Itộ (Ỉ1ÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
n ồ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯƠNG VĂN TRÒN
VAI TRÒ CỦA LUẬT
sư TRONG
VIỆC
BẢO VỆ#
•
■ -r ,
#
ỌUYỀỈN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ CAN,
BỊ CÁO TRONG TỎ TỤNG HÌNH sự
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số
: 50514
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYÊN VĂN TUÂN
TRUNG TÂM THÔNG TIN THI
TRƯỜNG ĐẠI H Ọ C m  LH À ỉ;
PHÒNG ĐỌC _ k l l k 2 _
Hà Nội - 2002
32
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA IỈỊ CAN, BỊ CÁO TRONG CÁC
GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG HÌNli s ự .
Vai trò của luật sư trong giại đoạn điều tra, truy tỏ vụ
32
án hình sự.
Khởi tố bị can và vai trò của luật sư.
32
Sự tham gia của luật sư trong việc hỏi cung bị can và những
34
hoạt động điều tra khác.
Luật sư có quyén thay đổi người tiến hành tố tụng, người
38
giám định, người phiên dịch.
Luật sư có quyền đưa ra chứng cứ, những yêu cầu, khiếu nại
39
các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.
Sự tham gia của luật sư ở phần
xél hỏi.
51
2.2.1.3.
Sự tham gia của luật sư ở phần
tranh luận tại phiên toà.
61
2.2.2.
Vai trò của luật sư ớ cấp xét xử phúc Ihẩm vụ án hình sự.
68
CHƯƠNG 3.
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT T ố TỤNG HÌNH s ự VÀ NÂNG CAO
71
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ.
3.1.
3.2.2.
Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng
83
nhằm tạo điều kiện cho luật sư thực hiện nhiệm vụ bào chữa
cho bị can, bị cáo.
3.2.3.
Nâng cao nhận thức về vai trò của luật sư trong tố tụng hình
85
sự.
KẾT LUẬN
87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
89
1
LỜI NÓI ĐẦU
l.T ính cấp thiết của đề tài luận văn
Chúng ta có đầy đủ lý do để khẳng định rằng nghề Luật sư là một nghề
cao quý trong xã hội và càng được tôn vinh trong điều kiện xây dựng Nhà
Để đạt được mục đích nghiên cứu để tài luận văn phải giải quyết những
vấn để cơ bản sau đây:
- Làm rõ nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tô' tụng hình sự vị trí của luật sư quyền và
nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Làm rõ cơ sở pháp lý về địa vị pháp lý của luật sư với việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Irong các giai đoạn khởi tố điểu
Ira, truy tố và xét xử vụ án hình sự.
- Chỉ ra những bất cập hạn chế của chế định luật sư trong pháp luật tô
tụng hình sự, những hạn chế của cơ chế bảo đảm sự tham gia của luật sư bào
chữa cho bị can, bị cáo trong lố tụng hình sự. Từ đó đề xuất ý kiến góp phần
hoàn thiện chế định luật sư trong pháp luật tô tụng hình sự và những biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt dộng bào chữa của luật sư trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Ý nghĩa khoạ học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo việc
nghiên cứu đề tài: "Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị can, bị cáo" có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể là:
- Góp phần đổi mới tư duy pháp lý trong lĩnh vực hoạt động tố tụng
hình sự theo hướng dân chủ, nhân đạo và tiến bộ hơn.
- Nâng cao nhận thức về vai trò vị trí của luật sư bào chữa cho bị can, bị
cáo từ phía các cơ quan Nhà nước trong đó có các cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự và xã hội.
- Góp phẩn hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và tăng cường hiệu quả
bào chữa của luật sư.
4
-
5
luậl sư bào chữa nói riêng Irong tố lụng hình sự khi tham gia vào quá trình tố
tụng hình sự.
Những đề xuất trong các công trình và bài viết đó rất đáng được trân
trọng nghiên cứu, học tập và áp dụng trong thực tế. Tuy nhiên, để khẳng định
hoạt động luật sư là một nghề độc lập cao quý và càng được tôn vinh trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với sự
ra đời của Pháp lệnh luật sư năm 2001 không chỉ nâng cao vị thế của luật sư
trong xã hội, mà còn đưa luật sư nước ta lên ngang tầm với luật sư của các
nước trên thế giới và khu vực. Vì vậy, vai trò của luật sư nói chung, luật sư bào
chữa cho bị can, bị cáo nói liêng, cần được nghiên cứu một cách sâu sắc và
đầy đủ gắn với sự phát triển đổi mới hoạt dộng tư pháp trong nước và đáp ứng
nhu cầu hội nhập Quốc tế với ý nghĩa đó đề tài luận văn đã tập trung nghiên
cứu những vấn đề chủ yếu là:
- Làm rõ và sâu sắc thêm một bước cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc
thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; vị trí của
luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự.
- Vai trò của luật sư bào chữa trong các giai đoạn khởi tố điều tra, truy
lố và xét xử vụ án hình sự ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho bị can, bị cáo.
Trong quá trình nghiên cứu làm luận vãn, người thực hiện đề tài đã gập
nhiều khó khăn do còn thiếu kinh nghiệm, thiếu tài liệu tham khảo và thực tế
Iham gia bào chữa cho bị can, bị cáo của bản Ihân chưa nhiều vì vậy nội dung
luận văn chắc chắn còn Ihiếu sót và hạn chế. Tuy nhiên, được sự giúp đỡ tận
tình của người hướng dẫn là TS. Nguyễn Văn Tuân, Phó vụ trướng Vụ quản iý
Luật sư và tư vấn pháp luật, để tài đến nay đã được hoàn thành. Tôi xin trân
trọng gửi đến thầy hướng dãn luận văn TS. Nguyễn Văn Tuân; các Quý thầy
hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo có lác
dộng tích cực đến chất lựng xét xử và các định sự ihật khách quan của vụ án.
Có người cho rằng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cùa bị can,bị
cáotMờng được thế hiện là "Quyền bào chữa của bị can, bị cáo". Hiểu Him’vậy
là không phù hợp với Hiếp pháp và Pháp luật tô tụng hình sự. Khái niệm "Báo
đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo rộng hơn khái niệm "Quyền bào chữa
của bị can, bị cáo". "Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các
hành vi tô tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện
trên cơ sỏ' phù hợp với qui định của pháp luật nhằm phủ nhận một phẩn hay
loàn bộ sự buộc tội của các cơ quan liến hãnh lố tụng, làm giám nhẹ hoặc loại
Irừ trách Iilỉiệm hình sự của mình trong vụ án hình s ự ll).
“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo không phải là quyển của công dân
nói chung mà chỉ là quyền liêng của bị can, bị cáo. Quyền này có ý nghĩa
quan trọng không chỉ để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo mà JÒI1 để
nâng cao uy tín của việc xét xử, để tạo sự tintìiởng của xã hội đối với việc xét
7
>
r r iv
✓
xứ cua lò a án
(2)
tham gia phiên tòu, được yêu cầu để nghị thay dổi người tiến hành tố tụng,
người giám định, người phiên dịch theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự,
đua ra chứng cứ và những yêu cầu, tự bào chữa hoăc nhờ người khác bào chữa
, nói lời sau cùng trước khi nghị án, được kháng cáo bản án, quyết định của
r p V
/
1Òa án.
Trưước hết, bị can, bị cáo phải được biết họ có quyền gì. Không biết đ-
ược quyền và những phịỉmg tiện bào chữa thì bị can, bị cáo không thể bào
chữa có hiệu quả. Điểu 46 của Bộ luật tố tụng hình sự có qui định các cơ
quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong đó có bị can, bị
cáo.
Bị can được biết mình bị buộc tội gì ? Không biết được diều đó họ khó
có thể thực hiện quyền bào chữa của mình. Quyết định khởi tố bị can xác
định ai là người đang bị điều tra và người đó được biêì họ bị buộc vào tội gì.
Cơ quan ra quyết định khơi tố bị can phải giao quyết định và giải llìích quyển
9 ■
và nghĩa vụ cho bị can. Bị can ký vào biên bản giao nhận (khoản 3, điều 103
Bộ luật tô tụng hình sự).
Quyền giải thích đối với việc buộc tội là một trong những quyền quan
trọng cứa bị can. Lời giải thích của bị can là một trong những nguồn chứng
cứ, là phtìmg tiện chứng minh, nó được kiểm tra và đánh giá theo qui định của
pháp luật tố tụng hình sự. Điều đó liên quan đến việc nhận tội cũng nhi'không
nhận tội của bị can. Tiếc rằng quyền đó của bị can ch à được đề cập trong Bộ
tụng hình sự qui định nhívậy là phù hợp. Một số người khác
nhái bảo đảm cho bị can quyền xem xét hổ sư vụ án, sau
lại cho rằng cần
khi kết thúc điều tra
đế cho bị can biết mình bị buộc tội gì và bằng những chứng cứ nào. Từ dó mà
bị can có thể thực hiện quyền bào chữa. Họ cho rằng việc bị can xem hồ SƯ
chẳng những không gây cản trở cho quá trình điều tra mà còn giúp cho quá
trình điều tra được đầy đủ khách quan và toàn diện hơn.
Theo chúng tôi, qui định không cho bị can xem hồ sơ vụ án là qui định
không được bảo dám, bởi vì mỗi khi bị cán có người bào chữa thì người bào
chữa có the thông báo cho bị can những Ihông tin mà họ biết được khi đọc hổ
sư vụ án. Mật khác, khi đọc hồ sư vụ án người bào chữa có thế phát hiện tình
tiết hồ sư vụ án cần phái làm rõ, bàn bạc cùng bị can.
Từ đó có Ihể khẳng định là bị can cần được bình đẳng về quyền với
người bào chữa và điều đó cần dược ghi nhận cụ thể trong pháp luật. Qui định
nhu’vậy chẳng những bảo đảm cho bị can quyên bào chữa mà còn càng làm
cho diều tra viêa có trách nhiệm tiến hành điều tra vụ án đầy đủ, toàn diện và
khách quan hơn.
Trước khi thông qua Bộ luật tố Lụn^ hình sự, trong Ihông tư 16 TATC
ngày 27/9/1974 có qui định: trước khi xét xử 5 ngày bị can phải được tống dạt
cáo trạng.
Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự qui định trong thời hạn không quá 20
ngày đối với tội ít nghiêm trọng,không quá 30 ngày đối với tội rất nghiêm
trọng và đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kếl
luận điều tra, Viện kiếm sát phải rạ một trong những quyết định sau đây :
- Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
- Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung.
phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can bị cáo có quyền nhưng không
buộc phải chứng minh là mình vô tội". Do vậy, lỗi phạm của bi
''' T iê n sĩ N g u y e n z V án Tuân: "Vai trò củ a luậi sư trong lô' tụng hìn h sự" N hà xuất bán Đ ại h ọ c q u ố c g ia Hà
N ộ i - 2 0 0 1 trang 2 1 .
12
can, bị cáo là do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chứng minh, còn bị
can, bị cáo dược coi là vô tội khi Tòa án chưa xác định là có tội.
Trường hợp bị can, bị cáo nhận tội nhung không đ ù ra những chứng cứ
phù hợp với sự nhận tội của họ, thì cơ quan tiến hành tố tụng không thể bắt
buộc buộc họ xiiát trình chứng cứ khắng định sự nhận tội mà phải tự mình
xác định sự thật của vụ án. Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự qui định . "Lời
phân tộicuầ bị can, bị cáo chỉ có thể đươc coi là chứng cứ, nếu phù hợp với
các chứng cứ khác của vụ án, không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo
làm chứng cứ duy nhất để kết tội".
Pháp luật cũng qui định nghĩa vụ của bị can, bị cáo phải có mặt theo
giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Trong trường hợp vắng mặt
khồng có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải. Bị can, bị cáo không được đi
klioi nơi cu'trú ciPtrú của mình nếu không được phép của cơ quan đã áp dụng
biện pháp ngăn chặn. Bị can, bị cáo không được gây khó khăn cho công tác
điểu tra V.V...BỊ can, bị cáo phải chấp hành các quyết định của cơ quan tiến
hành tố tụng vể việc giám định pháp y, khám xét thân thể v.v... Trong những
trường hợp cần thiết bị can, bị cáo có thể bị đuhđến nơi tiến hành các hoạt
động điều tra, xét xử.
Trong các quyền của bị can, bị cáo quyền có ngươi bào chữa chiếm vị
trí rất có ý nghĩa. Điều 12 Bộ luật tố tụng hình sự qui định : "Bị can, bị cáo có
can, bị cáo kém xa người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm
phán) về am hiểu pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, để
đảm bảo quyền lợi của bị can, bị cáo pháp luật tố tụng hình sự qui định cho họ
quyền có người bào chữa.
Theo qui định tại Điểu 35 Bộ luật tố tụng hình sự, những người sau đây
cỏ ihể là người bào chữa:
- Luật sư
- Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo.
- Bào chữa viên nhân dân.
Khi được bị can, bị cáo mời hoặc được Đoàn luật sư cử theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng, người bào chữa được cấp giấy chứng nhận để bào
chữa cho bị can, bị cáo.
Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo qui định của Pháp lệnh
luật sư năm 2001 và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật,
không một điểu Ira viên, kiểm sát viên, thẩm phán, cơ quan quản lý luật có
quyền bắt luật sư phải hành động như thế này hoặc như thế khác đối với từng
vụ án cụ thể. Mặl khác, quyền và nghĩa vụ của luật sư được pháp luật lố tụng
hình sự qui định một cách rõ ràng và đầy đủ. Có người cho rằng: "Luật sư lẽ dĩ
nhiên là một chủ thể độc lập trong tố tụng"(l0).
Phản bác lại ý kiến một số tác giả dựa vào qui định của pháp luật thực
định cho "người bào chữa quyền tự mình được kháng cáo bản án theo hướng
có lợi cho bị cáo khi bị cáo là người chưa thành niên, ngưòi có nhược điếm về
thể chất hoặc tâm thần để coi người bào chữa là người tham gia tố tụng độc
lập"(ll), có người lại cho rằng: "Không thể coi người bào chữa là người tham
gia tố tụng độc lập. Bởi vì xuất phát từ ý thức chủ quan của mình, người bị
buộc tội có thể từ chối người bào chữa ở bất cứ giai đoạn nào của tố tụng nếu
họ thấy sự iham gia của người bào chữa không làm tốt hơn hoặc làm xấu đi
tình trạng của họ. Vì vậy, không thể coi người bào chữa là người tham gia tố
tụng độc lập"(l2).
Chúng tôi cho rằng, những quan điểm của các tác giả nêu trên là rất
xác đãng và khá thuyết phục, luy nhiên mỗi người có cách nhìn vấn đề ở khía
ll"'T S. N g u y ê n V ãn T uân "Vai trò c ù a luật sir trong lố lụ n g hìn h sự" N X B Đ ạ i h ọ c Q u ố c g ia H à N ộ i 2 0 0 1 ,
trang 34.
1111 N g ỏ H ư ớ n g Đ à m vê q u y ền b à o ch ữ a c ủ a bị c á o , T ạp c h í Luật h ọ c s ò 3 - 1 9 9 7 ,11 2 6 , 2 7 .
ll2) P h ạm l lồ iig H ái "Báo đ ảm q u y ề n b ào ch ữ a c ù a n gư ờ i bị b u ộc tội", N X B C ố n g an nhân dãn H à N ộ i 1 9 9 9 ,
trang 129.
20
cạnh khác nhau và hơn nưa đây là một trong những vấn đề rất phức tạp và thời
sự của lý luận và thực tế trong tố tụng hình sự.
Do vậy, muốn xác định vị trí của luật sư bào chữa cần phải xuất phát từ
việc làm rõ mối quan hệ giữa Luật sư và bị can, bị cáo mà luật sư có trách
quyền từ chối việc đại diện cho người được đại diện.
Theo qui định của pháp luật, luật sư bào chữa tham gia tố tụng hình sự
chỉ khi có sự đổng ý của bị can, bị cáo và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp
thuận.
Có luật sư cho rằng, vị trí tố tụng của luật sư như là người đại diện của
bị can, bị cáo. Khi bác lại ý kiến nêu trên, có người cho rằng nếu thừa nhận
luật sư là người đại diện cho bị can, bị cáo có nghĩa là trong quá trình hình
thành con dường bào chữa, luật sư phải gắn bó với ý chí của bị can, bị cáo và
bắt buộc phải ủng hộ tất cả những gì bị can, bị cáo nói và làm. Nhưng lập luận
như vậy là không đúng và không có cơ sở.
Tuy vậy, vị trí độc lập của luật sư không nên hiểu bằng từ ngữ cứng
nhắc và khẳng định rằng luật sư không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo.
Chúng ta không thể nói về sự độc lập của luật sư đối với bị can, bị cáo.
Bởi vì, chỉ khi tồn tại sự mong muốn của bị can, bị cáo thì luật sư mới được
tham gia vào tố tụng hình sự. Mặt khác, trong bất cứ thời điểm nào, bị can, bị
cáo đều có quyền từ chối luật sư cả trong giai đoạn điều tra và cả trong giai
đoạn xét xử.
Như đã rõ, lời của bị can, bị cáo chỉ được Tòa án xác định trong các bản
án. Có luật sư cho rằng vị trí độc lập của luật sư trong tố tụng hình sự đã đặt
luật sư ngang bằng với cơ quan tiến hành tố tụng cả trong trường hợp quyết
định bị can, bị cáo có lỗi hay không có lỗi trước khi Tòa án xác định lỗi của bị
cáo do luật sư bảo vệ. Từ đó luật sư lựa chọn quan điểm bào chữa cho bị cáo.
Không thể đồng ý với ý kiến vừa nêu, bởi vì pháp luật cấm. Luật sư
chuyển sang quan điểm buộc tội chính bị can, bị cáo và luật sư đó có trách
nhiệm bảo vệ. Một luật sư không được bào chữa cho nhiều người khi quyển lợi
giữa họ trái ngược nhau. Luật sư trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không có
quyền buộc tội bị can, bị cáo do mình có trách nhiệm bảo vệ. Ngoài ra, những
quan điểm của luật sư chưa hẳn đã trùng với kết luận của Tòa án.