có thể lấy một số quan điểm tiêu biểu như sau: Thứ nhất, Hệ thống
chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa
nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó. Hệ
thống này bao gồm nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức
chính trị khác, trong đó nhà nước đóng vai trò là yếu tố cơ bản và trung tâm.
Thứ hai, Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp
thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Thứ ba, Hệ thống chính
trị được cơ cấu, tổ chức gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội hợp pháp và hoạt động theo pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ, duy
trì và phát triển xã hội đó…
Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - thể
hiện bản chất, các đặc điểm, quy luật hình thành và phát triển của chế độ
chính trị mới, của chủ nghĩa xã hội. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa hệ thống
chính trị được tổ chức và hoạt động với tư cách là một hệ thống thống nhất
của các thiết chế và quan hệ chính trị.
Ở nước ta, hệ thống chính trị mới ra đời sau cách mạng tháng Tám cùng
với sự hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Cùng
với việc xây dựng và phát triển của chế độ xã hội mới, hệ thống chính trị của
nước ta ngày càng phát triển và hiện nay là hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa. Mục tiêu tổng quát của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội
12


chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng một xã hội phồn vinh, dân chủ, nhân đạo,
công bằng không áp bức bóc lột.
Ở nước ta, hệ thống chính trị về cơ cấu, tổ chức bao gồm: Đảng cộng sản
Việt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt

1.2.1. Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở
Trong khoa học chính trị - pháp lý ở Việt Nam, cấp cơ sở là chỉ cấp xã cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp.
Hệ thống chính trị ở cơ sở - theo tinh thần Văn kiện Hội nghị lần thứ V
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, là hệ thống chính trị ở cấp xã (xã,
phường, thị trấn).
Cơ sở là khái niệm dùng để chỉ một cấp quản lý cấp thấp nhất trong hệ
thống bốn cấp hành chính hiện hành ở nước ta (xã, phường, thị trấn)
Đây là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội gần dân nhất, là
nơi vừa diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh của cư dân, là đầu mối của
thị trường, hình thành các quan hệ kinh tế trong mối quan hệ giữa sản xuất và
tiêu dùng. Ở cấp cơ sở, vai trò của Đảng giữ vị trí hạt nhân lãnh đạo chính
quyền, đoàn thể và nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã
hội và tổ chức cuộc sống của nhân dân.
Hiện có cách tiếp cận khác nhau về hệ thống chính trị cơ sở.
Một là, hệ thống chính trị cơ sở được xem như một hệ thống về mặt tổ chức
gồm các bộ phận cấu thành: các tổ chức Đảng bộ cơ sở, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân (gọi chung là chính quyền), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và Hội Nông dân)
ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Đảng bộ cơ sở, cụ thể là Ban Chấp
hành Đảng bộ xã, phường, thị trấn là hạt nhân chính trị, thực hiện vai trò lãnh
đạo bằng việc đề ra các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết định hướng
14


cho chính quyền địa phương triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên
phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân dân và
các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động
nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,

- Được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền của mỗi tổ chức và cơ chế chính trị có cùng chung mục tiêu cao nhất là
bảo đảm quyền lực chính trị thuộc về Nhân dân.
- Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất thực hiện chức năng lãnh đạo đối
với toàn bộ hệ thống.
Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hệ thống chính trị cơ sở còn có
những đặc điểm riêng xét trên hai khía cạnh: khía cạnh địa vị pháp lý và thực
tế. Đó là những đặc điểm sau:
- Là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay, gần với
cộng đồng dân cư - là nơi tuyệt bộ phận Nhân dân cư trú, sinh sống - do vậy
tổ chức và hoạt động mang tính tự quản cao. Hệ thống chính trị cơ sở có
nhiệm vụ rất quan trọng trong việc phát huy đại đoàn kết toàn dân, phát huy
quyền làm chủ của dân ở cơ sở.
- Cấp chính quyền cơ sở có bộ máy tổ chức tương đối đơn giản, đội ngũ
cán bộ thường xuyên biến động. Các cán bộ làm việc trong bộ máy chính
quyền cơ sở, nhất là chính quyền cấp xã thì hầu như dân biết rõ. Thực ra đội
ngũ này không có tính chuyên nghiệp và dân chúng giám sát họ rất sát sao,
nhất cử nhất động hông qua được tai mắt của nhân dân.
 Vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Tính đến ngày 8 tháng 2 năm 2018, Việt Nam có 11.162 đơn vị hành
chính cấp xã, bao gồm 1.589 phường, 606 thị trấn và 8967 xã, trong đó có
336 xã thuộc các thành phố trực thuộc tỉnh, 290 xã thuộc các thị xã và 8341
xã thuộc các huyện. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp của
hệ thống quản lý hành chính của nước ta hiện nay; có vai trò rất quan trọng
16


trong việc tổ chức hoạt động và vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát
huy và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm

luật của nhà nước để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
 Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn trực tiếp tổ
chức, điều hành, quản lý xã hội đúng với chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của nhà nước, Nghị quyết của Đảng bộ cơ sở.
 Các tổ chức chính trị - xã hội đại diện là Mặt trận Tổ quốc, là tổ chức
liên minh chính trị thay mặt nhân dân tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà
nước ở cơ sở và giám sát hoạt động của chính quyền địa phương.
1.3. Tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị ở Việt Nam
Hệ thống chính trị ở Việt Nam gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông
dân Việt Nam và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được tổ chức từ Trung
ương, Tỉnh (Thành phố), Quận (Huyện) đến xã, phường, thị trấn.
So với hệ thống chính trị của một số nước, hệ thống chính trị Việt Nam
có tính đặc thù và có những nét cơ bản sau đây:
Một là, hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống tổ chức nhất nguyên
chính trị; bảo đảm tính thống nhất về mục tiêu và lợi ích và được thể hiện:
 Về tổ chức: Ở Việt Nam, có nhiều tổ chức và đoàn thể nhân dân nhưng
không có tổ chức chính trị và đảng chính trị đối lập được thành lập công khai.
Các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân đều thừa nhận vai trò
lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, chịu sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
 Về tư tưởng: Tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị được thể
hiện trong toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt

18


động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

cấp dưới có chức năng, tổ chức tương ứng, chỉ có điều là gọn nhẹ hơn, giản
đơn hơn. Kiểu tổ chức hệ thống như vậy bảo đảm được tính thống nhất, thông
suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành từ Trung ương đến cơ sở.
Hai là, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Việt Nam vừa thể hiện
được tính giai cấp sâu sắc, vừa thể hiện được tính nhân dân rộng rãi.
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng là đội tiên phong của giai cấp
công nhân Việt Nam, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Như vậy, trong bản thân Đảng đã chứa đựng cả yếu tố giai cấp và
yếu tố dân tộc, vừa thể hiện bản chất giai cấp, đồng thời cũng thể hiện tính
chất nhân dân của Đảng. Đó là điểm khác biệt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ của giai cấp,
mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước đó cũng chứa đựng tính chất giai cấp và
tính nhân dân rộng rãi.
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị ở nước ta đặt
dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Mọi hoạt động của Mặt trận và các đoàn
thể nhân dân đều phục vụ cho mục tiêu của giai cấp và dân tộc, vì lợi ích của
giai cấp và dân tộc. Thông qua tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các
nhóm xã hội đều có tiếng nói chung, đều có quyền thể hiện tâm tư nguyện
vọng, chính kiến của mình và được tôn trọng.
Ba là, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Việt Nam vừa bảo đảm
được tính dân chủ rộng rãi, đồng thời bảo đảm được tính nghiêm minh, tối
thượng của pháp luật.
Tính dân chủ rộng rãi của tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị Việt
Nam trước hết thể hiện tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị Việt Nam
đều hướng tới bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là chủ nhân
của đất nước, là chủ thể quyền lực. Lợi ích của nhân dân là tối thượng. Nhân
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status