Tiểu luận môn kế hoạch hóa - đánh giá thực hiện kế hoạch thương mại quốc tế giai đoạn 2001 -2010 2 - Pdf 66

1
LỜI MỞ ĐẦU
Thương mại quốc tế là một hoạt động quan trọng của một quốc gia, đặc biệt
trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay thì các quan hệ hợp tác với nước ngoài có
thể có tác động rất lớn tới việc phát triển kinh tế. Việt Nam của chúng ta mới
chỉ bắt đầu mở cửa từ năm 1991 bằng việc tham gia liên hợp quốc và gần đây
nhất là việc gia nhập WTO vào năm 2007. Nó không chỉ đánh dấu một bước
tiến quan trọng trong hợp tác quốc tế mà còn cho thấy tầm quan trọng của
những chính sách thương mại quốc tế hiện nay. Trong những năm gần đây
chúng ta đã phát huy được thế mạnh rất lớn trong phát triển một số ngành mũi
nhọn cho xuất khẩu như gạo, dệt may, da giầy, dầu thô…tuy nhiên chúng ta
cũng nhập khẩu với con số lớn mà chủ yếu là nguyên vật liệu dùng cho sản
xuất. Nhập siêu liên tục tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng và phát
triển kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới đang gặp khó khăn hiện
nay. Kế hoạch 5 năm 2006-2010 đã chỉ rõ nhiệm vụ chính của thương mại quốc
tế là tăng giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực và giảm nhập siêu tiến tới cân
bằng cán cân xuất-nhập khẩu. Trong thời gian qua chúng ta đã đi được 2/3
chặng đường nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết, rất nhiều nhiệm vụ
cần thực hiện.
1
2
A. LÝ LUẬN CHUNG
I. Khái niệm, nhiệm vụ của kế hoạch thương mại quốc tế
1. Khái niệm
Kế hoạch thương mại quốc tế là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội, nó đưa ra các định hướng phát triển thương mại quốc tế,
các mục tiêu về thương mại quốc tế cần thực hiện trong thời kỳ kế hoạch và
hệ thống các chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế
2. Nhiệm vụ:
Xác định quy mô và tốc độ hoạt động xuất nhập khẩu, đảm bảo phù hợp với
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và tiến trình hội nhập của đất nước

thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăng năng suất .
Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
người dân. Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân,
từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa-> nhân tố kích thích nền kinh tế
tăng trưởng. Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh
tế, nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu làm gia
tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu -> Là nhân tố kích thích
nền kinh tế tăng trưởng .
Trong khi đó nhập khẩu sẽ giúp chúng ta cân bằng được lượng hàng hoá
trong nước, bù đắp được lượng hàng hoá thiếu hụt cho sản xuất và tiêu dùng .
Ngoài ra nhập khẩu còn thúc đẩy và nâng cao năng suất lao động khi chúng ta
3
4
tiếp nhận các khoa học công nghệ và dây chuyền sản xuất tiên tiến từ nước
ngoài.
2. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu.
2.1. Nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
- Nhân tố khách quan: Tình hình biến động kinh tế - chính trị thế giới và
khu vực: khủng hoảng kinh tế Mỹ, Trung Quốc gia nhập WTO, sự sụt
giảm của thị trường chứng khoán toàn cầu, …
Các nhân tố này có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến tình hình xuất khẩu
của nước ta, nó tác động đến tỷ giá hối đoái, lãi suất tiền gửi – cho vay, nhu
cầu tiêu thụ các mặt hàng, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, thứ tự thị trường có
doanh thu lớn nhất…
Ví dụ: Việc Trung Quốc gia nhập WTO đã gây ra khá nhiều trở ngại và sự
cạnh tranh lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, hầu hết tại các thị trường lớn và
tiềm năng như Mỹ, Nhật, EU … hàng hóa của Trung Quốc đều cạnh tranh rất
ác liệt với hàng hóa Việt Nam, không những thế, nhiếu mặt hàng của TQ đã
vượt qua Việt Nam, thay thế hàng hóa Việt Nam do hàng hóa TQ đa dạng về
chủng loại, màu sắc, kích cỡ và mẫu mã… tuy nhiên theo đánh giá của nhiều

hướng nhập khẩu gia tăng. Nhập khẩu xét về bản chất là dựa trên lợi thế tương
đối (lợi thế so sánh) hay chi phí so sánh để sản xuất hàng hoá.Khi những chi
phí về nhập khẩu một loại hàng hoá thấp hơn chi phí để sản xuất ra chúng thì
chúng ta sẽ chọn cách nhập khẩu hàng hoá đó.
5
6
- Yếu tố xuất khẩu cũng ảnh hưởng đến nhập khẩu của một quốc gia. Một
chính sách phát triển một ngành hay lĩnh vực nào đó để xuất khẩu cũng đòi hỏi
một chính sách nhập khẩu hợp lý nhằm cung ứng đầy đủ các yếu tố kỹ thuật,
nguyên vật liệu để phát triển ngành hay lĩnh vực đó. Ví dụ như ngành da giầy
của chúng ta hiện nay, muốn phát triển ngành này nhằm phục vụ cho xuất khẩu
thì ta phải nhập các loại da giầy cao cấp và đạt tiêu chuẩn chất lượng từ bên
ngoài khi mà trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu đó. Và thực tế thì các mặt
hàng xuất khẩu chủ đạo của chúng ta đang gặp tình trạng trên.
- Thuế và các chính sách bảo hộ hàng trong nước của chính phủ. Thuê là
yếu tố tác động gián tiếp đến việc nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước.
Nếu với một mức thuế nhập khẩu cao hay một chính sách bảo hộ hàng trong
nước thì sẽ làm cho các doanh nghiệp cân nhắc về quyết định nhập khẩu một
loại hàng hoá nào đó từ nước ngoài, nó cũng sẽ hạn chế tiêu dùng đối với những
hàng hoá này trên thị trường trong nước.
B. ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN
I. Tình hình xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006-2008
1. Xuất khẩu
1.1. Kim ngạch xuất khẩu:
6
7
(đơn vị: tỷ USD)
Năm 2006, xuất khẩu ước tính đạt 39,6 tỷ USD và đã vượt 4,9% so với kế
hoạch cả năm. Có tới 9 mặt hàng vượt ngưỡng 1 tỉ USD: Dầu thô (8,32 tỉ
USD); dệt may (5,8 tỉ USD); giày dép (3,55 tỉ USD); thuỷ sản (3,36 tỉ USD);

5,6 tỷ USD, tăng 49% so với cùng kỳ năm trước; hàng dệt may đạt 4,1 tỷ
USD, tăng 17,7%; giày dép đạt 2,3 tỷ USD, tăng 16,9%; thủy sản đạt 1,9 tỷ
USD, tăng 14%; gạo đạt 1,5 tỷ USD, tăng 99%; sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD,
tăng 20,4%; điện tử máy tính đạt 1,2 tỷ USD, tăng 32,4%; cà phê đạt 1,2 tỷ
USD, giảm 4,1%.
1.2. Các mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu của Việt Nam
Nhóm hàng nông -lâm – thủy sản
8
9
Giai đoạn 2006 – 2008, nhóm mặt hàng này cũng đã đóng góp một tỷ trọng
tương đối lớn trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta,
Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản sẽ giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu hàng hoá
xuất khẩu của Việt Nam từ 19,1% năm 2006 xuống còn 13,7% năm 2010. .
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết trong tháng 10 năm 2008 tình
hình tiêu thụ nông lâm, thuỷ sản gặp nhiều khó khăn trở ngại do nguồn cung
một số mặt hàng tăng như (gạo, cao su, cà phê), xuất khẩu bị chững lại và giảm
nhẹ. Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 ước khoảng 1,39 tỷ USD, tăng 25,6% so
với tháng 10 năm 2007, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm ước
13,7 tỷ USD tăng 25,7% so với cùng kỳ. Trong đó, các mặt hàng nông sản đạt
7,4 tỷ USD, tăng 30%; lâm sản 2,46 tỷ USD tăng 16,7%; thuỷ sản ước 3,8 tỷ
USD tăng 23,8%. Tính đến tháng 10 năm 2008, ngành nông nghiệp đã có 5 mặt
hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD gồm gao, thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà
phê và cao su trong tổng số 11 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1tỷ USD của cả
nước.
Cụ thể các mặt hàng chính như tổng lượng gạo xuất khẩu 10 tháng đầu năm ước
đạt trên 4 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,65 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 90%
về giá trị. Gạo là mặt hàng có mức tăng kim ngạch cao nhất trong các mặt hàng
nông lâm sản trong 10 tháng đầu năm nay. Theo số liệu của Tổng Cục Hải
quan, giá gạo xuất khẩu bình quân 10 tháng đầu năm đạt 649 USD/T, tăng gấp
hơn 2 lần so cùng kỳ năm trước. Cà phê ước 805 ngàn tấn, kim ngạch xấp xỉ 1,7

hàng này đang có qui mô xuất khẩu khoảng 145 triệu USD và tăng mạnh trong
một số năm gần đây, chủ yếu bao gồm các loại quặng sắt, đồng, bôxit nhôm.
10
11
Dự kiến xuất khẩu của nhóm khoáng sản này trong giai đoạn 2006-2010 tăng
bình quân 28,1%/năm và đạt khoảng 500 triệu USD vào năm 2010.
Nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ.
Trong khi hai nhóm hàng trên đều có xu hướng giảm dần tỷ trọng kim ngạch
thì riêng nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ lại tăng khá mạnh từ
45,9% năm 2006 lên 54,1% năm 2010 với kim ngạch đạt được trên 39 tỷ USD.
Theo dự đoán của các chuyên gia, Giai đoạn 2006-2010, nhóm sản phẩm công
nghiệp và thủ công mỹ nghệ dự kiến sẽ là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao
nhất đạt 36,3%/năm, chiếm 50,6% tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn
2006-2010 của cả nước.
Các sản phẩm thuộc nhóm hàng này bao gồm: dệt may, da- giày, điện tử, linh
kiện máy tính; thủ công mỹ nghệ; sản phẩm gỗ, nhựa; xe và phụ tùng xe; dây -
cáp điện; thép và các sản phẩm từ gang thép; máy biến thế và động cơ điện; hóa
mỹ phẩm và chất tẩy rửa;vật liệu xây dựng, đóng tàu… Trong đó các mặt hàng
có kim ngạch xuất khẩu lớn như dệt may đạt 9,5 tỷ USD, tăng 22,1%; giày dép
đạt 4,5 tỷ USD, tăng 13,6%. Dự kiến một số mặt hàng thuộc nhóm này có mức
tăng trưởng rất cao như hàng điện tử và linh kiện máy tính tăng 60,6%; thủ
công mỹ nghệ tăng 35,1%; dây điện và cáp điện tăng 47%; sản phẩm nhựa tăng
37,9%. ( số liệu dự kiến đạt được cảu năm 2008).
Trong nhóm hàng này, việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các
mặt hàng đều tập trung vào yếu tố gia tăng qui mô xuất khẩu, trong đó bao gồm
cả các mặt hàng mới nổi có nhiều tiềm năng phát triển. Tuy nhiên cần nhìn
nhận thực tế là hiện nay, giá trị đóng góp của các ngành này vẫn chủ yếu là giải
quyết khâu lao động là chính, đa số các ngành đều cần đến nguồn nguyên vật
liệu nhập khẩu, công nghệ lạc hậu, lao động trình độ cao còn rất hạn chế, phụ
11

năm.
Việt Nam đẩy mạnh phát triển lĩnh vực dịch vụ và xuất khẩu tại chỗ cũng như
xuất khẩu ra nước ngoài với mục tiêu của năm 208 từ 6,2-6,7 tỷ USD, tức tăng
hơn 10% so với năm ngoái trong tổng kim ngạch kế hoạch là 38,44 tỷ USD,
tăng 18,5% so với 2005
Nhận thức tầm quan trọng của giá trị gia tăng do dịch vụ xuất khẩu mang lại
cho nền kinh tế, vừa qua Chính phủ đã đưa ra chiến lược phát triển xuất khẩu
quốc gia, trong đó có lĩnh vực dịch vụ. Theo đó, mức tăng trưởng xuất khẩu
dịch vụ phải đạt 16,5% bình quân hàng năm, đến 2010 đạt kim ngạch 12 tỷ
USD, tức gấp đôi kim ngạch dự tính của năm 2006.
1.3 . Thị trường xuất khẩu của Việt Nam
Trong tháng 9 đầu năm 2008, bên cạnh sự sụt giảm của xuất khẩu thì cơ cấu thị
trường hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đang có những thay đổi. Theo thống
kê, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh ở các thị
trường châu Á (40%), châu Phi và Tây Nam Á (33%), nhưng tăng chậm lại đối
với châu Mỹ (23%), châu Âu (13%) và châu Đại Dương (khoảng 11,6%), chủ
yếu do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng thị trường nhà đất tại Mỹ và kinh tế
châu Âu đi xuống
Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN
13
14
Nhìn vào cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN năm 2006, có thể thấy
hai mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch và tỷ trọng lớn nhất là dầu thô (thường
chiếm tỷ trọng xung quanh mức 40% - năm 2005 lên tới trên 46,6%), sau đó là
gạo (chiếm tỷ trọng trên 10%). Các nước nhập khẩu gạo lớn trong ASEAN như
Inđônêxia, Philipin, Malaixia đều coi gạo là mặt hàng đặc biệt quan trọng và
thực hiện nhiều biện pháp phi quan thuế để quản lý mặt hàng này.
Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu khá lớn khác sang ASEAN là linh kiện
điện tử, vi tính, hải sản, hàng dệt may… hầu hết đều được Việt Nam và các
nước ASEAN đưa vào trong danh mục IL để thực hiện CEPT/AFTA từ khá

Giày dép mặc dù bị áp thuế chống bán phá giá 10% vẫn tăng 1l,4%. Dệt may
tăng 16,5% so với năm 2006 và 70,2% so với năm 2005, điều đó cho thấy thỏa
thuận bỏ hạn ngạch dệt may là có lợi cho Việt Nam. Xuất khẩu cà phê tăng 65%
nhờ giá cà phê thế giới tăng mạnh.
Năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam vào EU sẽ khó khăn hơn do nhu cầu ở thị
trường này yếu bởi tăng trưởng kinh tế chậm lại, kinh tế toàn cầu suy giảm bởi
tác động của kinh tế Mỹ và dư âm của cuộc khủng hoảng trên thị trường tài
chính. Các nước EU đang nỗ lực điều phối nền kinh tế tốt hơn nhưng rất khó
đạt được mức tăng trưởng khả quan.
Theo dự báo thị trường châu Âu năm 2008 của Vụ châu Âu Bộ Công Thương,
xuất khẩu của Việt Nam vào EU đạt l 1,18 tỷ USD, tăng 23%, thấp hơn mức
28,2% của năm 2007. Một số mặt hàng xuất khẩu chính được dự báo có mức
tăng trưởng thấp hơn. Cụ thể, giày dép tăng 8% (so với l l ,4% của năm 2007),
cà phê nhân tăng trưởng 30% ( so với 65% của năm 2007). Lưu ý thêm, mặt
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status