MỤC LỤC
Tên nội dung
Trang
A. Mở đầu
3
1. Lí do chọn đề tài
3
2. Mục đích nghiên cứu.
4
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
4
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
4
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Mục tiêu của giáo dục hiện nay chúng ta đang hướng tới giáo dục cho học sinh
kiến thức song song với đó là giáo dục kỹ năng cho học sinh. Trong Luật giáo dục
2005 đã chỉ rõ những định hướng chung về đổi mới PPDH là: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS ; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng àm việc theo nhó; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
Vậy đối với môn công nghệ hiện nay, sau khi học xong một bài, một chương
hay một phần HS vừa phải nắm bắt được nội dung kiến thức vừa phải hình thành
được kỹ năng cho bản thân nhất là kỹ năng thực hành, thực hiện các thao tác theo
quy trình. Với môn công nghệ lớp 6 hiện nay theo khung phân phối chương trình
được bố trí tổng số tiết là 70 tiết (2 tiêt/tuần) . Trong nội dung chương trình của bộ
môn công nghệ do đặc thù của môn học nên thời lượng số tiết thực hành và số tiết
lý thuyết gần tương đương nhau. Tuy nhiên ở các nhà trường hiện nay khi phân
công chuyên môn thường chia 2 tiết học thành 2 buổi khác nhau để GV giảng dạy,
việc làm này đã vô tình đã ảnh hưởng đến PPDH của giáo viên cũng như quan điểm
dạy học của bộ môn, đặc biệt là trong các bài thực hành.
Trong các tiết thực hành khi dạy một tiết GV và HS phải chuẩn bị rất nhiều đồ
dùng dạy học và phải thực hiện tuần tự theo một quy trình, tuy nhiên với cách bố trí
các tiết dạy học hiện nay GV và HS khi thực hiện mới được một thời gian ngắn đã
hết giờ, phải dừng lại và hôm sau phải chuẩn bị lại từ đầu. bên cạnh đó trong nội
dung của bài thực hành HS phải hoàn thiện một sản phẩm tuy nhiên với thời lượng
1 tiết HS mới chỉ thực hiện được một vài bước của quy trình thực hành nên chưa
thể hoàn thiện được sản phẩm. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học của
GV và khả năng tiếp thu của HS đặc biệt là khả năng hình thành kỹ năng thực
hành. Bên cạnh đó trong quá trình tổ chức dạy học khâu đánh giá cũng đóng một
vai trò rất quan trọng, tuy nhiên nếu tổ chức dạy học không tốt thì khâu đánh giá
cũng không mạng lại hiệu quả, nhât là đánh giá nội dung thực hành thì cần chi tiết
học trước và khảo sát các trường học lân cận.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi từ đồng nghiệp, học sinh để thu thập thông
tin phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tập hợp lại những kinh nghiệm nghiên
cứu và thực tiễn về học sinh để đề xuất các biện pháp.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thông kê các số liệu qua theo dõi, khảo
sát thực tế để tổng hợp so sánh tính hiệu quả.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Môn công nghệ là môn học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. Do đó trong
mỗi giờ học GV không chỉ trình bày lý thuyết một chiều mà còn phải nêu các vấn
đề, đặt ra các câu hỏi giúp HS vận dụng những hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân
vào cuộc sống.
Trong giờ học môn công nghệ, GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức cho
HS thu nhận kiến thức, hình thành kỹ năng thông qua việc tổ chức dạy học đặc biệt
4
là các tiết học thực hành. Một nhà giáo dục Ấn Độ có viết “Tôi nghe – tôi quên; Tôi
nhìn – tôi nhớ; Tôi làm – tôi hiểu”. Thực hành sẽ củng cố lí thuyết, mặt khác trải
qua kinh nghiệm thực tế học sinh sẽ thay đổi cách tư duy và hành động của mình.
Học sinh không chỉ lĩnh hội được kiến thức mới qua việc quan sát và nghe giảng,
mà phải cố gắng vận dụng những kiến thức mới này vào thực tiễn để biến thành
kiến thức và kỹ năng của chính mình chỉ khi đó quá trình dạy học mới hoàn thiện.
Trong môn công nghệ có 2 loại thực hành. Một loại thực hành giúp học sinh
chủ động tìm hiểu, phát hiện kiến thức để lĩnh hội hoặc để khẳng định, củng cố các
kiến thức đã học. Loại thực hành thứ 2 là để rèn luyện kỹ năng về công việc nào
đó.
Tuy nhiên theo PPDH thực hành thì các tiết học thực hành phải đảm bảo đầy
đủ các yếu tố để giáo dục kiến thức, kỹ năng, thái độ cho HS. Đặc biệt cần hình
trường không thể có đủ các trang thiết bị dạy học để phục vụ cho các tiết học thực
hành nhiều như vậy.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học của các nhà trường không thể
đáp ứng đủ cho HS thưc hành nhất là đối với các trường có nhiều lớp.
- Từ khâu tổ chức dạy học chưa khoa học dẫn đến việc đánh giá kết quả học
tập của học sinh còn hời hợt, đơn điệu. GV chưa đánh giá được từng mặt, từng
phần đạt được của HS.
- Nội dung đánh giá của cả bài thực hành thường mất từ 15 đến 20 phút, trong
khi đó GV phải đánh giá toàn diện được cả một quá trình thực hiện của HS đã thực
hiện.
b. Đối với học sinh:
- Việc thực hiện một nội dung thực hành không đủ thời gian dẫn đến trong một
tiết học HS chưa hoàn thành được yêu cầu GV đặt ra.
- HS gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn bị các đồ dùng học tập do một bài
thực hành lại chia thành nhiều tiết, nhiều buổi khác nhau.
- HS không thực hiện đầy đủ được quy trình thực hành trong một tiết học.
* Qua điều tra nghiên cứu tôi nhận được kết quả như sau:
Hiện nay trên địa bàn huyện Thạch Thành có 29 trường THCS trong đó có 28
trường đều thực hiện chia và xếp vào thời khóa biểu mỗi buổi một tiết công nghệ
lớp 6. Đối với trường THCS Thạch Đồng của tôi trong các năm học trước đến hết
học kỳ I năm học 2014 – 2015 vẫn thực hiện xếp thời khóa biểu như các trường đã
nói trên.
Kết quả qua kiểm tra đánh giá kiến thức và kỹ năng của HS cuối học kỳ I năm
học 2014 – 2015 khi thực hiện các tổ chức dạy học trên cụ thể như sau:
XL Yếu,
Tổng số
XL giỏi
XL Khá
XL TB
Lớp
17.2
33
56.9
11
18.9
6
Từ thực trạng trên để việc tổ chức dạy học đạt hiệu quả cao hơn, bắt đầu từ học
kỳ II năm học 2014 - 2015 đến nay được sự tạo điều kiện và giúp đỡ của BGH nhà
trường tôi đã mạnh dạn thực hiện “Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới
đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học môn công nghệ lớp 6 ” và tôi đã nhận
được kết quả khả quan.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
a. Đổi mới cách tổ chức dạy học:
Ngay từ đầu năm học khi BGH nhà trường phân công chuyên môn tôi đã đề
xuất với nhà trường về giải pháp thực hiện của mình đó là: Đối với môn công nghệ
lớp 6 khi xếp thời khóa biểu, nhà trường không tách ra mỗi buổi một tiết và hai
ngày trong tuần riêng lẻ mà xếp hai tiết liền nhau trong một buổi và nên xếp vào
các tiết cuối.
Ví dụ: Phân công chuyên môn của tôi trong học kỳ II năm học 2014 – 2015 đối
với môn công nghệ lớp 6 như sau:
Thứ 3: Tiết 4; 5 Môn công nghệ lớp 6A.
Thứ 6: Tiết 4; 5 Môn công nghệ lớp 6B.
Khi thực hiện xếp thời khóa biểu như vậy sẽ có các ưu điểm sau:
- Đối với GV:
+ Khi lập kế hoạch dạy học sẽ thiết lập các bước lên lớp mang tính liên tục theo
đúng một bài học mà SGK đã viết (đa số mỗi một bài học đều từ 2 tiết trở lên).
+ Khi đăng ký mượn các đồ dùng dạy học và chuẩn bị đồ dùng dạy học GV chỉ
cần đăng ký theo đúng nội dung của một bài học mà không cần chia nhỏ theo từng
Tiết 7: Lại lặp lại các bước tương tự như
tiết 6.
- Đối với HS:
Các bước lên lớp: Thực hiện cho cả 2
tiết.
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ (5 phút)
Hoạt động 2: Bài mới:
- Hướng dẫn ban đầu: (15 phút)
- Hướng dẫn thường xuyên: (45phút)
- Hướng dẫn kết thúc. (10 phút)
Hoạt động 3: Đánh giá, tổng kết, nhắc
nhở (15phút)
+ Khi học tập trên lớp HS được nghiên cứu và thực hiện hết nội dung bài theo
bài đã viết trong SGK.
+ Việc học tập sẽ có hệ thống kiến thức nên HS dễ dàng nắm bắt hơn và kiến
thức mang tính liên tục và khoa học.
+ Việc giải quyết các tình huống sẽ dễ dàng hơn, HS có đủ thời gian để thảo
luận, hợp tác cùng nhau giải quyết một vấn đề.
+ HS sẽ đỡ vất vả hơn trong quá trình chuẩn bị các đồ dùng học tập, không phải
đem đi đem lại nhiều lần.
+ Đặc biệt HS có đủ thời gian thực hiện quy trình thực hành đến khi hoàn thành
sản phẩm đối với các bài thực hành.
Ví dụ 1: Trong tiết 10, 11; Bài 6: Thực hành: Cắt khâu bao tay trẻ sơ sinh
Cách làm cũ
Tiết 10: Học sinh thực hiện các nội dung :
- Vẽ và cắt mẫu giấy.
- Cắt vải theo giấy.
Sau đó phải dừng lại buổi hôm sau .
kỹ năng của mình với các bạn cùng
lớp.
Ví dụ 2: Trong tiết 46,47; Bài 6: Thực hành: Chế biến món ăn (Trộn dầu giấm
rau xà lách)
Nếu ta thực hiện theo phương pháp cũ học sinh phải chuẩn bị nguyên liệu lặp
lại 2 lần cho 2 tiết học vì vậy sẽ gây tốn kém và lãng phí cho GV và HS do các
nguyên liệu đó là đồ tươi sống nên không thể sử dụng lại được.
Khi thực hành: ở tiết 46 do thời gian học sinh không có đủ thời gian để hoàn
thành được một món ăn mà chỉ mới hoàn thành được một vài giai đoạn trong quy
trình. Đến tiết 47 HS không sử dụng lại được các sản phẩm đã thực hiện ở tiết trước
mà phải chuẩn bị nguyên liệu mới, ngoài ra học sinh lại phải thực hiện lại từ đầu
quy trình chế biến món ăn.
Khi đổi mới tổ chức dạy học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS đó là: Chỉ
cần chuẩn bị một lần nguyên liệu. Do có 2 tiết liền nhau nên HS được thực hiện
đầy đủ các giai đoạn trong quy trình và đi đến hoàn thiện sản phẩm từ đó GV có thể
đánh giá được HS và hiệu quả của bài học.
b. Đổi mới phương pháp dạy – học:
Khi thực hiện tổ chức dạy học theo 2 tiết liền nhau GV có thể soạn giảng theo
các chủ đề hoặc có thể tổ chức dạy học một cách linh hoạt và hiệu quả.
Trong hai tiết liên tục GV tuân thủ thực hiện đủ 3 hoạt động cơ bản của tiết
thực hành đó là:
Hoạt động 1: Hướng dẫn ban đầu.
Hoạt động 2: Hướng dẫn thường xuyên.
Hoạt động 3: Hướng dẫn kết thúc.
Trong đó phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của từng hoạt động cụ thể là:
Hoạt động 1: Hướng dẫn ban đầu gồm các hoạt động sau.
- Nêu rõ mục tiêu bài học: GV cần chỉ rõ cho HS sau tiết học cần hình thành
được những kỹ năng gì, hoàn thành sản phẩm nào, trong thời gian bao lâu.
được gặp, GV không nên truyền thụ một cách thụ động theo SGK viết sẵn mà nên
đưa ra các tình huống gần với cuộc sống để gợi mở cho các em tự vận dụng tìm
hiểu sau đó GV mới kết luận vấn đề.
Ví dụ: Khi dạy bài 16: Bảo quản chất dinh dưỡng trong chế biến món ăn.
Tôi đã không thực hiện tuần tự các bước như trong SGK mà tôi đưa ra các tình
huống ở dạng trắc nghiệm để các em lựa chọn và giải thích như:
- Thịt cá mua về khi nào chuẩn bị nấu mới cần sơ chế.
- Thịt thái xong mới đem đi rửa.
- Thái rau trước khi rửa.
- Vo gạo thật kỹ rồi mới nấu cơm..
10
- Khi nấu cơm chưa vội quan tâm lượng nước thừa hay thiếu…
Khi HS cùng thảo luận về một vấn đề theo chiều xuôi hay ngược lại và các em
có thể tự giải thích được những tình huống, HS sẽ hiểu bài hơn.
Trong quá trình tổ chức lớp học GV sử dụng các PPDH theo hướng đổi mới
như
- Sử dụng phương tiện trực quan để tổ chức tìm tòi bộ phận.
- Sử dụng thuật “tựa lịch sử’ với phương pháp thuyết trình.
- Phương pháp đàm thoại gợi mở - tìm tòi…
c. Đổi mới đánh giá kết quả thực hiện các bài thực hành.
Khi đã thực hiện xếp hai tiết liền nhau GV có thể thực hiện việc kiểm tra đánh
giá xuyên suốt quá trình học tập của HS
GV thực hiện các giải pháp cụ thể như sau
* Đánh giá phần chuẩn bị của học sinh.
Để một tiết thực hành thành công thì phần chuẩn bị của cả thầy và trò đều rất
quan trọng. Đối với HS cần có sự chuẩn bị đầy đủ những phần GV giao cho. Ở nội
dung này GV có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra sau:
- Giao cho tổ trưởng hoặc trưởng nhóm kiểm tra các thành viên của tổ sau đó
các câu hỏi tình huống vận dụng để HS trả lời và thực hiện. Khi thực hiện biện
pháp này HS vừa ôn lại kiến thức lý thuyết đồng thời vận dụng vào để thực hành,
đánh giá được khả năng hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào thực hành.
+ GV có thể đặt ra các câu hỏi như: Nhắc lại quy trình thực hành? Nêu những
sai hỏng thường gặp khi thực hiện bài này...
+ Để thực hiện tốt yêu cầu GV phải sử dụng những câu hỏi cô đọng và có hệ
thống.
- Kiểm tra theo tiêu chí đánh giá và có thông báo cho HS. Trước khi thực hành
GV nêu tiêu chí đánh giá và mục tiêu cần đạt trong bài thực hành.
+ Tiêu chí đánh giá được xây dựng trên cơ sở bám sát mục tiêu bài học.
+ Tiêu chí xây dựng sát với đối tượng HS và đảm bảo chuẩn KTKN.
+ Tiêu chí áp dụng cho cả lớp.
* Đánh giá sản phẩm thực hành:
Đây là bước quan trọng nhất trong khâu đánh giá. Sản phẩm thực hành hoàn
thiện đến đâu thì mức độ hoàn thiện kỹ năng của HS được thể hiện đến đó. Vì vậy
GV có thể áp dụng các phương pháp sau:
- HS tự đánh giá: Thông qua tự đánh giá HS có thể tự xác định được mức độ
tiếp thu kiến thức của mình đến đâu, các em tự tìm thấy những lỗ hổng kiến thức
cần phải bổ sung hoặc đề xuất với GV để được củng cố. Việc đánh giá này có thể
do tổ trưởng, trưởng nhóm hoặc cá nhân HS tự đánh giá.
Sau khi HS tự đánh giá GV trên cơ sở theo dõi, nhận xét cụ thể chi tiết để HS
biết được đã đánh giá đúng chưa, cần phải điều chỉnh những nội dung gì.
12
- HS đánh giá chéo nhau: Việc HS tự đánh giá chéo nhau sẽ tạo ra được động
lực và tính thi đua của HS trong quá trình học tập. Bản thân HS được đánh giá bạn
cũng có thể tìm ra khiếm khuyết từ chính mình để khắc phục.
Để thực hiện được nội dung này GV phải luyện cho HS có kỹ năng tự đánh giá
và giáo viên là vị giám khảo công minh để HS đánh giá bạn một cách khách quan.
a. Việc đối mới khâu tổ chức dạy học:
- Bản thân GV đã đỡ vất vả trong quá trình lập kế hoạch và tổ chức dạy học,
mỗi bài học được soạn theo đúng đặc trưng bộ môn
+ Đối với các tiết thực hành: GV thực hiện đủ 3 phần: Hướng dẫn ban đầu,
hướng dẫn thường xuyên và hướng dẫn kết thúc.
- Có đủ các dụng cụ vật liệu cho HS thực hành do không phải mượn chéo giữa
các lớp. Lớp này thực hiện xong đến lớp khác.
- HS không phải đem dụng cụ, vật liệu đến rồi lại đem về nhiều lần trong tuần.
- Việc thực hiện bài học nhẹ nhàng, khoa học, HS được thực hiện đầy đủ các
bước theo quy trình, đảm bảo tính liên tục và tính sáng tạo trong HS.
- HS hứng thú tham gia học tập.
- Kết quả học tập phản ánh đúng năng lực của HS, HS được kiểm tra và rút
kinh nghiệm ngay sau khi thực hiện.
+ Đối với các tiết lý thuyết: GVcó đủ thời gian để thực hiện các khâu lên lớp
linh hoạt, chủ động, không phải chia nhỏ các nội dung kiến thức của một bài học
cho nhiều buổi học khác nhau. Học sinh học tập chủ động, hứng thú hơn, bớt đi
cảm giác hụt hẫng khi nội dung kiến thức của bài học đang còn dở dang thì đã hết
thời gian.
b. Đổi mới đánh giá kết qủa thực hành.
* Đối với HS:
- HS đã chủ động, tích cực trong việc thực hành.
- Trong quá trình thực hành HS quan tâm hơn đến việc tự uốn nắn các thao tác
kỹ thuật.
- HS tự đánh giá được kết quả học tập của mình từ đó tự điều chỉnh được
phương pháp học tập.
- Nâng cao được tính làm việc hợp tác giữa các cá nhân và hợp tác trong nhóm.
* Đối với giáo viên
- Công việc dạy học nhẹ nhàng hơn nhờ có sự trợ giúp của HS.
- Nhận được kết quả phản hồi từ phía HS nhanh hơn, từ đó điều chỉnh PPDH
cho phù hợp với từng đối tượng HS.
TL%
40
XL Yếu,
kém
SL
TL%
1
1.3
6A
30
SL
7
6B
28
5
17.8
7
25.0
14
Tổng số
HS
XL giỏi
XL Khá
XL TB
TL%
21,9
SL
11
TL%
34,4
SL
12
TL%
37,5
XL Yếu,
kém
SL
TL%
2
63
13
20,6
21
33,3
26
41,3
3
4.8
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
Trong năm học 2015 -2016 tôi vẫn đang tiếp tục thực hiện các giải pháp trên
khi thực hiện nội dung đổi mới này tôi thấy việc dạy học ngày càng có hiệu quả cao
hơn, chất lượng của học sinh ngày càng được cải thiện.
Để thực hiện được nội dung này GV cần nghiên cứu kỹ các tài liệu, tăng cường
vận dụng các kỹ thuật dạy học vào trong các tiết giảng và cần linh hoạt trong tất cả
các khâu lên lớp, bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của bộ môn để thực hiện.
Việc đánh giá học sinh cần được chính xác và khách quan, đảm bảo phản ánh
đúng kết quả nhận thức của HS sau khi GV thực hiện bài dạy.
Trong quá trình tổ chức thực hiện GV cần nắm vững đặc điểm tâm lý học sinh
– Dự án phát triển giáo dục THCS II.
4. Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến
thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn công nghệ THCS - Bộ
GD&ĐT
5. Tài liệu chuân kiến thức kỹ năng quyển 1, quyển 2 môn công nghệ - Bộ
GD&ĐT.
6. Phân phối chương trình môn công nghệ THCS – Sở GD&ĐT Thanh Hóa
tháng 10 năm 2011.
7. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn công nghệ THCS – Nhà
xuất bản giáo dục.
8. Luật Giáo dục 2005, Luật Giáo dục sửa đổi bổ xung.
17