luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam - Pdf 66

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

TRẦN VĂN TÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------TRẦN VĂN TÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN

NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Tài chính và Ngân hàng

Mã số

: 603420



6
6

1.1.2 Chưc năng cua ngân hang thương mai

7

Hoạt động kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, mục đích và sự cần thiết của kiểm toán nội bộ trong

8
8

̀́

̀̉

̀̀

ngân hang thương mai
̀̀

1.2.2 Phạm vi kiểm toán nội bộ
1.2.3 Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ

12
13

1.2.4 Nhiệm vụ quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ

30
35

NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOAṆ TỪ NĂM 2007 ĐẾN 2011
2.1

Tổng quan về ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

35

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Công

35

thương Việt Nam
2.1.2 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam

39


2.2

Hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam

43

2.2.1 Mô hình tổ chức và quy chế hoạt động


64

2.3.3 Phân tích các nhân tố và nguyên nhân tác động đến chất lượng

67

hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT

72

ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG
THƢƠNG VIỆT NAM
3.1

Đinh hướng phát triển của bộ máy kiểm toán nội bộ ngân hàng

72

TMCP Công thương Việt Nam
3.1.1 Đinh hướng phát triển của ngân hàng TMCP Công thương Việt

72

Nam
3.1.2 Đinh hướng xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm

73

94

3.4.1 Kiến nghi đối với cơ quan nhà nước

94

3.4.2 Kiến nghi đối với ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

96

3.4.3 Kiến nghi đối với các tổ chức nghề nghiệp

97

KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

99
100


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
BCTC

Nguyên nghĩa
Báo cáo tài chính

DN


Ngân hàng nhà nước

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHTMCPCT

Ngân hàng thương mại cổ phần công thương

TCTD

Tổ chức tín dụng

TMCP

Thương mại cổ phần

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

i


DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

Bảng số

Tên bảng

Thống kê một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt
động của bộ phận KTNB từ năm 2007 đến năm

Trang

66

2011

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT

Sơ đồ

Tên sơ đồ

1

Sơ đồ 1.1

Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ

15

2

Sơ đồ 1.2


6

Sơ đồ 3.1

Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ đề xuất

78

7

Sơ đồ 3.2

Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ đề xuất

83

ii

Trang


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nói chung và các
tổ chức tín dụng của Việt Nam nói riêng đã có sự phát triển nhanh chóng cả về quy
mô và số lượng. Song song với sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp,
nhà quản lý doanh nghiệp phải giải quyết những vấn đề mới phát sinh như: hiệu quả
kinh doanh, hiệu quả sử dụng các nguồn lực, quản tri rủi ro, độ tin cậy của thông tin
tài chính,….
Các tổ chức tín dụng là loại hình kinh doanh đặc biệt, hoạt động trong cơ chế thi

tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau về kiểm
toán nội bộ như: Các nghiên cứu của tác giả Smith, Charles A. (1934) về “Kiểm
soát kiểm toán nội bộ”; tác giả J.C.Shaw (1980) về “Kiểm toán nội bộ - một yếu tố
cần thiết cho hoạt động quản lý hiệu quả”; tác giả Richard A.Roy (1989) về “Quản
lý hành chính đối với bộ phận kiểm toán nội bộ”; tác giả Spencer Pickett (2000) về
“Phát triển các năng lực kiểm toán nội bộ”; tác giả Robert Moeller (2005) về “Kiểm
toán nội bộ hiện đại theo quan điểm của Brink”;….
Ở Việt Nam, năm 1997 kiểm toán nội bộ chính thức được công nhận. Một số
nghiên cứu về kiểm toán nội bộ cũng bắt đầu phát triển: Tác giả Nguyễn Quang
Quynh (1998) về “Xây dựng hệ thống kiểm tra kiểm soát trong quản lý vĩ mô ở Việt
Nam”; tác giả Nguyễn Mai Vinh (2005) chủ trì đề tài “Hoàn thiện kiểm toán nội bộ
tại Bộ Thủy sản”; tác giả Ngô Trí Tuệ và cộng sự với đề tài “Xây dựng hệ thống
kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại TCT Bưu chính viễn
thông Việt Nam” (năm 2004); tác giả Vương Đình Huệ và cộng sự với đề tài cấp
nhà nước “Đinh hướng chiến lược và giải pháp phát triển kiểm toán ở Việt Nam”;…
Các nghiên cứu đã xem xét những vấn đề mang tính khái quát chung về kiểm
toán nội bộ hay đề cập đến tổ chức kiểm toán nội bộ trong một đơn vi nhất đinh hay

2


một ngành nhất đinh trong nền kinh tế. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào
mang tính khái quát bao gồm cả lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm toán nội bộ
đối với lĩnh vực ngân hàng mà cụ thể là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế nước ta đang hội nhập mạnh mẽ
với thế giới bên cạnh đó hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đang đứng trước những
khó khăn thách thức lớn về hiệu quả hoạt động, mua bán sáp nhập ngân hàng,…
đồng thời NHNN đã ban hành thông tư 44 thay thế hoàn toàn các văn bản trước đây

Xuất phát từ thực tế, Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khảo sát thực
tế kết hợp với phỏng vấn chuyên gia để rút ra kết luận của vấn đề đang xem xét.
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia dựa trên hệ thống bảng câu hỏi, đồng thời việc
thiết kế các bản câu hỏi và cách thức hỏi được xây dựng cụ thể đối với từng đối
tượng phỏng vấn khác nhau.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Việc hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam trở
thành một tập đoàn tài chính vững mạnh, cạnh tranh với các tổ chức tài chính khác
trong khu vực và trên thế giới. KTNB sẽ góp phần không nhỏ nhằm giúp ngân hàng
thương maicổphần công thư ơng (NHTMCPCT) đạt được các mục tiêu trên. Chính
vì vậy, Luận văn có những đóng góp cả về lý luận và giải quyết thực tiễn, cụ thể:
Một là, Luận văn trình bày có cơ sở khoa học về các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động hệ thống kiểm toán nội bộ của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam.
Hai là, Luận văn tạo cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ
của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Ba là, Luận văn kiến nghi các giải pháp thực hiện cụ thể, khả thi nhằm góp phần
đưa hoạt động hệ thống kiểm toán nội bộ của Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam đạt chất lượng tốt nhất.

4


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2011.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam.

của xã hội.

6


1.1.2 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại



Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem

là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng
trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có
nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là
người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh
lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các
bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.



Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ

cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách
hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dich vụ
hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu
khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện
thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,
thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức
thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi,
mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có

thêm giá trị và cải thiện cho các hoạt động của tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho
tổ chức hoàn thành mục tiêu thông qua việc đưa ra một cách tiếp cận có hệ thống
và kỷ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm
soát và giám sát.”
Cách hiểu kiểm toán nội bộ đúng nhất là thừa nhận rằng đó là một loại hình
kiểm soát có tổ chức mà chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của những
kiểm soát khác. Khi một tổ chức đặt ra kế hoạch ở tất cả các vi trí và thực hiện các
các kế hoạch ở đó qua các nghiệp vụ, thì tổ chức đó phải làm một số việc để theo
dõi các nghiệp vụ nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đinh. Những việc làm
tiếp theo có thể hiểu là „kiểm soát‟. Chức năng kiểm toán nội bộ tự nó cũng là một
loại kiểm soát được sử dụng tuy nhiên cũng có nhiều loại kiểm soát khác và vai trò
đặc biệt của kiểm toán nội bộ là giúp đo lường và đánh giá những kiểm soát đó.
Như vậy, kiểm toán viên nội bộ vừa phải hiểu bản thân vai trò của mình là một kiểm
soát, vừa phải hiểu bản chất và phạm vi của những loại kiểm soát khác.
Tất cả điều đó có nghĩa là kiểm toán viên nội bộ - những người làm tốt công
việc của họ - đã trở thành chuyên gia trong các lĩnh vực làm cho việc thiết kế và
thực hiện các dạng kiểm soát trở nên tốt nhất có thể được. Kỹ năng thành thạo này
bao gồm sự hiểu biết mối tương quan giữa các dạng kiểm soát và sự đan xen tốt

8


nhất có thể, theo nhiều kiểu giữa chúng với nhau trong toàn bộ hệ thống kiểm soát
nội bộ. Như vậy là qua cái cửa kiểm soát mà kiểm toán viên nội bộ đi tới việc "xem
xét và đánh giá " các hoạt động có tổ chức và giúp đỡ tối đa cho tổ chức. Kiểm toán
viên nội bộ không thể sánh ngang – chứ chưa nói là vượt – kỹ năng tinh thông
nghiệp vụ kỹ thuật liên quan của các nhân viên nghiệp vụ khác của tổ chức nhưng
kiểm toán viên nội bộ có thể giúp những người có trách nhiệm đạt kết quả tốt hơn
bằng việc xác minh công việc kiểm soát hiện có và nêu ra căn cứ cải tiến những
công việc kiểm soát đó.

- Nhận đinh, phân tích và đánh giá những rủi ro có thể làm cho luật lệ và các
quy đinh không được tuân thủ; đề xuất những biện pháp cải thiện nhằm xây dựng hệ
thống quản lý hữu hiệu hơn.
Bên cạnh việc mở rộng mục tiêu, các hoạt động của kiểm toán nội bộ cũng được
mở rộng phạm vi, bao gồm cả hoạt động bảo đảm và hoạt động tư vấn. Trong hoạt
động bảo đảm, kiểm toán nội bộ đã nâng cao mục tiêu đánh giá độc lập của mình,
trong chừng mực nhất đinh, có thể tương tự như dich vụ bảo đảm của kiểm toán độc
lập. Bên cạnh đó, hoạt động tư vấn đã được tách riêng và xem là hoạt động của
kiểm toán nội bộ bên cạnh hoạt động bảo đảm.
1.2.1.3 Sự cần thiết của kiểm toán nội bộ trong ngân hàng
Trên thế giới, KTNB đã có lich sử tồn tại và phát triển trên 60 năm và được
thừa nhận ở trên 165 quốc gia như một nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp. Cùng
với sự phát triển năng động và ngày một phức tạp của các nền kinh tế, vai trò và
chức năng của KTNB trong việc đưa ra đảm bảo về việc đơn vi có thể kiểm soát
một cách hữu hiệu rủi ro đã dần được công nhận trong tất cả các khu vực kinh tế
công, kinh tế tư nhân và cả các tổ chức phi lợi nhuận.
Trong những năm đầu thập kỷ này, từ sự kiện sụp đổ của các tập đoàn lớn
(Enron, WorldCom…) đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đều có
mối liên hệ đến sự tồn tại và vận hành thực sự của một cơ chế quản tri doanh nghiêpg̣
trong một doanh nghiêpg̣ (DN) để có thể quản lý và kiểm soát được rủi ro. Các DN
đều chiu một áp lực rất lớn trong việc nhận biết tất cả rủi ro mà DN đang phải đối
mặt và phải lý giải được cách thức làm thế nào để kiểm soát các rủi ro này ở mức độ

10


chấp nhận được. Cùng với sự phát triển của khung quản tri rủi ro DN, KTNB đang
dần được xem là một công cụ hữu hiệu để một DN kiểm soát các rủi ro của mình
thông qua cả chức năng đảm bảo và chức năng tư vấn cho ban giám đốc và cho các
chủ sở hữu. Vai trò của KTNB chuyển dich từ vai trò truyền thống trong hoạt động

Công việc của kiểm toán viên bên ngoài (kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà
nước) thường là kiểm toán tài chính; chính sự gắn bó này đã góp phần vào việc giúp
các kiểm toán viên nội bộ hiện đại thoát ra khỏi công việc kiểm toán tài chính để tập
trung vào kiểm toán nghiệp vụ hay quản lý. Tuy nhiên việc phân tách hai chức năng
này không đơn giản vì có những mối liên hệ nhất đinh ở nhiều cấp độ khác nhau và
trong từng tình huống cụ thể. Ví dụ: kiểm toán viên nội bộ được nhà quản lý yêu
cầu thực hiện kiểm toán tài chính cho một chi nhánh hoặc một bộ phận nghiệp vụ
nào đó. Trong trường hợp này, kiểm toán viên nội bộ phải tiến hành kiểm toán tài
chính như thường lệ và đồng thời mở rộng công việc của mình sang các lĩnh vực
khác. Ở một cấp độ khác, kiểm toán viên nội bộ có thể phải thẩm tra các hoạt động
nghiệp vụ có liên quan chủ yếu đến chức năng tài chính hoặc kế toán. Khi đó, kiểm
toán viên nội bộ có thể mở rộng việc thẩm tra của mình sang các hoạt động nghiệp
vụ khác, nằm ngoài phạm vi nghiệp vụ tài chính hoặc kế toán thông thường. Hoặc
khi thực hiện kiểm toán một hoạt động nghiệp vụ nào đó kiểm toán viên nội bộ có
thể mở rộng hợp lý sang các vấn đề về kiểm soát chi tiêu và doanh thu – mang tính
chất nghiệp vụ tài chính nhiều hơn. Như vậy, kiểm toán nội bộ còn đi xa hơn những
báo cáo tài chính, công việc của kiểm toán nội bộ là sự gắn kết chặt chẽ giữa kiểm
toán tài chính và kiểm toán nghiệp vụ. Bên cạnh việc xác đinh mức độ tin cậy và
tuân thủ chuẩn mực của báo cáo tài chính, kiểm toán viên nội bộ còn phải khảo sát
tất cả các khía cạnh của quá trình tạo lập, duy trì hoặc rút gọn các bảng cân đối –
với nhận thức rõ ràng về mối liên hệ trùng lắp luôn tồn tại rất nhiều loại tài sản nợ
và tài sản có trong bảng tổng kết tài sản và các loại thu nhập và chi tiêu khác nhau
cấu thành nên báo cáo thu nhập. Trong đó, kiểm toán viên nội bộ quan tâm đến các
chính sách, quyết đinh, thủ tục và kết qủa hoạt động tác động đến những bảng tổng
kết tài chính luôn biến động này.
Về cơ bản phương thức hoạt động của kiểm toán nội bộ cũng giống như kiểm
toán độc lập nhưng kiểm toán nội bộ không chỉ quan tâm xem xét về tính trung thực
và hợp lý của các thông tin tài chính, mà còn quan tâm thường xuyên, sâu sát đến
12


13


KTV ở các đơn vi thành viên được kiểm toán thường có kiến thức và kinh nghiệm
về chính đơn vi của mình giúp họ có những kiến nghi gắn liền với điều kiện đơn vi
của mình; những người ở chính đơn vi thành viên được kiểm toán thường có động
lực để thực hiện các kết luận và kiến nghi khi chính họ đề xuất hơn là từ các KTV
công ty mẹ. Ưu điểm của mô hình tập trung là các kiến nghi mang tính áp chế cao
hơn; KTV tại công ty mẹ có tầm nhìn tổng quan hơn KTV tại đơn vi thành viên; dễ
dàng có các chính sách đồng bộ và nhất quán trong tập đoàn… Thực ra hai cách tổ
chức trên chỉ là xu hướng tổ chức, hầu hết các tập đoàn lựa chọn cách tổ chức hỗn
hợp hai mô hình trên dựa trên cơ sở các loại hình kiểm toán hay lĩnh vực kiểm toán,
theo cơ cấu công ty, theo lĩnh vực đia lý, … Các cách này có thể sử dụng độc lập
hoặc kết hợp theo mức độ cần thiết.
Xét về cấu trúc tổ chức, bộ máy KTNB có thể được tổ chức theo các cách tiếp
cận sau: dựa trên cơ sở các loại kiểm toán hay lĩnh vực kiểm toán, dựa trên cơ sở sự
thích hợp với cơ cấu tổ chức của công ty, theo lĩnh vực đia lý, theo cách kết hợp
những phương pháp đã đề cập trước đó với những nhân viên chủ chốt. Các cách
thức tiếp cận này có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp theo mức độ cần thiết.
Một là, Tổ chức bộ máy KTNB theo loại hình kiểm toán.
Bộ máy KTNB có thể được tổ chức theo từng loại hình kiểm toán (sơ đồ 1.1).
Theo quan điểm của kiểm toán hiện đại, một bộ phận của kiểm toán có thể được
chia theo từng loại hình kiểm toán, các khối chức năng và có thể chia nhỏ các lĩnh
vực đó để phân cấp tiếp. Ưu điểm của nó là tạo ra sự chuyên môn hoá trong công
việc, những vấn đề riêng biệt của công ty có thể được nghiên cứu sâu hơn và
chuyên môn đặc biệt có thể được triển khai khi bàn đến. Nhược điểm của nó là sự
trùng lặp công việc kiểm toán dẫn đến tốn kém chi phí, thời gian, làm cho KTV tư
duy máy móc ít thay đổi. Điều này làm giảm khả năng hoàn thiện chuyên môn của
KTV.


phận kiểm toán
đặc biệt

Giám sát kiểm
toán hoạt động
trong nước

Giám sát kiểm
toán hoạt động
trong nước

Giám sát kiểm
toán hoạt động
trong nước

Nhân viên kiểm

Nhân viên kiểm

Nhân viên

toán hoạt động
ngoài nước

toán hoạt động
trong nước

kiểm toán tài
chính


KTV phụ trách
khối C

KTV phụ trách

khối C

Sơ đồ 1.2: Tổ chức bộ máy KTNB theo các khối chức năng
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Thứ ba, Tổ chức KTNB theo khu vực địa lý hoạt động
Tổ chức KTNB theo khu vực đia lý hoạt động là cách tổ chức được đánh giá là
tốt nhất và được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Theo cách tổ chức này, tất cả các hoạt
động của công ty ở một khu vực đia lý nhất đinh được giao cho một KTV nội bộ
riêng biệt hoặc một nhóm KTV nội bộ. Khi sắp xếp tổ chức bộ máy KTNB theo khu
vực đia lý có thể kết hợp với cách thức tổ chức của mô hình tổ chức theo loại hình
và theo khối chức năng. Mô hình tổ chức KTNB theo khu vực đia lý thường được
mô tả như sơ đồ 1.3

16


KIỂM TOÁN
TRƢỞNG

Trưởng bộ
phận kiểm
toán khu vực
Miền Bắc

Trưởng bộ


Nhân viên

kiểm toán tài
chính

kiểm toán tài
chính

Nhân viên
kiểm toán
HTTT

Nhân viên kiểm
toán HTTT

Nhân viên

Nhân viên

kiểm toán hoạt
động

kiểm toán hoạt
động

Nhân viên

Nhân viên




hoạt động của TCTD. Đối với tất cả những vấn đề có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt
động của TCTD kiểm toán nội bộ cần thông báo kip thời về bản chất và ảnh hưởng
đối với hoạt động của TCTD và đưa ra những khuyến nghi thiết thực nhằm ngăn
ngừa, khắc phục những vấn đề này.
- Kiến nghi các biện pháp sửa chữa, khắc phục sai sót; kiến nghi xử lý những vi
phạm; đề xuất biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống
kiểm soát nội bộ.
- Đánh giá mức độ phù hợp của các hoạt động nhằm ngăn ngừa, khắc phục những
điểm yếu đã được báo cáo; các hoạt động nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội
bộ; và theo dõi cho đến khi các vấn đề này được xử lý thỏa đáng.
- Lập báo cáo kiểm toán; thông báo và gửi kip thời kết quả kiểm toán nội bộ cho bộ
phận có thẩm quyền (Ban kiểm soát, Hội đồng quản tri, Hội đồng thành viên, Tổng
giám đốc, Đại hội đồng cổ đông, NHNN).
- Phát triển, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện phương pháp kiểm toán nội bộ và phạm
vi hoạt động của kiểm toán nội bộ để có thể cập nhật, theo kip sự phát triển của hoạt
động ngân hàng.
- Thực hiện quy trình đảm bảo chất lượng công tác kiểm toán nội bộ.
- Thiết lập hồ sơ về trình độ năng lực và các yêu cầu cần thiết đối với kiểm toán
viên nội bộ để làm cơ sở tuyển dụng, đề bạt, luân chuyển cán bộ và bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ; lập kế hoạch tuyển dụng và bố trí đầy đủ nhân sự để đảm
bảo công việc giám sát từ xa được liên tục; tổ chức đào tạo liên tục nhằm nâng cao
và đảm bảo năng lực chuyên môn cho kiểm toán viên nội bộ.
- Duy trì việc tham vấn, trao đổi thường xuyên với tổ chức kiểm toán độc lập,
NHNN nhằm đảm bảo hợp tác có hiệu quả; là đơn vi điều phối, phối hợp với các cơ
quan bên ngoài đối với những công việc có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của
kiểm toán nội bộ.
- Tư vấn cho người điều hành, Hội đồng quản tri, Hội đồng thành viên TCTD và các
bộ phận nghiệp vụ thực hiện các dự án xây dựng, áp dụng mới hay sửa đổi những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status