BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ ÚT
TÁC ĐỘNG CỦA FDI VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh- Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ ÚT
TÁC ĐỘNG CỦA FDI VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chuyên Ngành : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã Số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Thị Thuỳ Linh
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu .................................................... 3
1.3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu..................................................................... 3
1.4.
Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................... 4
1.5.
Điểm mới của đề tài ........................................................................................... 4
1.6.
Bố cục bài nghiên cứu ........................................................................................ 5
CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY ................................................................. 6
2.1.
Khung lý thuyết .................................................................................................. 6
2.1.1. FDI và tăng trưởng kinh tế: Lý thuyết tăng trưởng nội sinh ................................ 6
2.1.2. Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ........................................................... 8
2.2.
3.3.
Mô hình nghiên cứu ......................................................................................... 32
3.4.
Phƣơng pháp phân tích mô hình hồi quy ...................................................... 35
3.4.1. Mô hình tác động cố định (Fixed effects model: FEM) và Mô hình tác động
ngẫu nhiên (Random effects model: REM) ....................................................... 35
3.4.2. Phương pháp bình phương tổng quát tối thiểu (Generalized least squares: GLS)
............................................................................................................................ 38
CHƢƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................. 40
4.1.
Phân tích thống kê mô tả dữ liệu .................................................................... 40
4.2.
Nội dung kết quả nghiên cứu .......................................................................... 44
4.2.1. Kết quả kiểm định các vi phạm của mô hình ..................................................... 44
4.2.1.1.
Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi ..................................... 44
4.2.1.2.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
M2
Liquid liabilities
Cung tiền mở rộng M2
FEM
Fixed Effects Model
Mô hình tác động cố định
REM
Random Effects Model
Mô hình tác động ngẫu nhiên
GLS
Generalized least square
The Asian Development
Ngân hàng phát triển châu Á
Bank
WDI
World development indicator
Chỉ số phát triển thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Dòng vốn FDI theo khu vực, 2011-2013............................................. 24
Bảng 3.2: Kỳ vọng dấu của hệ số các biến trong mô hình nghiên cứu ................ 25
Bảng 3.3: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình ................................................ 31
Bảng 4.1: Thống kê mô tả dữ liệu các biến.......................................................... 40
Bảng 4.2a: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (với chỉ số phát triển tài chính
là M2) ................................................................................................................... 42
Bảng 4.2b: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (với chỉ số phát triển tài chính
là CREDIT) .......................................................................................................... 42
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với giá trị VIF ................................... 44
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy của phương trình (1) ................................................. 47
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy của phương trình (2) ................................................. 53
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách các quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Phụ lục 2: Kết quả kiểm định Hausman
Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (ước lượng FEM, REM và GLS) được sử dụng để
phân tích mối quan hệ giữa FDI, phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trên một
mẫu 62 quốc gia chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh cho giai đoạn 1996-2013.
Kết quả cho thấy rằng sự phát triển khu vực tài chính giúp tăng cường sự đóng
góp của FDI tới tăng trưởng kinh tế tại nhóm các quốc gia đang phát triển. Nguồn vốn
FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó các chỉ số đại diện cho
sự phát triển tài chính lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, điều này được
giải thích bởi hệ thống tài chính không vững mạnh sẽ tác động tiêu cực đến tăng
trưởng.
Từ khóa: FDI, phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế.
2
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG CỦA
LUẬN VĂN VÀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Lý do chọn đề tài:
Từ trước tới nay dòng vốn FDI luôn đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
đặc biệt tại các quốc gia đang và kém phát triển. Trước hết, nó là một trong những
nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư góp phần tạo ra động lực cho
sự tăng trưởng và phát triển; đầu tư sẽ làm tăng cường khả năng khoa học công nghệ
của quốc gia. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, các công ty (chủ yếu là các công
ty đa quốc gia) đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc từ nước khác sang nước
nhận đầu tư, cùng với đó là kinh nghiệm quản lý, đội ngũ lao động được đào tạo, rèn
luyện về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động). Hơn
thế nữa, nó còn thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa đẩy mạnh cải tiến công nghệ để
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định hai yếu tố nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI và phát triển tài chính có thật sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không?
Đồng thời, xem xét mối quan hệ giữa biến tương tác giữa FDI với phát triển tài chính
tới tăng trường kinh tế, để đưa ra bằng chứng liệu có phải sự phát triển tài chính nội địa
là yếu tố xúc tác để FDI thúc đẩy nền kinh tế tại quốc gia đó hay không? Bên cạnh đó,
bài viết này cũng tìm cách để phân biệt các ảnh hưởng của FDI và khu vực tài chính
đến tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế kém phát triển, đang phát triển và phát triển.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu:
Cụ thể, bài nghiên cứu này được thiết kế để giải quyết vấn đề sau đây:
Sự tương tác giữa FDI và phát triển tài chính có ảnh hưởng như thế nào tới tăng trưởng
kinh tế? Và mối quan hệ này có khác biệt giữa các quốc gia đã phát triển, đang phát
triển và kém phát triển hay không?
1.3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
4
Luận văn đi nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI, phát triển tài chính tới tăng trưởng kinh
tế qua một mẫu nghiên cứu gồm 62 quốc gia trong giai đoạn từ 1996-2013. Trong mẫu
nghiên cứu bao gồm 20 quốc gia phát triển; 21 quốc gia đang phát triển và 21 quốc gia
kém phát triển (mẫu quan sát được lấy chủ yếu từ các nước Châu Á và Châu Mỹ
Latinh).
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ các trang web tổ chức thế giới như
ngân hàng thế giới (WB); Quỹ tiền tệ thế giới IMF; trang thống kê UNCTAD; Bộ dữ
liệu liên hợp quốc - UN, của 62 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn từ 1996-2013.
Bố cục luận văn bao gồm 5 chương được trình bày cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nội dung của luận văn và các vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
6
CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY
2.1. Khung Lý Thuyết
2.1.1. FDI và tăng trƣởng kinh tế: Lý thuyết tăng trƣởng nội sinh
Các lý thuyết tân cổ điển truyền thống mà đại diện là mô hình Solow (1957) đã không
thể chỉ ra mối liên kết giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các nghiên cứu mối
quan hệ giữa FDI với tăng trưởng kinh tế đều liên kết với các học thuyết tăng trưởng
nội sinh, mà cơ sở là tập trung vào mối quan hệ chi tiết giữa công nghệ và tăng trưởng
kinh tế.
Ý tưởng chính của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là thay đổi công nghệ ngăn chặn suất
sinh lợi theo vốn giảm dần xảy ra khi trữ lượng vốn tăng lên. Không có suất sinh lợi
giảm dần thì không có trạng thái dừng và do đó chúng ta không còn kỳ vọng sự hội tụ
thu nhập giữa nước giàu và nước nghèo. Có nhiều mô hình đã được đề xuất để trình
bày về khái niệm cơ bản này.
Romer (1986) dựa mô hình của mình vào quan sát cho rằng một số loại tri thức là
không có tính tranh giành, nghĩa là chúng không thể bị sử dụng hết như hàng hóa và
dịch vụ thông thường. Bản chất không tranh giành của ý tưởng có nghĩa là suất sinh lợi
từ một số hoạt động đổi mới sáng tạo không hoàn toàn thuộc về người làm ra nó (hay
công ty tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển). Tri thức lan tỏa từ doanh
nghiệp này sang doanh nghiệp khác đều có giá trị kinh tế, thực tế là rất nhiều giá trị vì
Với μ là tốc độ tăng trưởng ngoại sinh của cận biên công nghệ, ȳ là thu nhập bình quân
đầu người ở mức cận biên, y là thu nhập ở nước đang phát triển đến sau và θ là hệ số
lan tỏa công nghệ.
8
Nếu hệ số lan tỏa công nghệ < 1, thì quá trình bắt kịp công nghệ mang đặc trưng suất
sinh lợi giảm dần và sự hội tụ đạt được giữa các nước đang phát triển mở theo thời
gian.
2.1.2. Phát triển tài chính và tăng trƣởng kinh tế
Hệ thống tài chính bao gồm các tổ chức tài chính như hệ thống ngân hàng thương mại,
thị trường tài chính (như thị trường chứng khoán và trái phiếu). Ở mức độ rộng hơn,
một hệ thống tài chính mạnh mẽ và hiệu quả sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bằng
việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực và giúp phân bổ các nguồn lực một cách hiệu
quả hơn. Một thị trường tài chính vững chắc và tốt hơn có thể đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng bằng cách tăng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư, đẩy nhanh tiến độ tích lũy vốn vật chất.
Phát triển tài chính cũng thúc đẩy tăng trưởng bằng cách tăng cường cạnh tranh và kích
thích hoạt động sáng tạo từ đó giúp thúc đẩy năng suất lao động (báo cáo ADB số 233,
tháng 11/2010).
Hệ thống tài chính vững chắc và phát triển khi nó thực hiện tốt năm chức năng cốt lõi
là: (1) cung cấp thông tin về các khoản đầu tư và phân bổ vốn; (2) giám sát đầu tư và
cung cấp thông tin cho việc quản trị doanh nghiệp sau khi được tài trợ vốn; (3) tạo
thuận lợi cho kinh doanh, sự đa dạng hóa đầu tư và quản trị rủi ro; (4) huy động các
khoản tiết kiệm; và (5) giảm bớt sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Vai trò của phát triển khu vực tài chính đến tăng trưởng kinh tế lần đầu tiên được
nghiên cứu bởi Schumpeter (1911). Ông lập luận rằng các trung gian tài chính phát
triển tốt đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường đổi mới công nghệ. Tích lũy
vốn và tăng trưởng kinh tế vì chúng giúp giảm chi phí giao dịch, có khả năng huy động
tiền gửi tiết kiệm hộ gia đình, đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư thông qua việc mua
trưởng kinh tế và cũng cho ra các tranh luận khác nhau về mối quan hệ này. Trước hết
10
xem xét lập luận của nhóm nghiên cứu cho rằng FDI giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
tại nước tiếp nhận FDI. Cụ thể các nghiên cứu bao gồm:
De Mello (1999): Trong bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của FDI tới
sự tích lũy vốn, tổng sản lượng nền kinh tế và tổng các yếu tố gia tăng năng suất tại các
quốc gia tiếp nhận nguồn vốn FDI. Bằng phương pháp phân tích dự liệu thời gian và cả
dữ liệu bảng đối với các quốc gia trong giai đoạn 1970-90, lên kết luận của tác giả khá
thuyết phục. Đặc biệt, tác giả phân mẫu nghiên cứu ra làm 2 nhóm, một là các quốc gia
thuộc nhóm OECD - các nước phát triển cũng là các nước đi đầu tư, nhóm kia là các
nước không thuộc OECD ( non- OECD) chủ yếu là các nước đang và kém phát triển và
cũng là các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn FDI. Đối với dữ liệu thời gian, ban đầu tác
giả đi kiểm định tính dừng của các biến tăng trưởng sản lượng và lượng vốn đầu tư
nước ngoài FDI theo phương pháp Dickey-Fuller. Nếu chuỗi dữ liệu ở quốc gia nào
không dừng có tính dừng tại I(0) thì sẽ bị loại bỏ khỏi mẫu nghiên cứu. Sau bước 1,
mẫu nghiên cứu sẽ bao gồm nhưng quốc gia có chuỗi biến thời gian dừng tại I(0) và
các quốc gia này sẽ được phân ra làm 2 nhóm OECD và non-OECD. Tiếp theo, để biết
FDI có tác động tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn hay không tác giả đi kiểm định
tính đồng liên kết của hai biến này. Sử dụng mô hình VAR hai biến với mẫu các quốc
gia có tính dừng I(0) ở bước đầu tiên. Đối với dữ liệu bảng, tác giả sử dụng mô hình
hồi quy Fixed-effect kết hợp IV. Biến công cụ được sử dụng chính là biến độ trễ của
biến phụ thuộc. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, FDI hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn thông qua việc chuyển giao công nghệ và sự tích lũy vốn nhưng chủ yếu
là nhờ vào các kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Và kết luận FDI có tác động trong dài hạn
đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia nhận vốn thông qua việc chuyển giao công
nghệ kỹ thuật, tích lũy vốn và gia tăng nguồn nhân lực.
Lipsey (1999): Theo bài khảo sát của tác giả về vai trò FDI trong dòng vốn quốc tế thì
thuật thay thế. Mặc dù các nghiên cứu trước đây thường thấy tác động tích cực, những
12
kết quả này có thể được giải thích bởi các xu hướng đa quốc gia để xác định lĩnh vực
sản xuất hiệu quả nhất và để đầu tư vào các nhà máy năng suất cao hơn. Qua nghiên
cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng cho thấy rằng tác động ròng của sở hữu nước
ngoài vào nền kinh tế là khá nhỏ. Khi ước lượng bằng phương pháp WLS (Weighted
least-squares) thì cho thấy những tác động tích cực từ FDI mang lại cho các doanh
nghiệp nội địa lớn hơn những tác động tiêu cực mà nó mang lại. Tuy nhiên, với
phương pháp tiếp cận khác thì tác động ròng từ FDI tới các doanh nghiệp nội địa lại là
tiêu cực. Tác giả kết luận rằng có những lợi ích từ đầu tư nước ngoài, nhưng mà những
lợi ích như vậy xuất hiện từ các dự án/ công ty liên doanh. Tác giả không tìm thấy bằng
chứng về sự tồn tại của "lan tỏa" công nghệ từ các công ty nước ngoài với các doanh
nghiệp trong nước. Điều này có thể được giải thích là do mức độ đầu tư nước ngoài tại
Venezuela có thể quá thấp, hoặc nền kinh tế chưa phát triển đầy đủ hoặc đa dạng hóa,
để nhận được lợi ích to lớn từ sự hiện diện nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Yếu
tố lan tỏa có thể lớn hơn tại những nền kinh tế định hướng xuất khẩu như ở Đông Á.
Ghosh (2003): Phân tích dựa trên cuộc khủng hoảng tại Malaysia vào những năm
1997. Về hiện tượng của dòng vốn tới tăng trưởng kinh tế và khủng hoảng tài chính ở
các nước Đông Nam Á nói chung và Malaysia nói riêng. Bài viết tìm cách giải thích
việc dòng vốn không được kiểm soát tại một nền kinh tế mở sẽ dẫn đến tăng trưởng
không bền vững. Tác giả thấy rằng: Tốc độ tăng trưởng của đầu tư đã vượt quá tốc độ
tăng trưởng của tiết kiệm trong một thời gian dài trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra.
Điều này đã dẫn đến (i) tăng trưởng không có cơ sở từ thu nhập và sự gia tăng lạm
phát; (ii) có sự phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài và (iii) gia tăng các nghĩa vụ
với nước ngoài cũng như vay nợ bên ngoài. Do đó, việc tăng trưởng này là không bền
vững. Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (1993) cho thấy tăng trưởng kinh tế ở
một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia và Singapore chủ yếu theo định
GDP để đại diện cho chỉ số phát triển tài chính. Mục tiêu của nghiên cứu để chứng
minh FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không là còn phải phụ thuộc vào một số đặc
14
điểm chính của nước chủ nhà, hoặc khả năng hấp thụ nguồn vốn. Một trong những yếu
tố quyết định đến việc FDI có khích thích tăng trưởng kinh tế hay không đó là yếu tố
thị trường tài chính nội địa có vững mạnh và phát triển. Kết luận của bài nghiên cứu là
thị trường tài chính phát triển sẽ giúp gia tăng sự lan truyền công nghệ kỹ thuật tới các
doanh nghiệp nội địa. Tác giả đưa ra các lý do sau để giải thích cho kết luận vừa nêu
trên:
Thứ nhất, hệ thống tài chính ảnh hưởng đến việc phân bổ các nguồn lực tài chính một
cách hiệu quả tới các dự án đầu tư. Hệ thống tài chính có thể đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế thông qua hai kênh chính đó là: Một mặt, nó huy động tiết kiệm; điều này làm
gia tăng nguồn lực tài chính sẵn có để tài trợ đầu tư. Mặt khác, nó sàng lọc và giám sát
các dự án đầu tư; điều này góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của các dự án. Việc hệ
thống tài chính trong nước phát triển hơn sẽ có khả năng huy động tiết kiệm nhiều hơn,
rà soát và giám sát các dự án đầu tư tốt hơn, do đó góp phần tăng trưởng kinh tế cao
hơn.
Thứ hai, Các doanh nghiệp trong nước do các yếu tố như nhu cầu sản xuất, sự cạnh
tranh hay do có sự liên kết với nước ngoài nên họ cần nâng cấp công nghệ hiện có.
Nhưng các đầu tư liên quan đến nâng cấp hoặc áp dụng các công nghệ mới thì có nhiều
rủi ro hơn so với các dự án khác và thường những dự án như vậy cần tiêu tốn một
lượng vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Chính hệ thống tài chính nói chung và các tổ chức tài
chính chuyên biệt nói riêng, có thể giúp giảm thiểu những rủi ro và tài trợ cho những
dự án này, từ đó kích thích các doanh nghiệp trong nước thực hiện việc nâng cấp các
công nghệ hiện có hoặc áp dụng công nghệ mới được giới thiệu từ các công ty nước
ngoài. Vì vậy, các tổ chức tài chính ảnh hưởng tích cực đến tốc độ đổi mới công nghệ,
do đó nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế.
khả năng chia sẻ và đa dạng hóa rủi ro để tăng cường cải tiến hàng hóa trung gian.
Hermes và Lensink (2003): nghiên cứu mẫu 67 quốc gia giai đoạn 1970-1995, sử dụng
chỉ số LCREDP là Log tỷ số khoản tín dụng ngân hàng cung cấp cho khu vực tư nhân
16
trên GDP đã trình bày phần 2.1. Kết quả nghiên cứu cho thấy lĩnh vực tài chính có thể
xác định mức độ mà các công ty nước ngoài có thể để mở rộng các đầu tư của họ ở
nước sở tại, điều này sẽ làm gia tăng sự lan truyền công nghệ tới các doanh nghiệp nội
địa. Do đó, quá trình khuếch tán này sẽ có hiệu quả hơn một khi nước sở tại có thị
trường tài chính phát triển hơn, vì điều này cho phép các công ty con của một tập đoàn
đa quốc gia xây dựng đầu tư một khi nó gia nhập vào nước sở tại.
Bordo và Meissner (2006) đi xem xét vai trò của nợ ngoại tệ trong các cuộc khủng
hoảng tài chính, trong giai đoạn 1880-1913 và 1972-1997 tại một số quốc gia trên thế
giới. Bài nghiên cứu đi tìm hiểu các cuộc khủng hoảng nợ, khủng hoảng tiền tệ, khủng
hoảng ngân hàng và mối tương quan giữa các loại khủng hoảng này. Các khoảng nợ
ngoại tệ là rất nguy hiểm cho nền kinh tế, đặc biệt nếu không được quản lý chặt chẽ.
Tuy nhiên, tác giả tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng việc tiếp xúc với nợ ngoại tệ lớn
chưa chắc đã dẫn tới việc xảy ra khủng hoảng nợ, khủng hoảng tiền tệ hay ngân hàng,
mà theo lẽ thường thì việc tiếp xúc cao với rủi ro về nợ ngoại tệ sẽ dễ dẫn tới khủng
hoảng nợ. Kết quả thống kê của bài nghiên cứu cho thấy tại các nước như Canada,
Australia, Mỹ, New Zealand có mức độ tiếp xúc với rủi ro vay nợ ngoại tệ cao (khoảng
50-60%) nhưng các nước này lại ít xảy ra khủng hoảng. Bởi vì các quốc gia này có hệ
thống tài chính vững mạnh, các tổ chức tài chính phát triển và phần lớn việc vay mượn
là để đầu tư sản xuất. Vì vậy, một quốc gia có hệ thống tài chính hiệu quả sẽ ít nhạy
cảm với rủi ro khi một cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra trong bối cảnh rối loạn kinh tế
và chống chọi bền bỉ hơn khi đối mặt với cuộc khủng hoảng xảy ra.
Manoel Bittencourt (2011), đi nghiên cứu thực nghiệm để xem liệu phát triển tài chính
có thực sự thúc đẩy kinh tế như lý thuyết của Schumpeter đã nói. Tác giả đi kiểm tra