Luận văn thạc sĩ khoa học: Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội - Pdf 65

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------

NGUYỄN THANH BẢN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------

NGUYỄN THANH BẢN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số

: 60850103


bằng huyện Ba Vì; Chủ tịch UBND, cán bộ địa chính các xã, thị trấn trên địa
bàn Huyện đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và những thông tin cần
thiết liên quan.
Cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã động viên và giúp
đỡ tôi hoàn thành Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Bản

iii


MỤC LỤC

Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục viết tắt

viii

Chương trình xây dựng nông thôn mới và vai trò của công tác,
dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
1.2.
Cơ sở pháp lý về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.
Những cơ sở pháp lý về quản lý sử dụng đất nông nghiệp theo
Luật Đất đai năm 1993.
1.2.2
Những cơ sở pháp lý về quản lý sử dụng đất nông nghiệp theo
Luật Đất đai năm 2003.
1.3
Tình hình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành
phố Hà Nội
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Vì
2.1.1.
Điều kiện tự nhiên
2.1.2.
Điều kiện kinh tế - xã hội

iv

1
1
2
3
3
3

2.2.4.
Thực trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
2.2.5.
Tình hình đăng ký, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nông nghiệp
2.2.6.
Công tác thu hồi để chuyển mục đích sử dụng, bồi thường, hỗ
trợ về đất nông nghiệp
2.2.7.
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai
2.2.8.
Quản lý tài chính về đất đai, quản lý và phát triển thị trường bất
động sản, quản lý và giám sát thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất.
2.2.9.
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về
đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; Giải quyết tranh chấp, khiếu
nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
2.2.10.
Thực trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp của các nông - lâm
trường trên địa bàn Huyện
2.2.11.
Thực trạng công tác dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
2.3.
Đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Ba Vì
2.3.1.
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
2.3.2.
Phân tích, đánh giá biến động các loại đất
2.3.3.


66
77
81
81
82
89
91
91
91
92
93
93


3.2.1.1.
3.2.1.2.
3.2.1.3.
3.2.2.
3.2.2.1.
3.2.2.2.
3.2.2.3.
3.2.2.4.
3.2.2.5.
3.2.2.6.
3.2.2.7
1.
2.

Công tác tuyên truyền

103
105
107
107
108
109
112


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DT

: Diện tích

FAO

: Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc

GCN

: Giấy chứng nhận

HĐND

: Hội đồng nhân dân

NN

: Nông nghiệp

2.8

Tên bảng
Tổng hợp số lượng bản đồ quản lý và lưu trữ tại huyện Ba Vì
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch đất nông nghiệp đến năm 2010
Tổng hợp kết quả thực hiện giao đất nông nghiệp theo Nghị định
số 64/CP của Chính phủ.
Tổng hợp số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông
nghiệp giao ruộng theo Nghị định số 64/CP đã cấp.
Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp qua các kỳ kiểm kê theo địa
giới hành chính
Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp qua các thời kỳ thống kê đất đai
Thống kê diện tích đang sử dụng của các nông, lâm trường
Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa huyện Ba Vì đến tháng 11/2013

Trang
45
47
50
55
61
62
67
80
82

2.10

Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Ba Vì (Tính đến ngày
01/01/2013)

trong khi nguồn lực mà nó đem lại là vô cùng to lớn.
Huyện Ba Vì nằm phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội có tổng diện tích đất tự
nhiên là 42.402,69 ha, quỹ đất nông nghiệp khá lớn với 29.176.56 ha. Địa hình của
Huyện chia thành ba vùng đó là: vùng núi thuộc khu vực núi Ba Vì, vùng trung du
đồi gò và vùng đồng bằng phù sa. Ba Vì đang trong quá trình đổi mới. Xuất phát từ
một huyện có tiềm năng về nông nghiệp sinh thái, du lịch, trọng tâm phát triển kinh tế
- xã hội của Huyện là chuyển dịch cơ cấu kinh tế kết hợp phát triển vùng sinh thái, du
lịch, từng bước chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
huyện Ba Vì có nhiều lợi thế cho phát triển nông nghiệp, tuy nhiên hiện nay chưa sử
dụng đúng tiềm năng và khai thác có hiệu quả đối với đất đai.
Trên địa bàn Huyện có nhiều nông lâm trường, trạm trại với tổng diện tích
11.877,74 ha. Hệ thống hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng
đất của Huyện cũ nát, không có đủ phê duyệt của các cấp có thẩm quyền, thiếu, biến
động nhiều, giá trị pháp lý không cao. Thực trạng giao đất, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình trên địa bàn Huyện theo Nghị
định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất
cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Các thửa đất còn quá manh
mún, nhỏ lẻ, phân tán khó thực hiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó thực

1


hiện cơ giới hóa vào sản xuất; diện tích cấp Giấy chứng nhận của các hộ gia đình
dựa trên số liệu đo đạc thủ công và giao cho các hộ dân tự kê khai diện tích để cấp
Giấy chứng nhận, do đó diện tích sử dụng thực tế của các thửa đất nông nghiệp
chưa chính xác. Những yếu kém, tồn tại trên đã làm cho hiệu quả sử dụng đất không
cao, ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, sử dụng đất đặc biệt là công tác quy
hoạch sử dụng đất, công tác thống kê - kiểm kê đất đai, công tác thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với đất nông nghiệp. Đồng thời, những năm

trên địa bàn huyện Ba Vì.

3


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm về đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông
nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế
hệ người kế tiếp nhau [5].
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai
bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng
nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất [36].
Theo quan điểm của các nhà kinh tế và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất
đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các cấu thành của môi
trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng,
địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước
ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con
người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại” [34].
Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ
khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai
là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian [3].
1.1.2. Đất nông nghiệp và các vấn đề sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm đất nông nghiệp
* Theo truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được
hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây
được coi là cây lương thực. Tuy nhiên trên thực tế, việc sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai 2003 có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính
sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích
sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản,
trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp,
lâm nghiệp.
1.1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến đất nông nghiệp
a. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên là tiền đề cơ bản nhất, là nền móng để phát triển và phân
bố nông nghiệp. Mỗi một loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát
triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định nào đó, ngoài những điều kiện đó cây
trồng và vật nuôi không thể tồn tại và phát triển. Các điều kiện tự nhiên quan trọng
nhất là đất, nước và khí hậu. Chúng quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây
trồng, vật nuôi cụ thể trên từng điều kiện đất, nước và khí hậu khác nhau, cũng như
việc áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp trong các điều kiện tự nhiên khác
nhau đồng thời có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, vật nuôi.
Một trong những yếu tố hạn chế năng suất cây trồng chính là điều kiện về độ
phì nhiêu của đất, điều kiện nước tưới, điều kiện khí hậu.

5


b. Nhóm yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng,
vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình
thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu
biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những
dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn
chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với quy luật tự nhiên của sinh vật
nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng
hóa. Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi tác động tích

và hạ giá thành nông sản phẩm [16].
d. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển và phân bố
nông nghiệp:
+ Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và giá cả
nông sản. Cung, cầu trên thị trường có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và
phát triển đối với các loại hàng hóa nông nghiệp. Theo Nguyễn Duy Tính (1995):
Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất
cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra
[19]. Trong cơ chế thị trường, các hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hóa, họ có khả
năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra
những nông sản hàng hóa mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng
nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống
cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn.... đồng thời,
quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa để người sản xuất hàng hóa nên
sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì?
Sản phẩm hàng hóa của nước ta đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá
rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả [7].
+ Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp, đất đai,... có vai
trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Hệ thống
chính sách pháp luật tác động rất lớn tới sự phát triển của nông nghiệp và cách thức
tổ chức, sắp xếp, cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Mỗi một sự thay đổi chính sách,
pháp luật thường tạo ra sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó có thể thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp phát triển hoặc giới hạn, hạn chế một khuynh hướng phát triển nhằm
mục đích can thiệp và phát triển theo định hướng của nhà nước.
Phát triển nông nghiệp nước ta thực sự khởi sắc sau sự kiện đổi mới của pháp
luật và một loạt chính sách về đât đai bắt đầu là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào
tháng 4 năm 1988, người dân được giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài,
được thừa nhận như một đơn vị kinh tế và được tự chủ trong sản xuất nông nghiệp.

đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội mà không ngành nào có thể
thay thế được. Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu của mỗi quốc gia, góp phần
ổn định chính trị, phát triển kinh tế [17].
1.1.3.1.Về mặt kinh tế
* Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu để sản xuất hàng hóa.
- Khi tham gia vào quá trình sản xuất, đất nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất
đặc biệt vừa là đối tượng lao động. Để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
đối với bất kỳ nông sản nào trước hết phải có diện tích đất nông nghiệp đủ lớn, kết
hợp với các yếu tố khác như lao động, công cụ lao động, khoa học kỹ thuật, chất
lượng giống, phân công lao động theo từng chuyên khâu… thì mới có điều kiện tạo
ra khối lượng nông phẩm hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài những

8


điều kiện như đã nêu trên, sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp còn có thể khai thác
các yếu tố lợi thế về đặc thù riêng vốn có của những vùng đất như: vải thiều có năng
suất và chất lượng tốt thuộc vùng Lục Ngạn, Bắc Giang, Thanh Hà, Hải Dương,
bưởi Năm Roi ở miền Tây Nam bộ, nhãn lồng Hưng Yên…
- Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp đóng góp vốn trực tiếp cho đầu tư trong
giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa [35].
Theo kinh nghiệm của nhiều nước đang phát triển trên thế giới, muốn công
nghiệp hóa nhanh và phát triển kinh tế thành công, trước hết phải có một nền nông
nghiệp mạnh mới đảm bảo được công bằng xã hội, ổn định và phát triển kinh tế
nông nghiệp, đủ điều kiện để chuẩn bị hạ tầng cho công nghiệp hóa. Chính vì lý do
này mà các nước đang phát triển đều phải thực hiện cải cách ruộng đất.
Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ II đã thực hiện cải cách ruộng đất tới hai
lần để ổn định mặt bằng kinh tế nông nghiệp, là nước đầu tiên lấy vốn từ nông
nghiệp để đầu tư phát triển kinh tế nói chung và hiện nay là đã trở thành một cường
quốc công nghiệp trên thế giới. Đài Loan là một vùng lãnh thổ tiến hành cải cách

Nghiên cứu Luật Đất đai năm 2003 cho thấy: Tại Điều 105 quy định: “Quyền
của người sử dụng đất được Nhà nước câp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”;
Điều 106 quy định: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thuê lại, thừa kế,
tặng, cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất”; Điều 113 quy định: “Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín
dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay
vốn sản xuất kinh doanh” [14].
Đối với Luật Đầu tư năm 2005 tại Điều 3 mục 1có nêu: “Đầu tư là việc nhà đầu
tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành
các hoạt động đầu tư theo quy định luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan” và mục 7 có nêu: “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện
các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp [15].
Như vậy có thể nói đất nông nghiệp có đầy đủ các yếu tố thuận lợi để tham gia
vào thị trường bất động sản, thị trường vốn trong quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trên thực tế đã có rất nhiều mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông
nghiệp đa dạng và phong phú như:
+ Người nông dân góp cổ phần trong doanh nghiệp nhà nước bằng quỹ đất và
tham gia lao động ngay tại doanh nghiệp nhà nước đó.
+ Cá nhân hoặc tổ chức có đất nông nghiêp do thiếu vốn sản xuất có thể thế
chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng nhân dân để
vay vốn sản xuất.
+ Hộ nông dân có đất sản xuất nông nghiệp nhưng thiếu kinh nghiệm, thiếu lao
động thì dùng quỹ đất liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác không có
đất hoặc thiếu đất để sản xuất.
Như vậy, trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển và hội nhập ngày
càng sâu rộng như hiện nay thì vai trò của đất nông nghiệp là phương tiện góp vốn,
thế chấp, huy động vốn, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh được Nhà

10


nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc
với tự nhiên, cây trồng sống trên đất, quang hợp nhờ ánh sáng mặt trời, hút nước từ
trong đất, cá phải sống dưới nước sông, hồ, biển, gia xúc, gia cầm phải có chuồng
trại, có bãi chăn thả; con vật nuôi phải có thức ăn mà thức ăn lại chính là các động
thực vật được sản xuất từ trong nông nghiệp. Tất cả những yếu tố đó chính là môi

11


trường sống, là không gian để sản xuất. Muốn sản xuất phát triển thì chung ta phải
biết giữ gìn, bảo vệ môi trường, không vi phạm các quy luật tự nhiên, không chỉ
biết khai thác đất đai mà còn phải biết bồi bổ đất đai, tạo lập môi trường sống tốt
nhất cho cây trồng vật nuôi.

1.1.4. Vai trò quản lý nhà nước về đất đai và đất nông nghiệp nói riêng.
Đất đai là một nguồn tài nguyên hữu hạn, nó chỉ trở nên vô hạn và quý giá tùy
thuộc hoàn toàn vào sự hiểu biết và thái độ đối xử của con người đối với đất đai, đất
đai không thể tái sinh, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được trong sản
xuất nông - lâm nghiệp.
Đất đai khi tham gia thị trường thì trở thành một loại hàng hóa đặc biệt mà
không một Nhà nước nào bỏ qua việc định hướng, điều tiết và kiểm soát. Điều này
không quyết định bởi ý chí của Nhà nước mà là sự bắt buộc phải làm để toàn bộ nền
kinh tế được vận hành một cách lành mạnh và có hiệu quả. Không ai có thể phủ
nhận được vai trò to lớn của nền sản xuất nông nghiệp và thị trường bất động sản
đối với nền kinh tế nước ta hiện nay, cũng như chúng ta không thể bỏ qua vai trò
quản lý của Nhà nước đối với đất đai.
Kể từ khi được thành lập cách đây 65 năm, trải qua những chặng đường lịch
sử, ngành quản lý đất đai đã từng bước lớn mạnh và trưởng thành, khẳng định vị trí
của mình trong hệ thống quản lý Nhà nước, đã có những đóng góp to lớn vào sự
nghiệp giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và phát triển đất nước. Trong bất cứ

+ Công tác lập và quản lý quy hoạch được triển khai ở các cấp góp phần quan
trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng
địa phương trong mỗi giai đoạn: đảm bảo sử dụng đất đai một cách tiết kiệm, hợp
lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất, bảo vệ môi trường sinh thái. Đất
đai cơ bản được giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng một
cách hiệu quả. Diện tích đất trống đồi núi trọc dần được phủ xanh.
+ Từ những hoạt động quản lý nhà nước về đất đai đã từng bước chuyển dịch nền
sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa với đa dạng và cơ cấu hợp lý các loại sản
phẩm có chất lượng, có giá trị cao phù hợp kinh tế thị trường, hạn chế tình trạng sử
dụng đất manh mún bằng các chính sách dồn điền đổi thửa, bố trí đất đai để hình thành
các vùng sản xuất tập trung thuận lợi cho áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất.
+ Quyền sử dụng đất được trao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân qua đó đã
từng bước giải quyết tốt tình trạng khiếu nại, tranh chấp đất đai, góp phần ổn định
trật tự xã hội. Quyền sử dụng đất trở thành hàng hóa trong thị trường bất động sản,
khơi thông nguồn vốn cho đầu tư phát triển tạo nguồn thu từ đất đai cho ngân sách
Nhà nước ngày càng tăng nhanh.
+ Cũng bằng các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, đối với đất nông
nghiệp Nhà nước ban hành nhiều văn bản nhằm bảo vệ nghiêm ngặt đất nông
nghiệp: nội dung này được quy định tại Điều 36, Điều 37 và Điểu 125 Luật Đất đai
năm 2003, theo các quy định này thì việc giao đất nông nghiệp sử dụng vào mục
đích khác phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chỉ có Chính phủ,
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, UBND cấp huyện mới được giao đất

13


nông nghiệp. Khi giao đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích khác phải tiến hành
theo một trình tự, thủ tục rất nghiêm ngặt và người giao đất phải thực hiện nghĩa vụ
tài chính [14]. Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2012/NĐ-CP quy
định về quản lý, sử dụng đất lúa nhằm mục tiêu an ninh lương thực, đây là một


14


lợi cho việc đầu tư xây dựng các công trình công cộng hạ tầng phục vụ sản xuất
như: đường giao thông nội đồng, cứng hóa hệ thống kênh mương, quy hoạch những
vùng chuyên canh, khai thác được lợi thế của từng vùng đất khác nhau.
+ Dồn điền, đổi thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong
nội bộ ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển hàng hóa, làm tiền đề để hình thành
các doanh nghiệp trong nông nghiệp và có điều kiện để hình thành trang trại, nông
trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân công lại lao động xã
hội. Bởi vì hiện nay do ruộng có ô thửa nhỏ, trên một cánh đồng các hộ canh tác
những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau, chế độ chăm sóc thu
hoạch khác nhau. Điều đó gây ảnh hưởng và hạn chế lẫn nhau.
+ Dồn điền, đổi thửa thành công sẽ thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất, tạo điều kiện sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đủ
lớn giúp cho công nghiệp chế biến phát triển, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nông sản.
1.2. Cơ sở pháp lý về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
Ở Việt Nam, công tác quản lý sử dụng tài nguyên đất được quan tâm rất sớm.
Những năm đầu của thập kỷ 80, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống chính sách về
đất đai phù hợp với tình hình đất nước thể hiện ở chính sách thống nhất quản lý ruộng
đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất, đồng thời thực hiện công tác đo đạc
phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước. Đặc biệt ngày 18/12/1980
Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp sửa đổi
quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất,
ở vùng biển và thềm lục địa... đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất
quản lý đất đai theo quy hoạch chung”. Đây là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để
thực thi công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước [18].
Nội dung quản lý đất nông nghiệp có những chuyển biến tích cực khi thực hiện
Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/01/1981 về việc mở

- Chuyển đi nơi khác;
- Chuyển sang làm nghề khác;
- Không còn khả năng trực tiếp lao động.
Luật Đất đai năm 1993 cũng quy định 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
tại Điều 13:
- Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính;
- Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất;
- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện
các văn bản đó;
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất;
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử
dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất;
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong việc quản lý và sử dụng đất đai [13].
Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 quy định về việc giao đất nông nghiệp

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status