xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG CÔNG THÁI

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC
TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG CÔNG THÁI

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC
TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TUẤN KHANH

HÀ NỘI, năm 2020



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ.............................................. 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ........................................................................................... 8
1.2. Thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.................................................................. 13
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự
an toàn giao thông đường bộ................................................................................... 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG..................................................................................................... 35
2.1. Khái quát điều kiện địa lý, kinh tế xã hội và tình hình vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ ở Quận Ngũ Hành Sơn............................................ 35
2.2. Tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
Quận Ngũ Hành Sơn............................................................................................... 41
2.3. Đánh giá chung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ ở Quận Ngũ Hành Sơn............................................................................ 46
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ XỬ
PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG

BỘ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.....56


3.1 Phương hướng đảm bảo hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ từ thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn..........................................56
3.2. Giải pháp bảo đảm hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ từ thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn.................................................. 59

4

TTATGT

Trật tự an toàn giao thông

5

TTATGTĐB

Trật tự an toàn giao thông đường bộ

6

HĐND

Hội đồng nhân dân

7

UBND

Ủy ban nhân dân

8

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa


Thống kê phương tiện gây tai nạn giao thông tại quận Ngũ

PL

hành Sơn
2.3

Tổng hợp nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông trên địa

PL

bàn Quận Ngũ Hành Sơn

DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu

Tên hình

Trang

hình
2.1

Quy hoạch chi tiết quận Ngũ Hành Sơn – Tỷ lệ 1/2000
Bản đồ quy hoạch giao thông

38


MỞ ĐẦU



mới được hình thành thu hút đông đảo cán bộ và nhân dân đến làm việc sinh sống.
Các công trình tiếp tục được triển khai xây dựng, từ đó phương tiện tham gia vận
chuyển, phục vụ hoạt động của các công trình này tiếp tục gia tăng, người điều
khiển phương tiện tham gia giao thông thường xuyên vi phạm các lỗi như: chạy quá
tốc độ, chở quá tải, đi không đúng phần đường, làn đường, chở vật liệu xây dựng rơi
vãi, điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm… Số đối tượng đeo bám chèo kéo
khách du lịch cũng diễn ra phức tạp, tình trạng lấn chiếm vĩa hè, lòng lề đường làm
nơi để vật dụng, trưng bày hàng hóa, buôn bán , trông giữ xe, sửa chữa phương
tiện… gây ảnh hưởng đến trật tự đô thị, hành lang an toàn giao thông đường bộ.
Tình hình vi phạm về trật tự công cộng và các hành vi vi phạm pháp luật khác như
đánh nhau gây rối có sử dụng hung khí, chống người thi hành công vụ, cướp, cướp
giật, cưỡng đoạt tài sản, tụ tập tổ chức đua xe trái phép…ở địa bàn công cộng Thành
phố nói chung, Quận Ngũ hành Sơn nói riêng còn diễn biến phức tạp.
Trong khi một số bất cập trong xử lý vi phạm hành chính ở lĩnh vực giao
thông đường bộ chậm được khắc phục, biểu hiện ở chỗ là: (1) Công tác đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ đang bị xé nhỏ và do có nhiều đầu mối là các cơ
quan chức năng (Cảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự, Thanh tra giao thông …)
cùng thực hiện khiến tình trạng chống chéo, lấn sân nhau, "dễ làm, khó bỏ’’; (2) Thủ
tục về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB hiện nay còn rườm rà, hao
phí cả thời gian của người thi hành công vụ và người vi phạm; (3) Trong quá trình
xử lý vi phạm hành chính còn bị chi phối bởi cơ chế xin cho; (4) Việc quản lý
phương tiện còn rất nhiều bất cập, hiện nay số lượng phương tiện chưa sang tên đổi
chủ vẫn còn rất nhiều…
Xuất phát từ những vấn đề trên đây, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn quận Ngũ
hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng” để thực hiện luận văn thạc sỹ ngành Luật Hiến
pháp-Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Luật Hà Nội. Luận văn nghiên cứu thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính ở
lĩnh vực giao thông đường bộ nước ta; qua đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện
pháp luật tở lĩnh vực này.
Tác giả Nguyễn Văn Minh với Luận văn thạc sĩ ngành luật học năm 2012:
Xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ ở địa bàn Thành phố
Thanh Hóa, Khoa luật của đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn này nghiên cứu làm
rõ một số cơ sở lý luận về vấn đề giao thông đường bộ, tìm hiểu và đánh giá thực

3


trạng an toàn giao thông đường bộ và hành lang an toàn giao thông đường bộ ở
thành phố Thanh Hóa.
Trần Minh Thư – Viện trưởng Viện khoa học và chiến lược Bộ Công an
(2014), Bài viết “Nâng cao vai trò của lực lượng Cảnh sát giao thông nhằm đảm
bảo trật tự, an toàn giao thông trong tình hình mới”, Tạp chí Cảnh sát Nhân dân, số
tháng 2. Nội dung bài viết này trình bày thực trạng và đề xuất các giải pháp khá cụ
thể đối với lực lượng Cảnh sát giao thông nhằm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông
trong tình hình mới.
Phạm Trung Hòa, Học viện Cảnh sát Nhân dân (2014), Bài viết “Nâng cao
văn hóa ứng xử trong giao tiếp của Cảnh sát giao thông đáp ứng yêu cầu đảm bảo
trật tự an toàn giao thông” đăng ở tạp chí Cảnh sát Nhân dân, số 2 năm 2014. Bài
viết này tập trung làm rõ vai trò văn hóa ứng xử của chiến sĩ Cảnh sát giao thông
đối với công tác xử phạt.
Trương Diệu Loan (2015), “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực GTĐB theo chức năng của lực lượng Cảnh sát giao
thông”, Luận án tiến sĩ ngành An ninh và trật tự xã hội, Học Viện Cảnh sát Nhân
dân, Hà Nội. Luận án này đã nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm của xử lý vi
phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính ở lĩnh vực GTĐB nói riêng trên
cơ sở pháp luật thực định. Qua đó làm rõ thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm

thành, song vấn đề nghiên cứu thực tiễn xử phạt hành chính ở lĩnh vực GTĐB tại
Quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu. Vì
thế, bên cạnh cần kế thừa các giá trị từ kết quả của các nghiên cứu trên, luận văn
“Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB từ thực tiễn quận Ngũ hành
Sơn, Thành Phố Đà Nẵng” tập trung phản ánh thực trạng tình hình tại quận Ngũ
Hành Sơn để cung cấp một số cơ sở luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất
một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt hành chính ở lĩnh vực GTĐB, góp
phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà Nước, giữ gìn TTATGTĐB ở khu vực
đô thị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ quy định pháp luật và thực
hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
quận Ngũ Hành Sơn, từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp bảo đảm xử phạt vi
phạm hành chính về giao thông đường bộ trên địa bàn Quận Ngũ Hành Sơn nói
riêng và các quận, huyện nói chung trong thời gian tới.

5


3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau đây:
Một là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ như quan niệm, đặc điểm, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục…; hệ thống hóa và phân tích các quy định của pháp luật xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự giao thông đường bộ.
Hai là, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng tình hình vi phạm hành chính
và hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ
thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn trong thời gian qua; chỉ ra những kết quả đạt được,

Thành phố Đà Nẵng để định hình cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng xử phạt vi
phạm hành chính ở lĩnh vực GTĐB từ thực tiễn quận Ngũ hành Sơn, Thành Phố Đà
Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận.
Luận văn góp phần hệ thống hóa các nội dung để làm rõ hơn vấn đề lý luận,
pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính ở lĩnh vực GTĐB.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Từ cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực trạng xử phạt vi phạm VPHC trong lĩnh
vực GTĐB trên địa bàn quận Ngũ hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng, luận văn xác lập
các luận cứ để đề xuất các giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ. Qua đó, luận văn góp phần tư vấn cho các địa phương về
việc thực hiện pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;
cũng như đóng góp vào tài liệu tham khảo cho công tác bồi dưỡng, giáo dục pháp
luật về xử phạt vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực giao thông đường
bộ nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục mở đầu, kết luận, mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận
văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn, Thành
phố Đà Nẵng.

7



luật phải bị xử phạt hành chính. Bao gồm những hành vi vi phạm về nguyên tắc

8


GTĐB, những hành vi vi phạm các quy định về phương tiện tham gia GTĐB,
những hành vi vi phạm các quy định về hạ tầng GTĐB, những hành vi vi phạm
trong điều khiển phương tiện tham gia GTĐB, những hành vi vi phạm các quy định
về vận tải đường bộ và những hành vi vi phạm khác liên quan GTĐB.
Từ cơ sở này, có thể hiểu: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB là sự việc chủ thể có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt và các
biện pháp khắc phục hậu quả đối với những tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi
phạm hành chính ở lĩnh vực GTĐB theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB được xác định thông qua các đặc
điểm sau:
Thứ nhất, vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là hành vi xâm phạm
các nguyên tắc/ quy tắc trong quản lý nhà nước về lĩnh vực GTĐB. Cụ thể, vi phạm
hành chính ở lĩnh vực này là hành vi xâm phạm đến quản lý TTATGTĐB được pháp
luật hành chính quy định và bảo vệ, khiến gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt
hại.
Thứ hai, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật (vi phạm Luật giao
thông đường bộ). Đây cũng là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mặt khách quan của vi
phạm hành chính. Tức là nếu chủ thể có hành vi trái pháp luật hành chính thì dẫn
đến cấu thành vi phạm hành chính. Hành vi trái pháp luật hành chính ở lĩnh vực
giao thông đường bộ được thể hiện theo dạng hành động (chủ thể thực hiện hành vi
bị pháp luật ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành
vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện). Điểm cần lưu ý là, tránh tình
trạng áp dụng áp dụng “tương tự pháp luật” hoặc “nguyên tắc suy đoán” khi xác

quy định cụ thể về những hành vi vi phạm hành chính lĩnh vực GTĐB, gắn theo đó
là áp dụng các hình thức xử phạt, mức phạt với mỗi hành vi vi phạm.
Hai là, thẩm quyền của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB do
nhiều chủ thể có thể thực hiện được thẩm quyền này theo quy định, thường là gồm
có các chủ thể: Cảnh sát giao thông; Thanh tra giao thông; Công an xã; Lực lượng
Cảnh sát khác…
Ba là, đặc thù của xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực GTĐB được thực
hiện gắn liền với tính di động của không gian địa điểm xảy ra các hành vi vi phạm ở
lĩnh vực này với chứng cứ rõ ràng về hành vi vi phạm.

10


1.1.3. Các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
1.1.3.1. Khách thể:
Khách thể của vi phạm pháp luật nói chung được hiểu là những quan hệ xã
hội vốn được luật pháp bảo đảm, song chúng bị các hành vi phạm pháp ixâm hại
đến. Khách thể là một trong bốn yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật (chủ thể,
khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan). Nên khách thể là yếu tố quan trọng trong
việc quyết định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi trái luật.
Đối với khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, đó là các
quan hệ xã hội được các quy tắc trong quản lý nhà nước bảo vệ. Nên dấu hiệu để
nhận biết vi phạm hành chính trong GTĐB là các quan hệ xã hội bị vi phạm hành
chính xâm hại, biểu hiện trong thực tiễn đời sống rất đa dạng, đó là các hành vi vi
phạm đã xâm phạm về trật tự quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực GTĐB,
bao gồm: trật tự công cộng, an toàn công cộng, sức khỏe, tính mạng của người tham
gia giao thông…
1.1.3.2. Mặt khách quan:
Mặt khách quan dùng để chỉ các dấu hiệu bên ngoài của sự vật. Nên mặt

nhận thức của con người với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định nang lực
pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo luật định, không mắc bệnh làm mất khả
năng nhận thức điều khiển hành vi. Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do
cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm
hành chính. Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm
hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình
thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt
động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ
quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý
Ngoài ra, việc xử lý đối với người chưa thành niên còn áp dụng theo điều
134 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Đối với người chưa thành niên vi phạm
hành chính, việc áp dụng quyết định mức xử phạt và hình thức xử phạt phải nhẹ hơn
so với những người thành niên khi có cùng hành vi vi phạm hành chính tương tự.
Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp
dụng hình thức phạt tiền. Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm
hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối
với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng

12


thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực
hiện thay.
Đối với tổ chức: Pháp luật hành chính coi tổ chức là chủ thể của vi phạm
hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, cơ quan, tổ chức
nước ngoài nếu vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế,
vùng tiếp giáp lãnh thì bị xử phạt như cơ quan, tổ chức Việt Nam trừ tổ chức được
hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao.

nhằm kiểm soát người và các phương tiện tham gia GTĐB; xử lý các vi phạm pháp
luật về GTĐB đối với những đối tượng và các phương tiện tham gia GTĐB cũng
như chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước pháp luật; phối hợp với các cơ
quan quản lý đường bộ để phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm quy định về
bảo vệ công trình đường bộ, hành lang an toàn đường bộ (Khoản 1 Điều 87 Luật
giao thông đường bộ 2008).
- Thanh tra giao thông đường bộ: là lực lượng chuyên ngành GTĐB có các
nhiệm vụ thanh tra: (1) Việc chấp hành những quy định pháp luật về bảo vệ kết cấu
hạ tầng GTĐB, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đường bộ và phương
tiện tham gia giao thông tại các điểm giao thông tĩnh; (2) Việc đào tạo, sát hạch,
cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe cơ giới đường bộ. Việc thanh tra đào tạo, sát hạch
lái xe của lực lượng quân đội, công an do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ
Công an quy định; (3) Việc chấp hành quy định của pháp luật về hoạt động vận tải
tại các điểm giao thông tĩnh.
- Các lực lượng cảnh sát khác: (Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh,
Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) và công an cấp xã
ở phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với cảnh sát GTĐB tham gia
tuần tra và kiểm soát TTATGTĐB những trường hợp cần thiết.
1.2.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an
toàn giao thông đường bộ.
Xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực TTATGTĐB là việc các cá nhân có
thẩm quyền theo luật định áp dụng những hình thức xử phạt và các biện pháp khắc
phục hậu quả đối với các tổ chức, cá nhân khi vi phạm hành chính ở lĩnh vực
TTATGTĐB. Xử phạt vi phạm hành chính ở lĩnh vực này chỉ được áp dụng khi và
chỉ khi có căn cứ là có vi phạm hành chính lĩnh vực TTATGTĐB.
Xác định thẩm quyền vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATGTĐB được áp
dụng theo quy định tai điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, và
theo chương IV Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, được quy định


moóc được kéo theo), xe máy chuyên dùng; xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự
xe ô tô vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông.
Xử phạt người điều khiển: xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người và các loại
xe tương tự xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người; xe ô tô tải, máy kéo (cả rơ

15


moóc/ sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển
hàng hóa vi phạm quy định về vận tải đường bộ; xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm
quy định về vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; xe ô tô thực hiện hành vi vi
phạm quy định về vận chuyển chất gây ô nhiễm môi trường, hàng nguy hiểm; xe vệ
sinh môi trường, xe ô tô chở phế thải, vật liệu rời và xe chở hàng khác thực hiện
hành vi vi phạm quy định về hoạt động vận tải trong đô thị; xe bánh xích, xe quá tải
trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (cả xe ô tô chở hành khách); phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ gắn biển số nước ngoài; phương tiện đăng ký hoạt
động trong Khu kinh tế thương mại đặc biệt, Khu kinh tế cửa khẩu QT.
Xử phạt: chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến GTĐB; nhân viên
phục vụ trên xe buýt, xe vận chuyển hành khách theo tuyến cố định, xe vận chuyển
hành khách theo hợp đồng, xe vận chuyển khách du lịch vi phạm quy định về
TTATGT; người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép; hành khách đi xe vi phạm
quy định về TTATGT; hành vi sản xuất, lắp ráp trái phép phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ; hành vi sản xuất, bán biển số phương tiện giao thông cơ giới đường
bộ trái phép.
- Thanh tra giao thông đường bộ:
Ở khoản 5 thuộc điều 74 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, ở phạm vi chức
năng, nhiệm vụ được giao Thanh tra GTĐB có thẩm quyền xử phạt đối với những
hành vi vi phạm quy định về dịch vụ hỗ trợ vận tải và hoạt động vận tải ở những
điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, trạm dừng nghỉ, bãi đỗ xe, bến xe, trạm thu phí,
cơ trạm kiểm tra tải trọng xe, sở kinh doanh vận tải đường bộ, khi phương tiện có

biển số nước ngoài; các hành vi vi phạm khác về quy tắc GTĐB.
Xử phạt hành vi vi phạm quy định: sử dụng, khai thác; thi công, bảo trì công
trình trong phạm vi đất dành cho đường bộ; quản lý, khai thác, bảo trì, bảo vệ kết
cấu hạ tầng GTĐB; vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; đào tạo, sát
hạch lái xe; hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường xe cơ giới.
Xử phạt các hành vi: vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển: xe
cơ giới; xe máy chuyên dùng; vi phạm về xây dựng bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng
nghỉ, trạm thu phí đường bộ.
- Lực lượng cảnh sát khác và công an xã:
+ Theo khoản 3 điều 74 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, Cảnh sát trật tự, Cảnh
sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH ở
phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan TTATGTĐB có thẩm quyền:
Xử phạt người điều khiển: xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô; xe mô tô,
xe gắn máy (cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và xe gắn máy; máy

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status