KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN - Pdf 76

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán
1. Sự hình thành và phát triển của các Quỹ đầu tư
Xuất hiện lần đầu tại Châu Âu vào thế kỷ 19, loại hình Quỹ đầu tư chứng
khoán đã thu hút được sự tham gia đông đảo của công chúng và đã trở thành
một định chế tài chính không thể thiếu được. Các Quỹ đầu tư ban đầu được
thành lập theo kiểu Quỹ tín thác đầu tư (Investment Trust). Quỹ tín thác đầu
tiên do vua William I của Hà Lan thành lập tại Brussels – Bỉ. Quỹ này được
lập ra để tạo điều kiện cho Hà Lan có thể đưa tiền đầu tư ra nước ngoài dưới
dạng các khoản vay của chính phủ. Tuy nhiên, phải đến khi cuộc cách mạng
công nghiệp bùng nổ ở Anh thì các Quỹ đầu tư mới thực sự phát triển. Cuộc
cách mạng công nghiệp này đã đưa nước Anh thành một quốc gia thịnh vượng
nhất Châu Âu, sở hữu những nguồn vốn lớn. Trong khi đó, các nước láng
giềng ở Châu Âu hay Mỹ thì lại đang thiếu vốn trầm trọng. Vì vậy, các nước
thiếu vốn đã phát hành rất nhiều công cụ nợ với lãi suất hấp dẫn nhằm thu hút
vốn cho quá trình đầu tư ra nước ngoài, nhưng việc đầu tư này thường gặp
phải những khó khăn do không tiếp cận được những thông tin cần thiết và
thiếu những hiểu biết về môi trường đầu tư nước ngoài. Trước tình hình đó,
một số nhà đầu tư đã lập ra Quỹ đầu tư hải ngoại và thuê những chuyên gia
hiểu biết về đầu tư nước ngoài đứng ra quản lý. Đây chính là tiền thân của các
Quỹ đầu tư phổ biến trên thị trường tài chính hiện nay.
Vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ 18, các công ty tín thác tương
tự như của Hà Lan được lập ra ở Anh và Scotland. Hiệp hội tài chính London
(London Financial Association) và Tập đoàn tài chính quốc tế (International
Financial Society) thành lập năm 1863 được coi là những công ty tín thác đầu
tiên của Anh. Các thương nhân Anh và Scotland ngày đó muốn tìm kiếm nhiều
lợi nhuận hơn nên đã đem các khoản tiền đầu tư của họ ra nước ngoài và đặc
1
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

tự như Quỹ đầu tư. Đây là một tổ chức do một số nhà đầu tư thành lập nên để
1
)
Nguồn: Mutual Fund Fact Book 2003.
2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
lợi dụng các dịch vụ đầu tư do công ty chứng khoán cung cấp. Đây chính là
mầm mống cho sự ra đời các Quỹ đầu tư về sau của Nhật. Tại Nhật Bản, Luật
tín thác (Trust Law) và Luật kinh doanh tín thác (Trust Business Law) là các
bộ luật điều chỉnh hoạt động của các Quỹ đầu tư.
Không chỉ ở các nước có nền tài chính phát triển như Anh, Mỹ…, mô
hình Quỹ đầu tư còn giữ một vị trí quan trọng trên các thị trường chứng khoán
mới nổi. Việc thành lập các Quỹ đầu tư ở thị trường này bắt nguồn từ nhu cầu
của những nền kinh tế còn yếu kém nhiều mặt, đòi hỏi phải cải thiện khả năng
thanh toán và trợ giúp cơ sở hạ tầng phát triển.
Nói tóm lại, hoạt động của các Quỹ đầu tư phát triển không ngừng, mở
rộng trên tất cả các thị trường chứng khoán thế giới. Nắm trong tay một lượng
vốn khổng lồ, các Quỹ đầu tư ngày càng chứng tỏ vai trò của mình – một định
chế tài chính trung gian quan trọng đáp ứng nhu cầu của người đầu tư và
người nhận đầu tư cũng như của cả nền kinh tế.
2. Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán
Khi bắt đầu tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán, một trong
những khó khăn lớn nhất mà người đầu tư phải vượt qua đó là việc lựa chọn
chứng khoán để đầu tư. Việc này được sự trợ giúp bởi các nhà môi giới
(Broker) hoặc kinh doanh chứng khoán (Dealer). Tuy nhiên, dù được thông tin
và tư vấn đến đâu chăng nữa, nhà đầu tư vẫn được xem như là người quyết
định cuối cùng, và do đó hiệu quả đầu tư của họ xét cho cùng lệ thuộc vào các
điều kiện và phẩm chất cá nhân. Thị trường chứng khoán lại tập hợp rất nhiều
các sản phẩm đa ngành, thế nên cho dù người đầu tư có tập trung vào một lĩnh

sát công ty quản lý quỹ trong việc bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Người đầu
tư góp vốn vào Quỹ đầu tư và được hưởng lợi từ việc đầu tư của quỹ.
3. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán
3.1. Căn cứ vào cách thức huy động vốn
4
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
- Quỹ đầu tư chứng khoán đóng
- Quỹ đầu tư chứng khoán mở
Quỹ đóng và Quỹ mở là hai loại Quỹ đầu tư điển hình và phổ biến nhất hiện
nay. Chúng còn được gọi dưới một cái tên chung là Quỹ đầu tư chuyên nghiệp
(Management Fund). Người ta gọi là Quỹ đầu tư chuyên nghiệp bởi vì công việc
đầu tư loại này được quản lý chuyên nghiệp theo một danh mục gồm những
chứng khoán phù hợp với mục tiêu đã quy định trong các văn bản thành lập.
3.1.1. Quỹ đầu tư chứng khoán đóng (Closed-end Fund)
Quỹ đóng là Quỹ đầu tư chứng khoán trong đó người đầu tư không được
quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ trước thời hạn kết thúc hoạt động
hay giải thể. Cơ cấu vốn trong Quỹ đóng được xem là ổn định. Ngoại trừ các
đợt phát hành huy động vốn tập trung, các quỹ không phát hành thêm cổ phần
và cũng không thu lại cổ phần đã phát hành. Các cổ phần sau khi phát hành sẽ
được mua đi bán lại trên các thị trường thứ cấp, có thể là tại sàn giao dịch
hoặc trên thị trường không tập trung OTC. Do đó mà nó có thể được tính thêm
tiền hoa hồng hay một khoản kê giá lên. Giá thị trường của các cổ phần Quỹ
đóng sẽ giao động tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động của quỹ, cung cầu trên
thị trường như các loại chứng khoán thông thường khác, hơn là trực tiếp liên
hệ với giá trị thuần. Các cổ đông không thể rút vốn góp ra khỏi Quỹ đầu tư và
quỹ không có nghĩa vụ phải mua lại các cổ phiếu mà quỹ phát hành ra. Muốn
rút vốn, các cổ đông đem bán cổ phiếu đó ra thị trường chứng khoán theo giá
thị trường hoặc theo giá thoả thuận. Cổ phiếu của quỹ được giao dịch trên thị
trường thứ cấp nên lượng tiền mặt của Quỹ đóng không bị tác động hàng ngày

tục bán cho những cổ đông hiện hữu.
3.1.3. Sự khác nhau giữa Quỹ đóng và Quỹ mở
Sự khác nhau giữa Quỹ đóng và Quỹ mở tác động tới hoạt động của các
nhà tư vấn đầu tư, cơ hội của những nhà đầu tư cá nhân để giảm thiểu rủi ro,
6
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
gia tăng lợi nhuận và những chi phí mà họ phải chịu khi đầu tư vào các quỹ.
Sự khác biệt được thể hiện ở một số điểm chính sau đây :
+ Việc mua và bán cổ phiếu ngân quỹ : Quỹ mở có số lượng chứng khoán
lưu hành luôn thay đổi. Nó được quyền mua lại chứng chỉ quỹ của chính mình
khi cần giảm số lượng chứng chỉ đang lưu hành trên thị trường và bán chứng
chỉ quỹ của mình bằng cách bán lại chứng chỉ ngân quỹ đã mua hoặc phát
hành thêm chứng chỉ mới.
Khác với Quỹ mở, Quỹ đóng chỉ được chào bán cho công chúng một lần
nên số lượng chứng khoán lưu hành là cố định. Quỹ đóng cũng không mua lại
chứng chỉ quỹ của mình mà nhà đầu tư phải bán lại cho nhà đầu tư khác. Và
nếu nhà đầu tư muốn mua chứng chỉ Quỹ đóng thì chỉ được mua từ nhà đầu tư
khác.
+ Giá cả mua bán chứng chỉ quỹ : Đối với Quỹ đóng, giá mua bán chứng
chỉ quỹ là giá thị trường được xác định bởi cung cầu trên thị trường là chủ
yếu.
Đối với Quỹ mở, giá mua bán chứng chỉ quỹ được công ty quản lý quỹ
xác định là giá trị tài sản ròng tại thời điểm đóng cửa của ngày giao dịch (hoặc
từng giờ giao dịch).
+ Các phí phải trả cho việc mua bán, quản lý điều hành hoạt động của
quỹ : Nhà đầu tư phải trả phí môi giới mua bán cổ phiếu cho nhà môi giới và
phí điều hành hoạt động của quỹ cho công ty quản lý quỹ nếu đó là Quỹ đóng.
Đối với Quỹ mở, nhà đầu tư có thể phải hoặc không trả phí môi giới mua
bán chứng chỉ quỹ tuỳ hình thức quỹ là Quỹ thu phí (Load Mutual Fund) hay

8
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Phần lớn tài sản quỹ đầu tư là cổ phiếu. Tuy nhiên việc đầu tư vào cổ
phiếu thường được giới hạn trong một tỷ lệ phần trăm nhất định, phần còn lại
sẽ đầu tư vào những lĩnh vực an toàn hơn như trái phiếu… Không như các nhà
đầu tư riêng lẻ thường mua các loại cổ phiếu khác nhau để đa dạng hoá danh
mục đầu tư của họ, các quỹ thường tập trung vào một khu vực nào đó, như cổ
phiếu của các công ty thượng hạng (Blue Chips) hay các công ty nhỏ. Cổ tức
thường được trả mỗi năm một lần vào thời điểm kết toán tài khoản, từ cổ tức
mà quỹ thu được và các khoản thu nhập khác của quỹ. Khi hết thời hạn hoạt
động, toàn bộ tài sản của quỹ sẽ được thanh toán và hoàn trả cho người đầu tư.
3.3.2. Quỹ đầu tư trái phiếu
Một số lượng lớn tài sản của quỹ đầu tư vào trái phiếu. Đầu tư vào trái
phiếu cho phép nhà đầu tư đảm bảo ổn định về thu nhập bởi khoản thu nhập
không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của chủ thể phát hành. Khoản lãi này
có thể nhận về hoặc lại tiếp tục đưa vào một quỹ gọi là quỹ tái đầu tư lãi.
3.3.3. Quỹ thị trường tiền tệ
Quỹ đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ. Đây là
những công cụ đầu tư khá an toàn, ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ
tiền gửi của các ngân hàng… Do vậy, Quỹ thị trường tiền tệ thường ít biến
động hơn các quỹ khác, nó thích hợp cho mục tiêu đầu tư ngắn hạn lại có thu
nhập ổn định.
3.4. Một số loại quỹ khác
3.4.1. Quỹ cân bằng (Balanced Fund)
Danh mục đầu tư cân bằng cố gắng để đạt được ba mục tiêu: thu nhập,
tăng trưởng vốn đều đặn và bảo toàn vốn. Chúng thực hiện điều này bằng cách
đầu tư vào các trái phiếu, các chứng khoán chuyển đổi và thêm một vài cổ
phiếu ưu tiên cũng như cổ phiếu thường. Nhìn chung các danh mục đầu tư này
đầu tư từ 40% đến 60% giá trị quỹ vào trái phiếu.

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Quỹ đầu tư góp phần vào sự phát triển của thị trường sơ cấp và ổn định
thị trường thứ cấp. Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ
và trái phiếu doanh nghiệp, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư làm tăng lượng
cung chứng khoán trên thị trường chứng khoán, tạo sự đa dạng về hàng hoá
cho thị trường. Khi Quỹ đầu tư mua bán với khối lượng lớn một loại chứng
khoán nào đó thường ảnh hưởng lớn tới sự biến động của thị trường chứng
khoán. Nó góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp, giúp cho
sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp
với các phương pháp đầu tư khoa học. Ví dụ, khi thị trường chứng khoán thiếu
cung, Quỹ đầu tư bán chứng khoán do nó nắm giữ thì sẽ làm tăng đáng kể
lượng cung làm giá chứng khoán thấp xuống. Ngược lại, nếu lượng cung quá
cao, quỹ có thể mua chứng khoán làm cầu tăng lên, kéo theo giá chứng khoán
tăng, phản ánh giá trị thực của chứng khoán.
Quỹ đầu tư góp phần làm xã hội hoá hoạt động đầu tư chứng khoán. Các
quỹ tạo một phương thức đầu tư được các nhà đầu tư nhỏ, ít có sự hiểu biết về
chứng khoán yêu thích. Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư
bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ.
4.3. Đối với người đầu tư và người nhận đầu tư
4.3.1. Quỹ đầu tư chứng khoán cung cấp cho những nhà đầu tư riêng lẻ những
thuận lợi cơ bản để giúp họ đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi ích
Tính thanh khoản của chứng khoán đầu tư. Các nhà đầu tư vào Quỹ đầu
tư chứng khoán có thể bán chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu quỹ mình đang nắm
giữ vào bất cứ lúc nào cho chính Quỹ đầu tư (trong trường hợp Quỹ mở) hoặc
trên thị trường thứ cấp (đối với Quỹ đóng) để thu hồi vốn. Giá bán chứng chỉ
quỹ thay đổi phụ thuộc vào thay đổi của tổng giá trị tài sản danh mục của Quỹ
đầu tư phát hành ra cổ phiếu. Đặc biệt, chứng chỉ, cổ phiếu của các Quỹ thị
trường tiền tệ có tính thanh khoản rất cao, người sở hữu cổ phiếu có thể bán
11

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
hút sự tham gia của công chúng, các quỹ đều cung cấp thông tin sẵn có trên
các phương tiện thông tin đại chúng, trên các báo hay qua Internet.
Cung cấp các lựa chọn cho các nhà đầu tư. Một nhà đầu tư có thể có
được các lựa chọn khác nhau khi đầu tư vào các quỹ tuỳ thuộc vào mục đích
hay sở thích của họ. Họ có thể đầu tư vào danh mục các cổ phiếu, trái phiếu,
danh mục hỗn hợp hay danh mục các công cụ thị trường tiền tệ trong hơn vài
chục loại quỹ khác nhau.
An toàn trước các hành vi không công bằng. Người đầu tư có thể bị thiệt
hại nếu danh mục đầu tư của quỹ bị giảm giá trị do sự biến động giá chứng
khoán trên thị trường, nhưng xác suất bị tổn thất do gian lận, bê bối hoặc phá
sản liên quan đến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ. Khuôn khổ pháp lý và việc
quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền đối với Quỹ đầu tư đem lại những
đảm bảo cơ bản.
4.3.2. Quỹ đầu tư đem lại cho người nhận đầu tư (thường là các doanh nghiệp)
một số lợi ích căn bản sau
Chi phí cho nguồn vốn phát triển thấp hơn khi vay ngân hàng. Trước đây,
hệ thống ngân hàng chiếm vai trò thống trị nền tài chính. Để vay được vốn,
doanh nghiệp phải thoả mãn một số điều kiện nhất định và lãi suất vay cao.
Quỹ đầu tư ra đời sẽ hạn chế được những nhược điểm của cơ chế cho vay của
ngân hàng. Hơn nữa, việc đầu tư về tài chính qua các quỹ thường có giới hạn
nhất định về quyền và nghĩa vụ nên doanh nghiệp được đầu tư đảm bảo được
tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh.
Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn. Lợi ích này có được từ việc quỹ phát
hành và giao dịch các loại chứng khoán này trên thị trường đã thu hút sự chú ý
của các nhà đầu tư, đặc biệt là các chủ thể có khả năng tài chính lớn như ngân
hàng, các tổng công ty, các công ty bảo hiểm… đầu tư vào quỹ. Quỹ sẽ chính
là cầu nối giữa doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào với các tổ chức tài chính này.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status