QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN DUY THANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN DUY THANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐẶNG MINH ĐỨC

HÀ NỘI, năm 2020


LỜI CAM ĐOAN

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NÂNG CAO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ................................... 58
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp ....... 58
3.2. Giải pháp hoàn thiện về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp .................... 60
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

CQNN

Cơ quan nhà nước

2

CQQLNN

Cơ quan quản lý nhà nước

3

HĐND


Tòa án nhân dân

9

UBND

Uỷ ban nhân dân

STT


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu
Tên bảng

Trang

bảng biểu
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện
1

2

3

4

Quế Sơn năm 2014

sử dụng đất, giá trị của quyền sử dụng đất và các tài liệu khác liên quan đến đất là
một công cụ không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường lành mạnh và thông
thoáng cũng như để quản lý bền vững tài nguyên đất. Hệ thống quản lý đất đai và
bất động sản ở các nước phát triển có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm
năm, tích lũy được nhiều kinh nghiệm và thu được nhiều thành quả. Hệ thống này
được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin, trên cơ sở ứng dụng khoa học, và
công nghệ hiện đại như công nghệ viễn thám, hàng không, hệ thống định vị toàn
cầu, trong việc đo đạc lập bản đồ, hồ sơ địa chính, công nghệ thông tin trong việc
xây dựng hệ thống thông tin địa lý , hệ thống thông tin đất đai phục vụ công tác
điều tra cơ bản, kiểm kê, thống kê đất đai, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai,
định giá đất đai.
Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, cùng với sự đổi
mới chính sách, pháp luật đất đai, hệ thống quản lý đất đai đã từng bước phát triển
theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đất
đai, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đất nông nghiệp là loại đất chiếm diện tích

1


lớn nhất của nước ta. Theo Nghị quyết số 17/2013/QH11 ngày 22/11/2011 của
Quốc hội về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Tổng diện tích đất thuộc nhóm
đất nông nghiệp sẽ là 26.732.000 ha, so với chỉ 4.880.000 ha đối với nhóm đất nghi
nông nghiệp. Theo cách phân loại mới của Luật đất đai năm 2013, nhóm đất ngôn
nghiệp ngoài sản xuất nông nghiệp là đất trông, trọt chăn nuôi (cây hàng năm, cây
lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản) ea còn bao gồm cả đất rừng, đất làm
muối. Đặc điểm của loại đất này là chủ thể sử dụng đất, phần lớn là hộ gia đình, cá
nhân. Theo các số liệu thống kê, hộ gia đồng cá nhân đang sử dụng 14.878 nghìn ha
chiếm 59.52% tổng diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất nông nghiệp
13.915 nghìn ha chiếm 93.53% diện tích đất nông nghiệp nhà nước đã giao, cho

chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang diễn ra hiện nay, cần phải sớm sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, tác giả đã chọn đề
tài “Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp từ thực tiễn Huyện Quế Sơn, Tỉnh
Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam không còn là vấn đề mới khi nó
được ghi nhận là một hoạt động cơ bản của cơ quan quản lý Nhà nước. Quản lý nhà
nước về đất đai không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của
một quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích thiết thân của các
chủ thể sử dụng đất vì vậy luôn là vấn đề nóng của xã hội. Tính từ năm 1987 đến
nay, chỉ trong vòng 30 năm, Luật Đất đai đã được sửa đổi, bổ sung 5 lần (vào các
năm 1993, 1998, 2001, 2003 và 2013), trong đó, nội dung quy định về quyền sử
dụng đất nông nghiệp luôn được chú trọng. Tiếp nối các Luật Đất đai năm 1993 và
2003, Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2014) đã có nhiều sửa đổi
quan trọng trong chính sách pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, thực tiễn thi hành pháp luật về đất
đai luôn phát sinh những đòi hỏi sửa đổi, cải cách trong xây dựng và thi hành pháp
luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp [26, tr. 31]. Cho đến nay, ở cấp độ luận văn
thạc sĩ, chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp dưới góc độ pháp lý, đặc biệt kể từ khi Luật đất đai năm 2013 được
ban hành thay thế Luật đất đai năm 2003 và có hiệu lực thi hành trên thực tế kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2014 .Quản lý nhà nước về đất đai hiện nay thu hút sự quan
tâm đặc biệt của cả các cơ quan, tổ chức, các nhà hoạch định chính sách lẫn người
hoạt động thực tiễn và các nhà khoa học, đã có nhiều bài viết trên tạp chí, trên báo
điện tử. Có thể đến kể đến một số công trình tiêu biểu:
3


- Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai của
chính quyền Quận Tây Hồ” của NCS. Nguyễn Thế Vinh thực hiện tại trường Đại

4


với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tình trạng nông dân bỏ ruộng. Vì vậy,
ngoài những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp…, thì yêu cầu về việc nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước ngày
càng trở nên cấp thiết.
- Luận văn thạc sĩ luật học “Thực tiễn thi hành Pháp luật về quản lý nhà
nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” của học viên cao học
Nguyễn Văn Xuyên thực hiện tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012.
Luận văn phân tích, bổ sung những lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với đất
đai của chính quyền cấp huyện; phân tích các vấn đề pháp lý về quản lý nhà nước
đối với đất đai trên cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang. Đồng thời, Luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp thích
hợp hoàn thiện phương thức thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với đất đai
tại huyện Tân Yên, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội huyện Tân Yên phát triển. Bên
cạnh đó, những lý luận mà Luận văn đưa ra có thể sử dụng cho chính quyền cấp
huyện sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; hoàn thiện chính sách
pháp luật về QLNN đối với đất đai.
Nhìn chung, Các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chỉ mới dừng lại
ở việc nghiên cứu hệ thống hóa lý luận cơ bản đối với QLNN về đất đai; làm rõ vai
trò chủ sở hữu đất đai mà đại diện cho Nhà nước là với người sử dụng đất trong nền
kinh tế thị trường. Đồng thời, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về
QLNN về đất đai và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về QLNN về đất đai. Như vậy, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu dưới cấp độ
Luận văn thạc sĩ luật học về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp. Do đó,
nghiên cứu đề tài này trong thời điểm hiện nay là việc làm không có sự trùng lặp
với bất cứ công trình khoa học nào hiện có trong lĩnh vực này tại Việt Nam. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên chính là tài liệu vô cùng quý báu đã cung


Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đất nông



Nghiên cứu đánh giá, phân tích thực trạng các quy định của pháp luật

nghiệp;
Việt Nam hiện hành về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp;


Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

trên địa bàn Huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam trong những năm qua và nêu ra
những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế yếu kém và nguyên nhân;


Trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công

tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên
quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp. Thực trạng hoạt động thi
hành pháp luật và phương thức thi hành pháp luật quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp trên địa bàn Huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam

6




7


Các phương pháp cụ thể mà Luận văn sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài này đó là:


Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu được sử

dụng ở chương 1 để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề lý luận về quản lý nhà
nước đối với đất nông nghiệp như: (i) khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà
nước đối với đất nông nghiệp; (ii) Nội dung quản lý nhà nước đối với đất nông
nghiệp; (iii) Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp;


Phương pháp luật học và luật học so sánh được sử dụng chủ yếu ở

chương 2, để phân tích, giải thích các quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối
với đất nông nghiệp;


Phương pháp so sánh pháp luật được dùng chủ yếu ở chương 2, 3 để

so sánh quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp được quy
định tại Luật Đất đai 2013 so với các quy định của Luật Đất đai 2003;


Phương pháp thống kê cũng được sử dụng ở chương 2 khi xử lý các


Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với
đất nông nghiệp

9


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước đối với đất nông
nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm đất nông nghiệp
Từ bao đời nay, đất đai luôn là cái nôi để nuôi dưỡng sự sống của con người,
là nơi ăn chốn ở, điều kiện để sinh tồn, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng không
gì thay thế được trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Với tổng diện tích hơn 33 triệu
ha, ở Việt Nam đất đai được chia làm nhiều loại căn cứ theo mục đích sử dụng, đất
nông nghiệp là một loại đất nằm trong vốn đất đai thống nhất của quốc gia.
Đất nông nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản
pháp luật đất đai ở nước ta. Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam, đất
nông nghiệp thường được coi là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai,
sắn và những loại cây được coi là lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng
đất nông nghiệp khá phong phú, không chỉ đơn thuần là trồng lúa, hoa màu mà còn
được sử dụng để trồng các loại cây lâu năm hay dùng vào mục đích chăn nuôi gia
súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản,…
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp): “Đất nông
nghiệp: Tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ
cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi,
bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch
vụ”

Luật Đất đai năm 2003 ra đời, không đề cập cụ thể về khái niệm đất nông
nghiệp mà chỉ đưa ra thuật ngữ “Nhóm đất nông nghiệp”. Đất đai được chia làm ba
loại căn cứ vào mục đích sử dụng của đất, cụ thể là chia theo ba phân nhóm: nhóm
đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Theo đó,
nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loạt đất cụ thể sau: (i) Đất trồng cây hàng năm
gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác;
(ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất
rừng đặc dụng; (vi) Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) Đất nông
nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Luật đất đai năm 2013 đã có sự tiếp thu, đồng thời bổ sung quy định về nhóm
đất nông nghiệp so với Luật đất đai năm 2003. Cụ thể, Khoản 1, Điều 10 LĐ Đ năm

11


2013 quy định nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loạt đất cụ thể sau: (i) Đất trồng
cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây
lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi)
Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử
dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả
các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia
súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo
cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh;
Như vậy, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 đã tiếp nhận cách thức
phân loại nhóm đất nông nghiệp theo LĐĐ năm 2003, đồng thời đã quy định cụ thể
các loại “đất nông nghiệp khác”
Sự phân loại theo LĐĐ năm 2013 là phù hợp. Một mặt, chúng đảm bảo sự
quản lí tập trung, thống nhất trong quản lí đất đai của Nhà nước, giúp cho các cơ
quan quản lý đất đai ở địa phương dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc theo dõi, kiểm

xác định cách thức và mức bồi thường. Chẳng hạn, nếu đất thu hồi của hộ gia đình,
cá nhân là đất canh tác trồng lúa nước, là nguồn sống trực tiếp của bà con nông dân
thì bên cạnh việc xác định trách nhiệm bồi thường về đất, Nhà nước còn phải tính
đến việc hỗ trợ cho người nông dân như: chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống,
chính sách đào tạo nghề, bố trí việc làm và giải quyết các chính sách an sinh xã hội
khác cho bà con nông dân; hoặc, nếu đất bị thu hồi là đất rừng phòng hộ, đất rừng
sản xuất có nguồn gốc được Nhà nước giao đất không thu tiền hoặc có thu tiền
nhưng tiền đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước... đây cũng là loại đất thuộc
nhóm đất nông nghiệp, song pháp luật hiện hành không đặt ra vấn đề bồi thường về
đất, các tài sản trên đất có được bồi thường hay không, mà phụ thuộc vào việc xem
xét khoản tiền đầu tư tài sản trên đất đó thuộc nguồn vốn của Nhà nước hay của tổ
chức, cá nhân. Tuy nhiên, đối với loại đất này khi thu hồi thì pháp luật lại có những
chế định đặc biệt, đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt và hạn chế tới mức tối đa việc
chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, đặc biệt là đất rừng phòng hộ vì đây là
loại đất có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ đời sống, sản xuất và môi
trường trong lành cho con người. Vì vậy, nghiên cứu khái niệm đất nông nghiệp có
ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ chế và chính sách bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp phù hợp. Mặt khác, giúp cho các cơ quan chức năng
thực hiện pháp luật, phân loại và xác định cách thức cũng như mức bồi thường đối
với từng loại đất để đảm bảo quyền lợi cho người có đất bị thu hồi, nhưng vẫn đảm

13


bảo sự quản lí và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, đồng thời, phản ánh trung thực,
khách quan nguồn gốc, diễn biến, hiện trạng của quá trình sử dụng đất.
Ngoài những đặc điểm chung của đất đai, như đó là tài sản không do con
người tạo ra, có tính cố định và không thể di dời,… vvv; đất nông nghiệp còn có
những đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là loại đất mà giá trị sử dụng phụ thuộc chủ yếu

dài hạn và trồng các loại cây lâu năm. Tuy nhiên, trong thực tế khai thác và sử dụng
đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, có những loại đất mà khởi nguồn chúng
được sử dụng cho mục đích chính là sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây ăn quả hay các loại cây lâu năm, song
do nhu cầu tự thân của mỗi chủ thể muốn thay đổi mục đích sử dụng nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng đất, hoặc trong nhiều trường hợp vì lợi ích của những loại đất sử
dụng cho mục đích khác có giá trị cao hơn so với đất nông nghiệp mà họ đang sử
dụng nên các chủ thể đã tự ý thay đổi mục đích so với ban đầu - và chúng trở thành
đất phi nông nghiệp. Sự thay đổi mục đích này có thể Nhà nước kiểm soát được và
cho phép, song cũng có trường hợp Nhà nước không kiểm soát được. Trong trường
hợp này, mục đích sử dụng đất trong hồ sơ, giấy tờ là đất nông nghiệp, song trên
thực tế họ lại sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp như: sử dụng đất vườn ao để
làm nhà ở, sử dụng đất nông nghiệp tiếp giáp với trục giao thông để làm địa điểm
kinh doanh phi nông nghiệp, chuyển từ loại đất trồng cây hàng năm sang loại đất
trồng cây lâu năm...
1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp
Khái niệm quản lý nhà nước (QLNN) được khoa học quản lý và khoa học
pháp lý chỉ ra rằng:
Theo thuật ngữ hành chính thì QLNN chỉ hoạt động thực hiện quyền lực
nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội
và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích
ổn định và phát triển đất nước [77, tr 87].
Theo từ điển giải thích từ ngữ Luật học “quản lý nhà nước là tác động của
chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới đối tượng quản lý
nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Tất cả các CQNN đều
làm chức năng QLNN. Pháp luật là phương tiện chủ yếu để QLNN. Bằng pháp luật,
nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân thay mặt họ tiến hành hoạt
động QLNN. [57, tr.96]”

15

tr.11].
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm về QLNN nói chung có thể hiệu QLNN đối
với đất đai là hoạt động của CQNN có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

16


trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện trên thực tế chính sách nhà nước về lĩnh
vực đất đai.
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp
thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn và những
loại cây được coi là thương lực. Tuy nhiên trên thực tế việc sử dụng đất nông
nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn
dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thuỷ sản hay để trồng các cây lâu
năm [59, tr.72].
Căn cứ vào mục đích sử dụng, Luật Đất đai 45/2013/QH13 được Quốc hội
thông qua ngày 29/11/2013 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 tại Điều
10 quy định đất đai được chia thành 08 loại: “(1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất
trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (2) Đất trồng cây lâu năm; (3) Đất rừng
sản xuất; (4) Đất rừng phòng hộ; (5) Đất rừng đặc dụng; (6) Đất nuôi trồng thủy
sản; (7) Đất làm muối; (8) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà
kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt
không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại
động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống
và đất trồng hoa, cây cảnh”.
Phân loại đất là việc phân chia đất thành từng nhóm hay các loại đất khác
nhau với những tên gọi đặc trưng. Nếu khoa học thổ nhưỡng phân loại đất nhằm
phục vụ cho kỹ thuật canh tác thì khoa học pháp lý nghiên cứu việc phân loại đất
theo mục đích sử dụng của từng loại đất khác nhau dựa vào đặc điểm tự nhiên, kinh

nông nghiệp hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và thu
nhập cho nông dân nghèo là yếu tố quan trọng để phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Thông qua hoạt động QLNN về đất nông nghiệp, Nhà nước thực hiện việc
giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời
hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó
hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển
quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng,
từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ đất đai, từng bước
hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp [63, tr.51]
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là căn cứ để đảm bảo việc
sử dụng đất có hiệu quả, hợp lý, và công bằng
Đất nông nghiệp là một tài nguyên quý giá, tài sản, tư liệu sản xuất đặc
biệt, không tái tạo được. Do vậy, đất nông nghiệp cần được sử dụng một cách khoa
18


học, tiết kiệm, nhằm mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần
cho mọi người, đảm bảo đất nông nghiệp được sử dụng lâu dài theo đúng mục đích,
đúng quy hoạch, kế hoạc sử dụng đất nông nghiệp được phê duyệt [75, tr.16].
Bằng hoạt động QLNN, Nhà nước tính toán đến các điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội, đến nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp cho các mục tiêu phát triển
của đất nước, tính toán đến quỹ đất của cả nước và từng địa phương để tìm ra
phương án sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, tiết kiệm;
Việc phân bổ đất nông nghiệp thường chịu sự tác động của quy luật cung
cầu, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự
công bằng. Ngoài ra chính sách của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp
dân cư được tiếp cận với việc SDĐ được dễ dàng. Thông qua hoạt động QLNN,
Nhà nước tiến hành giao đất nông nghiệp lâu dài và ổn định cho hộ gia đình và cá
nhân, khuyến khích họ khai thác và SDĐ theo hướng có hiệu quả cũng như xử lý
nếu sai phạm. Khi cần thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích kinh tế xã hội, Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status