1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
HỨA VIẾT MINH
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN
ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2020
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
HỨA VIẾT MINH
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN
ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán .................................... 11
1.2.3 Một số đặc điểm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm
toán trên thế giới ......................................................................................................................... 13
1.3 Kiểm toán viên và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và DN kiểm toán ............. 15
1.3.1 Khái niệm và vai trò của kiểm toán viên .......................................................................... 15
1.3.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên .............................................................. 17
1.3.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán ....................... 20
1.4 Tham khảo một số kinh nghiệm về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở nƣớc
khác .................................................................................................................................................. 28
1.4.1 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Mỹ ............................................................ 28
1.4.2. Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Anh .......................................................... 31
CHƢƠNG 2: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH
NGHIỆP KIỂM TOÁN QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP ........................ 34
2.1. Tổng quan về thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập từ sau khi có Luật kiểm toán
độc lập 2011 .................................................................................................................................... 34
2.1.1. Tổng quan thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập ...................................................... 34
2.1.2. Những mặt đạt đƣợc ........................................................................................................ 37
2.1.3. Những mặt hạn chế của hoạt động KTĐL hiện nay.................................................... 39
2.2. Trách nhiệm pháp lý của tổ chức hành nghề kiểm toán qua vụ việc cụ thể ................... 42
2.2.1. Trƣờng hợp KTV đã có sai phạm trong quá trình thực hiện kiểm toán ................... 45
2.2.2. Trƣờng hợp KTV đã tuân thủ đúng các quy định của Chuẩn mực kiểm toán và
quy định pháp luật về KTĐL. ................................................................................................... 49
2.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đối với báo cáo kiểm toán sai sót qua
trƣờng hợp cụ thể ............................................................................................................................ 52
2.3.1. Trƣờng hợp BCKT sai do KTV có hành vi vi phạm quy định pháp luật kiểm
toán hoặc chuẩn mực kiểm toán ............................................................................................... 55
BCKT
:
Báo cáo kiểm toán
BCTC
KTĐL
VACPA
:
:
:
Báo cáo tài chính
Kiểm toán độc lập
Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
VSA
:
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1
:
Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng của kiểm toán viên
Hoạt động kiểm toán độc lập là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự phát
triển bền vững của thị trƣờng tài chính doanh nghiệp. Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực
kiểm toán độc lập mới có lịch sử hình thành khoảng 30 năm, nhƣng quy mô về
doanh số và số lƣợng kiểm toán viên đã tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên thời gian
gần đây đã xảy ra một số vụ “lùm xùm” về chất lƣợng kiểm toán làm cho công
chúng rất lo ngại về độ tin cậy của báo cáo kiểm toán. Vậy vấn đề đặt ra là: Nếu báo
cáo kiểm toán sai thì trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm
toán sẽ nhƣ thế nào? Bằng luận văn của mình, tác giả đã đi sâu phân tích những mặt
còn tồn tại của thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam và ảnh hƣởng của nó đến
chất lƣợng báo cáo kiểm toán. Tác giả đƣa ra hai tình huống thực tế xảy ra để làm ví
dụ sinh động cho vấn đề phân tích pháp luật. Dựa trên hệ thống quy định pháp luật
hiện hành, luận văn phân tích trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh
nghiệp kiểm toán trên cả ba góc độ: trách nhiệm dân sự; trách nhiệm hành chính;
trách nhiệm hình sự. Sau cùng, tác giả mạnh dạn đƣa ra một số đề xuất góp phần
hoàn thiện vấn đề trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm
toán đối với báo cáo kiểm toán. Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ khơi
gợi một số suy ngẫm cho các nhà làm luật để cân nhắc sửa đổi quy định pháp luật,
đặc biệt là luật kiểm toán độc lập trong thời gian tới.
TỪ KHÓA
Trách nhiệm pháp lý; kiểm toán viên; doanh nghiệp kiểm toán; báo cáo
kiểm toán; chất lƣợng kiểm toán
ABSTRACT
Independent auditing is an important factor to ensure the sustainable
development of the corporate financial market. In Vietnam, although the new
independent audit field has a history of about 30 years, the size of the sales and the
number of auditors has increased rapidly. However, recently there have been some
khuyến nghị giúp cho khách hàng nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và
cảnh báo khách hàng về rủi ro tài chính có thể đối mặt.
Tuy nhiên cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng chất lƣợng của dịch vụ kiểm toán
độc lập trong thời gian gần đây chƣa đáp ứng đƣợc kỳ vọng của các chủ thể trong nền
kinh tế. Dƣ luận không khỏi băn khoăn khi có những trƣờng hợp báo cáo tài chính đã
đƣợc kiểm toán nhƣng vẫn còn sai sót trọng yếu, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà
đầu tƣ. Ví dụ điển hình nhƣ: Công ty TNHH Kiểm toán DFK kiểm toán BCTC năm
2015 của Công ty CP Tập Đoàn Kỹ Nghễ Gỗ Trƣờng Thành. DFK đã phát hành báo
cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần BCTC của khách hàng. Nhƣng đơn vị kiểm toán
năm sau lại phát hiện số liệu BCTC có sai sót thiếu hụt 980 tỷ tiền hàng tồn kho. Đây
là một sai sót cực kỳ nghiêm trọng của kiểm toán viên. Nó gây ảnh hƣởng lớn đến
quyết định đầu tƣ và lợi ích của các cổ đông công ty Gỗ Trƣờng Thành.
Vậy trƣờng hợp báo cáo kiểm toán (BCKT) mà có sai sót gây ảnh hƣởng
nghiêm trọng đến lợi ích bên liên quan thì các kiểm toán viên (KTV) và doanh nghiệp
kiểm toán (DNKT) phải chịu trách nhiệm pháp lý nhƣ thế nào? Các bên bị thiệt hại
khi sử dụng kết quả kiểm toán sai có thể khởi kiện các KTV và DNKT hay không?
KTV và DNKT cần phải đối phó nhƣ thế nào khi bị bên thứ ba kiện ra Tòa đòi bồi
thƣờng vì thiệt hại khi sử dụng BCKT sai sót? Kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới
quy định về vấn đề này nhƣ thế nào?...Phân tích nhằm làm rõ và nâng cao trách nhiệm
pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT, cũng đồng thời là nâng cao uy tín của
ngành kiểm toán độc lập bối cảnh kinh tế thị trƣờng ngày càng cạnh tranh khốc liệt ở
nƣớc ta hiện nay.
2
Là một kiểm toán viên và đang theo học Thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế,
tác giả nhận thức đƣợc rõ tầm quan trọng của vấn đề này dƣới cả góc độ lý luận và
thực tiễn. Do vậy tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán
viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán” làm đề tài cho Luận văn
trang A4, và tác giả không đề cập đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp
kiểm toán, vốn dĩ là chủ thể luôn gắn liền với kiểm toán viên trong hoạt động kiểm
toán.
Nhƣ vậy có thể nói đã có một số luận văn hoặc bài viết nghiên cứu về pháp
luật trong lĩnh vực kiểm toán nói chung và kiểm toán viên nói riêng. Mỗi một công
trình nghiên cứu một góc độ khác nhau về pháp luât trong lĩnh vực kiểm toán. Tuy
nhiên chƣa có một tác phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của
KTV và DNKT đối với BCKT. Trong luận văn của mình, tác giả đi sâu vào phân tích
từ cơ sở lý luận, quy định pháp luật thực tiễn có những ƣu điểm và còn những tồn tại
gì, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của
KTV và DNKT trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay.
4. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận cũng nhƣ thực tiễn
trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. Từ đó luận văn đƣa ra một số
đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và thực thi pháp luật đối với vấn đề trách
nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT.
4.2 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về lý luận và thực tiễn quy
định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. Những giải
pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và
DNKT đối với BCKT.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối
với BCKT trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Hoạt động kiểm toán đƣợc giới hạn trong
lĩnh vực kiểm toán độc lập, không bao gồm các loại hình kiểm toán khác nhƣ kiểm
toán nhà nƣớc, kiểm toán nội bộ.
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng về quy định pháp luật liên quan
đến hoạt động kiểm toán độc lập trong giai đoạn từ sau khi luật kiểm toán độc lập
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
CỦA KIỂM TOÁN VIÊN & DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN
ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN
1.1
Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập.
1.1.1 Khái niệm
Có thể nói hoạt động kiểm toán đã hình thành từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại. Nguồn
gốc từ xa xƣa của kiểm toán (audit) nghĩa là thông tin đƣợc phê chuẩn bằng cách các tài
khoản về tài sản đƣợc đọc to lên và đƣợc một bên độc lập phê chuẩn. Trong thời kỳ Trung
cổ, hoạt động kiểm toán chủ yếu là thẩm tra độ chính xác của thông tin tài chính đƣợc
thực hiện bởi các kiểm toán viên của Nhà nƣớc. Sau này đến thế kỷ 18, các công ty cổ
phần ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của thị trƣờng chứng khoán. Từ đó xuất
hiện nhu cầu của chủ sở hữu cổ phần muốn kiểm tra tài chính nhằm tránh gian lận của
ngƣời quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán đƣợc ra đời phục vụ chủ yếu cho mục đích này.2
Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động kiểm toán:
Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì “hoạt động kiểm toán là
việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”2
Các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đƣa ra định nghĩa khá bao quát về kiểm
toán nhƣ sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông
tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó
với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các
kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”3
Họat động kiểm toán có nhiều hình thức khác nhau. Nếu phân loại kiểm toán theo
chủ thể thực hiện, kiểm toán đƣợc chia thành ba loại hình nhƣ sau:
● Kiểm toán nhà nƣớc
Ở Việt Nam hoạt động KTĐL xuất hiện từ đầu những năm 1990, vài năm sau khi
nƣớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng với sự tham gia của các thành phần kinh
tế. Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nƣớc ngoài phát triển nhanh chóng kéo theo nhu cầu
dịch vụ KTĐL về báo cáo tài chính. Tháng 5/1991 đánh dấu mốc hình thành một công ty
KTĐL đầu tiên ở Việt Nam là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO). Sau đó các công ty
kiểm toán cũng dần hình thành và phát triển. Vào năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra
đời, đánh dấu một bƣớc phát triển quan trọng về mặt pháp lý cho hoạt động KTĐL và
chấm dứt một thời kỳ dài thiếu một luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động KTĐL. Hiện
nay có khoảng 160 doanh nghiệp kiểm toán với hơn 11 ngàn nhân viên đang hoạt động
trong lĩnh vực KTĐL trên phạm vi toàn quốc. 5
4
Khoản 1 điều 5 luật Kiểm toán độc lập 2011
5
Trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 29
7
Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) cung cấp các dịch vụ kiểm toán BCTC, soát
xét thông tin theo thỏa thuận, tƣ vấn thuế và các dịch vụ khác có liên quan đến chuyên
môn v.v...Trong đó dịch vụ kiểm toán BCTC thƣờng chiếm tỷ trọng doanh thu và nhân sự
lớn nhất. Kiểm toán báo cáo tài chính (còn gọi tắt là kiểm toán tài chính) của khách hàng
là việc kiểm tra nhằm đƣa ra ý kiến về tính hợp lý và trung thực về BCTC của khách
hàng, dựa trên các tiêu chuẩn là chế độ kế toán, chuẩn mực
Hiện nay hiểu theo nghĩa thông dụng thì thuật ngữ “kiểm toán” tức là kiểm toán
báo cáo tài chính của khách hàng. Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này, tác giả cần lƣu
8
Mặt khác, cuộc kiểm toán chỉ cung cấp mức độ bảo đảm hợp lý, chứ không bảo
đảm tuyệt đối là báo cáo tài chính không còn nhƣng sai sót trọng yếu vì lý do luôn tồn tại
một số mặt hạn chế vốn có của hoạt động kiểm toán nhƣ sau:
Một là việc lập, trình bày BCTC đòi hỏi những xét đoán của đơn vị phù hợp với
đặc điểm hoạt động kinh doanh thực tế. Có những nghiệp vụ kế toán mang tính nhận định
chủ quan không chắc chắn tuyệt đối nhƣ: ƣớc tính khấu hao, dự phòng…Do vậy mà
không có gì ngạc nhiên khi đƣa một bộ chứng từ phát sinh của doanh nghiệp cho ba nhân
viên để hạch toán, họ có thể lập ra ba bộ BCTC với kết quả khác nhau (tất nhiên là mức
khác biệt không nhiều).
Hai là khi tiến hành các thủ tục kiểm toán, có thể các bằng chứng kiểm toán bị giới
hạn bởi các lý do nhƣ: Khách hàng cung cấp thông tin hoặc tài liệu không đầy đủ; Hành
vi gian lận đƣợc che dấu kỹ; KVT không phải là cán bộ điều tra hay thanh tra viên của cơ
quan nhà nƣớc nên không đƣợc thẩm quyền điều tra, xét hỏi nhƣ cơ quan công quyền.
Đặc điểm hạn chế vốn có này ảnh hƣởng rất lớn đến sự thừa nhận về giới hạn trách
nhiệm của KTV đối với kết quả của báo cáo kiểm toán. Kết quả sau cùng của một cuộc
kiểm toán là Báo cáo kiểm toán đƣợc ký xác nhận bởi kiểm toán viên và doanh nghiệp
kiểm toán. Báo cáo kiểm toán chính là ý kiến chính thức của kiểm toán viên về BCTC của
đơn vị đƣợc kiểm toán.
1.1.2.2. Những nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập
Để cuộc kiểm toán đạt đƣợc mục tiêu đề ra, theo quy định tại Điều 8 của Luật kiểm
toán độc lập 2011, hoạt động KTĐL cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản nhƣ
sau:
● Thứ nhất, hoạt động kiểm toán cần tuân thủ các pháp luật chuyên ngành về
KTĐL nhƣ Luật kiểm toán độc lập, các Nghị định, Thông tƣ hƣớng dẫn Luật kiểm toán
độc lập. Bên cạnh pháp luật chuyên ngành, một số luật khác cũng có thể có quy định về
hoạt động kiểm toán nhƣ Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp v.v…
● Thứ hai, hoạt động kiểm toán thực hiện trong khuôn khổ của chuẩn mực kiểm
Mƣời năm sau đó, Chính phủ và Bộ Tài chính đã lần lƣợt ban hành Nghị định
105/2004/NĐ-CP (ngày 30/03/2004) và Thông tƣ 64/2004/TT-BTC (ngày 29/06/2004) để
thay thế cho Nghị định 07/CP và Thông tƣ 22/TC/CĐKT nêu trên để đáp ứng với thực
tiễn về hoạt động của KTĐL.
Cho đến nay, hoạt động KTĐL đã có khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoàn thiện hơn
khá nhiều so với trƣớc đây. Đó là các luật, các nghị định, thông tƣ hƣớng dẫn và chuẩn
mực nghề nghiệp kiểm toán, bao gồm:
● Thứ nhất là những quy định mang tính pháp lý là những quy định bắt buộc của
Nhà nƣớc đƣợc quy định bởi các văn bản pháp luật nhƣ: Luật, Nghị định, Thông tƣ liên
quan để bảo đảm việc quản lý thống nhất nhà nƣớc trong lĩnh vực KTĐL trên toàn bộ
quốc gia. Các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực hiện hành bao gồm:
Luât KTĐL số 67/2011/QH12 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011. Có thể
nói đây là khung pháp lý cao nhất về hoạt động KTĐL ở Việt Nam. Bên cạnh đó còn có
10
một số văn bản quy phạm pháp luật dƣới luật nhƣ: Nghị định 17/2012/NĐ-CP hƣớng dẫn
chi tiết Luật kiểm toán độc lập; Nghị định 151/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định
17/2012/NĐ-CP; Nghị định 84/2016/NĐ-CP về tiêu chuẩn KTV hành nghề, DNKT đƣợc
phép kiểm toán cho các tổ chức có lợi ích công chúng; Nghị định 41/2018/NĐ-CP quy
định về xử phạt thuộc lĩnh vực KTĐL…
Thông tƣ 203/2012/TT-BTC quy định về thủ tục kinh doanh dịch vụ kiểm toán;
Thông tƣ số 214/2012/TT-BTC quy định về hệ thống chuẩn mực kiểm toán; Thông tƣ
183/2013/TT-BTC về KTĐL đối với doanh nghiệp có lợi ích công chúng; Thông tƣ số
157/2014/TT-BTC quy định về kiểm toán chất lƣợng dịch vụ KTĐL; Thông tƣ số
91/2017/TT-BTC quy định về việc thi, cấp chứng chỉ KTV; Thông tƣ số 202/2012/TTBTC quy định về đăng ký hành nghề kiểm toán.
● Thứ hai là những quy định mang tính chuẩn mực nghề nghiệp về hoạt động
KTĐL, hay còn gọi là Chuẩn mực kiểm toán. Về cơ bản thì chuẩn mực kiểm toán là
những quy định chuyên môn về thủ tục, trình tự KTĐL, đạo đức nghề nghiệp mà KTV và
này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”9
Nhƣ vậy có thể thấy DNKT trƣớc hết có đặc điểm cũng nhƣ một doanh nghiệp
thông thƣờng, thành lập và hoạt động theo sự điều tiết của Luật doanh nghiệp. DNKT là
một tổ chức kinh tế thông thƣờng có tên gọi riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định,
đƣợc đăng ký để thực hiện kinh doanh. Tuy nhiên điểm đặc thù của doanh nghiệp kiểm
toán để phân biệt với các doanh nghiệp thông thƣờng khác, là đƣợc thực hiện chức năng
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán độc lập và các dịch vụ có liên
quan. Doanh nghiệp không đủ điều kiện doanh trong lĩnh vực kiểm toán thì trong tên gọi
của doanh nghiệp không đƣợc phép dùng cụm từ “kiểm toán” trong tên gọi của tổ chức
mình.
Cũng tƣơng tự nhƣ các loại hình tổ chức nghề nghiệp khác, tổ chức nghề nghiệp
kiểm toán là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp kiểm toán, các kiểm toán
viên hành nghề. Ở Việt Nam, tổ chức nghề nghiệp kiểm toán là Hội kiểm toán viên hành
nghề Việt Nam, gọi tắt là VACPA. Tổ chức này đƣợc chính thức thành lập vào tháng
4/2005 và chịu sự quản lý nghề nghiệp bởi Cơ quan quản lý Nhà nƣớc là Bộ Tài Chính.
Mục đích của VACPA là đoàn kết và tập hợp những ngƣời hành nghề KTV để nâng cao
uy tín và chất lƣợng của hoạt động KTĐL. Ngoài ra, VACPA cũng góp phần mở rộng
quan hệ hợp tác và hội nhập với các nƣớc trong lĩnh vực KTĐL.
1.2.2 Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam chỉ đƣợc phép thành lập và hoạt động dƣới ba
hình thức: “Doanh nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên; Công ty
hợp danh”10. DNKT không đƣợc góp vốn nhằm mục đích thành lập DNKT khác, trừ
trƣờng hợp DNKT trong nƣớc góp vốn với DNKT nƣớc ngoài để thành lập một DNKT
mới.
9
Khoản 5 điều 5 Luật kiểm toán độc lập 2011
10
Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin
liên quan phục vụ kiểm toán.
hàng dựa trên cơ sở hợp đồng kiểm
toán và quy định pháp luật có liên
quan.
Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan
cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho Thông báo cho khách hàng khi phát
việc kiểm toán.
Nhận phí dịch vụ theo thỏa thuận.
hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật về kế
toán tài chính trong quá trình kiểm
toán.
Tham gia các tổ chức nghề nghiệp về
Chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả
kiểm toán.
kiểm toán với khách hàng và ngƣời sử
Các quyền khác theo quy định của pháp
dụng có liên quan.
luật
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy
định của pháp luật.
Bảng 1.1. Quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp kiểm toán
11
Doanh nghiệp kiểm toán quốc tế: Có quy mô về nhân sự và phạm vi hoạt động rất
lớn. Cơ cấu tổ chức pháp lý ở các nƣớc thƣờng không theo mô hình công ty mẹ-con mà
theo mạng lƣới hợp tác kinh doanh. Chủ sở hữu và quản lý riêng biệt song họ cùng thỏa
thuận chia sẽ về thƣơng hiệu và chuyên môn. Hiện có bốn công ty kiểm toán lớn nhất
(Big 4) là KPMG, Ernst & Young, PwC, Deloitte. “Theo số liệu công bố cho năm tài
chính 2019, công ty kiểm toán lớn nhất là Deloitte, có tổng doanh thu năm 46,2 tỷ USD
do 312 ngàn nhân viên tạo ra”. 12Qua số liệu trên có thể thấy tiềm năng thị trƣờng về dịch
12
https://big4accountingfirms.com/big-4-accounting-firms-ranking, truy cập ngày 02/04/2020
14
vụ KTĐL trên thế giới có tiềm năng phát triển rất cao. Do vậy thị trƣờng dịch vụ kiểm
toán ở Việt Nam còn nhiều dƣ địa để phát triển.
● Tổ chức nghề nghiệp kiểm toán
Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán đƣợc thành lập ở các quốc gia trên thế giới. Có
quốc gia còn có nhiều hơn một tổ chức nghề nghiệp kiểm toán. Hội viên của các tổ chức
nghề nghiệp kiểm toán thƣờng là các KTV, kế toán viên tự nguyện tham gia sau khi đạt
đƣợc tiêu chuẩn nhất định về chuyên môn. Hiện nay có một số tổ chức nghề nghiệp kiểm
toán lớn ở các quốc gia nhƣ: Hiệp hội giám định viên kế toán Anh quốc (ICAEW), Hội kế
toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hội kế toán viên công chứng Nhật (JICPA), Hội
kế toán viên công chứng Úc (CPA AU)…”Các tổ chức nghề nghiệp nêu trên đóng vai trò
quan trọng trong việc việc phát triển ngành kế toán và kiểm toán tại các quốc gia. Họ có
các ủy ban chuyên môn và ban hành các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán, đạo đức nghề
nghiệp…để hướng dẫn và kiểm soát chất lượng của hoạt động KTĐL. Bên cạnh đó, các tổ
chức nghề nghiệp cũng có chức năng tổ chức các kỳ thi cấp chứng chỉ kiểm toán viên”.13
Ở phạm vi toàn thế giới, các tổ chức nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán ở các quốc
“Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của
pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt
kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam.
Kiểm toán viên hành nghề là kiểm toán viên đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành
nghề kiểm toán”
Để trở thành kiểm toán viên, cá nhân phải có đủ các tiêu chí sau: 15
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách
quan;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế
toán, kiểm toán hoặc chuyên ngành khác theo quy định của Bộ Tài chính;
d) Có Chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của Bộ Tài chính.
Theo quy định pháp luật về KTĐL hiện hành ở Việt Nam, KTV không đƣợc đăng
ký hành nghề dƣới tƣ cách cá nhân, mặc dù có pháp luật cho phép thành lập doanh nghiệp
tƣ nhân cung cấp dịch vụ kiểm toán. Kiểm toán viên bắt buộc phải đăng ký hành nghề ở
một doanh nghiệp kiểm toán.
15
Theo khoản 1 điều 14 Luật kiểm toán độc lập 2011
16
Quyền và nghĩa vụ của kiểm toán viên đƣợc quy định cụ thể trong điều 17 và điều
18 của Luật kiểm toán độc lập 2011. Một số nội dung chính về quyền, nghĩa vụ của KTV
đƣợc tóm lƣợc ở bảng mô tả dƣới đây.
Quyền của KTV
chuyên ngành và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Nếu vi phạm thì họ sẽ phải chịu trách
nhiệm pháp lý rất nghiêm khắc.
● Vai trò của kiểm toán viên
Ngày nay khi mà loại hình hoạt động công ty cổ phần ngày càng phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt là các công ty cổ phần niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán thì vai trò của
KTV ngày càng đƣợc công chúng kỳ vọng rất cao.
Đứng ở góc độ xã hội, vai trò của các KTV là những ngƣời góp phần bảo vệ sự ổn
định của nền kinh tế tài chính doanh nghiệp. Họ là những thẩm định viên tài chính bảo
đảm sự tin cậy của thông tin BCTC của các công ty đƣợc kiểm toán, đặc biệt là các công
ty đƣợc niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. KTV giúp lành mạnh hóa môi trƣờng
đầu tƣ, bảo vệ lợi ích của công chúng thông qua báo cáo kiểm toán xác nhận các công ty
cổ phần có BCTC trung thực hoặc cảnh báo các công ty cổ phần có biểu hiện làm ăn gian
17
yếu kém hoặc gian dối. Từ đó nhà đầu tƣ tài chính thêm tự tin khi bỏ vốn đầu tƣ cổ phiếu
trên thị trƣờng tài chính.
Đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc, hoạt động của các KTV nhƣ cánh tay nối dài của
Cơ quan nhà nƣớc giúp quản lý tài chính doanh nghiệp hiệu quả hơn. KTV giúp Cơ quan
Thuế soát xét báo cáo thuế của khách hàng để nộp đúng đủ vào ngân sách nhà nƣớc theo
quy định pháp luật Thuế. KTV giúp Ủy ban chứng khoán Nhà Nƣớc (UBCKNN) có
thông tin trung thực về tài chính của các doanh nghiệp đƣợc phép hoạt động trên sàn
chứng khoán. Mặc dù UBCKNN có chức năng kiểm tra tài chính doanh nghiệp niêm yết
nhƣng với nhân lực hạn chế, cơ quan này không thể thẩm tra tài chính tất cả các doanh
nghiệp trên sàn giao dịch chứng khoán. Thông qua hoạt động của các KTV, UBCKNN đã
kịp thời loại bỏ các doanh nghiệp niêm yết không còn đủ tiêu chuẩn hoạt động trên sàn
chứng khoán cả nƣớc. Ngoài ra trong quá trình kiểm toán, nếu KTV phát hiện có hành vi
vi phạm pháp luật ở mức nghiêm trọng của Lãnh đạo doanh nghiệp, KTV cũng có trách
nhiệm phải thông báo với Cơ quan có thẩm quyền để xử lý doanh nghiệp vi phạm.