A. MỞ ĐẦU
Trước những biến động bất thường về giá cổ phiếu, nhiều ý kiến cho
rằng thị trường chứng khoán Việt Nam chưa có các tổ chức đầu tư chuyên
nghiệp đứng ra làm định hướng trong hoạt động đầu tư. Một trong các nhà
đầu tư có tổ chức mang tính chuyên nghiệp cao đó là Quỹ đầu tư chứng
khoán. Quỹ đầu tư chứng khoán tham gia thị trường với hai tư cách: tư cách
là tổ chức phát hành, phát hành ra các chứng chỉ quỹ đầu tư để thu hút vốn
và tư cách là tổ chức đầu tư dùng tiền thu hút được để đầu tư chứng khoán.
Trên thế giới hiện nay có khoảng hàng chục nghìn Quỹ đầu tư đang hoạt
động cung cấp cho các nhà đầu tư. Nhờ đó mà tỷ trọng tham gia thị trường
chứng khoán của các quỹ ngày càng tăng so với nhà đầu tư cá nhân. Quỹ
đầu
tư chứng khoán đã thực sự trở thành một định chế tài chính trung gian ưu
việt trên thị trường chứng khoán, làm cho thị trường phát triển, nhất là trong
giai đoạn đầu hình thành vì sự có mặt của nó sẽ tạo cho công chúng thói
quen đầu tư.
Chính vì vậy, việc tìm ra các giải pháp để thu hút rộng rãi công chúng
tham gia đầu tư, tăng quy mô vốn thị trường thông qua tạo lập các Quỹ đầu
tư chứng khoán là rất cần thiết. Xuất phát từ các lợi ích mà Quỹ đầu tư
chứng khoán mang lại cho các nhà đầu tư công chúng, việc nghiên cứu để có
những chính sách, biện pháp thúc đẩy loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán ở
Việt Nam sẽ góp phần thiết thực tìm ra các giải pháp trên. Sự phát triển của
loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường
chứng khoán trong tương lai để thị trường chứng khoán Việt Nam phát huy
được vai trò thực sự trong việc chuyển tiết kiệm trong nền kinh tế thành đầu
tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Quỹ đầu tư chứng khoán là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ đối với người
dân Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu và đề ra những biện pháp
thúc đẩy sự ra đời của Quỹ đầu tư để có thể vận dụng vào thực tiễn là rất cần
thiết.
B. NỘI DUNG
chứng khoán, thực hiện việc quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán. Ngân hàng
giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của Quỹ đầu tư chứng
khoán và giám sát công ty quản lý quỹ trong việc bảo vệ lợi ích của người
đầu tư. Người đầu tư góp vốn vào Quỹ đầu tư và được hưởng lợi từ việc đầu
tư của quỹ. .
Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông
qua quỹ đầu tư chứng khoán bởi 05 yếu tố:
Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận. Có lợi thế
trong việc tiếp cận các dự án đầu tư và hưởng ưu đãi về chi phí giao
dịch.
Được quản lý chuyên nghiệp: cán bộ có trình độ chuyên môn, khả
năng phân tích và chuyên sâu vào các lĩnh vực đầu tư.
Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền
Tính năng động của quỹ đầu tư.
Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng
danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở
hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư.
1.2 Phân loại các quỹ đầu tư
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư căn cứ theo
các tiêu chí phân loại khác nhau.
1.2.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
a, Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng)
Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng.
Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư
riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu
tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với
hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại.
b, Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên)
Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một
Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty
được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành
cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có
nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản
lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền
thay đổi công ty quản lý quỹ. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt
động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu
tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh
khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của
UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân.
b, Quỹ đầu tư dạng hợp đồng .
Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô hình quỹ đầu tư
dạng công ty, mô hình này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty
quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện
việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó,
ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ
giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp
đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong
việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu
tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ
đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công
ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng
góp của họ.
Ở Việt Nam, theo Nghị định 144/2003/NĐ-CP ban hành ngày
28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thì công ty quản lý
quỹ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư chứng
khoán có thể ở dạng quỹ công chúng hoặc quỹ thành viên, và là dạng đóng.
1.3 Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán.
Đối với nền kinh tế
- Quỹ đầu tư đóng vai trò là các chuyên gia tư vấn về quản lý tiếp thị
quỹ có các nhà quản lý ra quyết định đầu tư dựa các nghiên cứu hoạt động
của từng công ty mà họ quan tâm và đối với từng loại chứng khoán cụ thể
trong những điều kiện nhất định.
- Cung cấp cho các nhà đầu tư cơ hội đầu tư vào thị trường vốn quốc
tế: Quỹ đầu tư giúp các nhà đầu tư trong nước đầu tư vốn đầu tư vốn ra nước
ngoài nhằm thu được lợi nhuận với chi phí hợp lý và rủi ro thấp.
Đối với thị trường chứng khoán
- Dưới góc độ là tổ chức phát hành, quỹ đầu tư phát hành các chứng
chỉ quỹ để thu hút vốn. Quỹ đầu tư có vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển của thị trường sơ cấp.
- Dưới góc độ là nhà đầu tư, quỹ đầu tư phải dành phần lớn giá trị tài
sản để đầu tư vào thị trường chứng khoán theo danh mục đã lựa chọn. Quỹ
đầu tư sẽ có tác dụng tăng cung kích cầu chứng khoán thông qua phương
thức đầu tư chuyên nghiệp và khoa học, tạo cho công chúng thói quen đầu
tư. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những nước có thị
trường chứng khoán còn non trẻ như Việt Nam.
1.4 Các bên tham gia hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
a)Công ty quản lý quỹ
Công ty quản lý quỹ đầu tư thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán.
- Điều kiện thành lập công ty quản lý quỹ:
quan cấp phép: UBCKNN
Loại hình công ty: có thể là công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty
liên doanh
Nghiệp vụ kinh doanh: quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và danh mục
quỹ đầu tư chứng khoán. Ngoài ra còn có quản lý các quỹ đầu tư nước ngoài
có mục tiêu đầu tư vào Việt Nam.
Điều kiện vốn pháp định: Tối thiểu là 25 triệu đồng. Bộ tài chính quy
định cụ thể mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ dựa trên quy mô vốn
được ủy thác quản lý.
d) Công ty luật
Tư vấn cho công ty những vấn đề liên quan đến pháp lý
1.5 Nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
1.5.1 Nguyên tắc huy động vốn
Việc huy động vốn của Quỹ đầu tư thông qua phát hành chứng khoán.
Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để
tạo thuận lợi cho việc quản lý của quỹ cũng như hoạt động đầu tư của những
người đầu tư. Tài sản của Quỹ đầu tư chủ yếu để đầu tư vào chứng khoán
chứ không phải trực tiếp đem vào đầu tư mở rộng sản xuất. Quỹ không thể
phát hành trái phiếu tức đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo
nên môi trường chứng khoán ảo. Do vậy, nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát
hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác).
Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu
tư. Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời
khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn.
1.5.2 Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ
Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản.
Tổ chức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà
đầu tư. Chức năng giám sát tuỳ từng mô hình quỹ mà pháp luật các nước
giao cho một tổ chức tín thác hay hội đồng quản trị. Theo quy định của Mỹ
thì tài sản của quỹ có thể được bảo quản bởi một ngân hàng, một nhà kinh
doanh môi giới chứng khoán được đăng ký hay do chính quỹ đó quản lý.
Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo quản tài sản thông
thường là ngân hàng. Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo
quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyết định hoàn toàn
mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như công ty quản lý
quỹ… Riêng đối với hội đồng quản trị thì các tổ chức này có quyền tự quyết
định nếu như nó không liên quan tới chuyên môn của hội đồng quản trị. Để
đảm bảo an toàn cho tài sản của quỹ cũng như sự ổn định của thị trường
chứng khoán, một số nước nghiêm cấm Quỹ đầu tư bán khống chứng khoán.
từ 15% đến 20%. Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện
của thị trường. Thường những quỹ được giao dịch có chỉ số ở mức Discount
đều có thể đạt được mức Premium cao trong tương lai và ngược lại.
1.5.4 Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư
Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút
vốn đầu tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Do được cung
cấp thông tin mà người đầu tư đánh giá đúng về thực trạng của các khoản
đầu tư, khả năng chuyên môn của những người quản lý quỹ để có thể quyết
định đầu tư đúng đắn. Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định
của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sự thống nhất dễ hiểu cho các nhà
đầu tư. Các nước thường quy định Quỹ đầu tư khi gọi vốn từ công chúng
phải làm Bản cáo bạch (Prospectus) để công bố toàn bộ thông tin về công ty
quản lý, tổ chức bảo quản giám sát về chính sách, mục tiêu đầu tư của quỹ…
1.5.5 Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ
Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên
quan với quỹ. Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên
quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là Quỹ đầu tư và một bên là chủ thể
khác như công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản giám sát, người bảo lãnh
phát hành, nhà tư vấn… mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến
lợi ích của người đầu tư hiện tại của quỹ. Các trường hợp được coi là giao
dịch có liên quan như:
- Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên,
người quản lý, đối tác, người làm thuê, cổ đông…)
- Các khoản vay nợ của quỹ với chủ thể liên quan.
- Một người có liên quan hành động như một đại lý đối với tài sản của
quỹ trong việc mua bán chứng chỉ quỹ đầu tư.
- Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với
quỹ.
Nói chung mỗi nước lại có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện
tượng này để đảm bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh, công bằng bảo vệ
ảnh hưởng tới tổng lợi nhuận thu về của một quỹ là xu hướng phát triển của
một hoặc nhiều thị trường nơi quỹ sẽ đầu tư, kết quả của danh mục đầu tư
của quỹ cũng như mức phí và chi phí của quỹ đó.
1.6.4 Chi phí hoạt động của quỹ đầu tư
a, Các chi phí liên quan tới việc phát hành ra công chúng lần đầu của quỹ:
- Chi phí tiếp thị.
- Chi phí in ấn bản cáo bạch.
- Chi phí trả cho các đại lý bản cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư.
Thông thường các chi phí trên ước trung bình khoảng 4 – 6 % tổng số
tiền huy động được từ nhà đầu tư. Chi phí chào bán lần đầu được khấu trừ từ
tổng giá trị của quỹ huy động được.
b. Chi phí liên quan tới hoạt động
Có ba loại chí phí cơ bản lien quan tới hoạt động của các quỹ sau khi
thành lập và tiến hành hoạt động đầu tư. Đó là các loại phí: