PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở nước ta nhằm xây dựng một nền kinh tế
hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đă thu được nhiều thành quả tốt đẹp.
Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển tương đối ổn định và dần
chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá -
hiện đại hoá và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Trong cơ chế
mới này, thuế được nhìn nhận là một công cụ hữu hiệu của Nhà
nước để điều tiết nền kinh tế. Thuế vừa đáp ứng được nguồn thu
cho ngân sách, vừa thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, kích
thích đầu tư, đồng thời góp phần đảm bảo công bằng xă hội.
Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia không thể tự
tách mình ra khỏi đời sống kinh tế thế giới. Hệ thống pháp luật
thuế của mỗi quốc gia không những phải đáp ứng các điều kiện
kinh tế - xă hội của đất nước mà đi hỏi phải có sự tương thích nhất
định với hệ thống pháp luật thuế các nước trong khu vực và quốc
tế. Lựa chọn áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thay thế
“thuế lợi tức” là một trong những minh chứng khẳng định chính
sách hội nhập của Nhà nước ta. Nền kinh tế nước ta đang trong
thời kỳ chuyển đổi, các quan hệ kinh tế phát triển với tốc độ nhanh
chóng. Do đó, hệ thống pháp luật thuế cần phải thay đổi để phản
ánh kịp thời “hơi thở” thời đại.
Chiến lược phát triển kinh tế năm 2001 - 2010 được nêu
trong văn kiện Đại hội Đảng: “Tạo môi trường pháp luật bình
đẳng, thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh, hợp tác để
phát triển; tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù hợp theo hướng
đơn giản, thống nhất, không phân biệt đầu tư trong nước, đầu tư
nước ngoài, nuôi dưỡng nguồn thu, hiện đại hoá công tác thu
thuế của Nhà nước”. Thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng
không thể tách riêng khỏi hệ thống pháp luật và đi hỏi chủ trương
hoàn thiện hơn nữa pháp luật thuế TNDN.
Xuất phát từ mục đích đó, tiểu luận có ba nhiệm vụ là:
- Hệ thống hoá khái niệm, đặc điểm, lịch sử phát triển của
thuế TNDN nói chung và pháp luật thuế TNDN nói riêng;
- Sau đó, tiểu luận nêu ra những điểm mới của Luật thuế
TNDN 2008, đồng thời phân tích bình luận những ưu, nhược điểm
của các chế định cụ thể của pháp luật thuế TNDN hiện hành, tập
trung vào các vấn đề gây tranh căi hiện nay và thực tế bộc lộ
những hạn chế cần hoàn thiện;
- Cuối cùng, trên cơ sở phân tích những vấn đề của pháp luật
thuế TNDN, tiểu luận đưa ra những ư kiến đóng góp cho việc hoàn
thiện pháp luật thuế TNDN cho phù hợp với điều kiện kinh tế Việt
Nam cũng như xu hướng chung của thế giới.
3. Kết cấu của đề tài
Tiểu luận gồm có những nội dung chính sau đây:
- Phần một: Phần mở đầu
- Phần hai: Phần nội dung:
+ Khái quát chung về thuế TNDN và pháp luật thuế
TNDN;
+ Thực trạng pháp luật thuế TNDN tại Việt Nam;
+ Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế TNDN.
- Phần ba: Phần kết luận, tài liệu tham khảo.
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương I: Khái quát chung về thuế thu nhập doanh
nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát
triển của thuế . Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập
doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn
định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu
nhập.
trong giai đoạn mới
3. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường
· Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà
nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo
công bằng xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các
thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng
trên cơ sở pháp luật. Các doanh nghiệp với lực lượng lao động có
tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu
thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các doanh
nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ
nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế
nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm
công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm
bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách
Nhà nước được công bằng, hợp lý.
· Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của
ngân sách Nhà nước.
Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm
cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi
nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn
định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ
thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại
nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân
sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng
dồi dào.
· Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp
phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
vào trong giá bán của hàng hoá, dịch vụ.Vì thế, người chịu thuế,
người nộp thuế là không đồng nhất (người tiêu dùng là người chịu
thuế, người kinh doanh hàng hoá, cung ứng dịch vụ là người nộp
thuế). Đối với thuế tài sản là loại thuế đánh vào thu nhập tích luỹ
đă được vật hoá dưới dạng tài sản của tổ chức, cá nhân trong xă
hội. Về bản chất, thuế tài sản cũng là thuế trực thu nhưng có đối
tượng đánh thuế là tài sản. Mặc dù, tài sản và thu nhập đều là của
cải của một chủ thể có được nhờ những nguồn lợi thu được từ các
hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có sự khác nhau, cụ
thể: tài sản là khối lượng của cải của một chủ thể ở một thời điểm
nào đó, c̣n thu nhập là số của cải thu được của một chủ thể trong
khoảng thời gian nhất định. Như vậy, thu nhập của một thời kỳ sẽ
không bao gồm thu nhập ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ thì
bao gồm tất cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại. Vì vậy,
khái niệm “tài sản” phải gắn với yếu tố thời điểm, c̣n khái niệm
“thu nhập” gắn với yếu tố khoảng thời gian nhất định;
Thứ hai: thuế TNDN là thuế trực thu, ngoài mục tiêu tạo nguồn
thu cho NSNN, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu
nhập xă hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xă hội của
Nhà nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có
những quy định về chế độ ưu đăi, miễn, giảm thuế để đảm bảo
chức năng khuyến khích của thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp
dụng đánh thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với một số
khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu điều tiết;
Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập
chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát
sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn
định của thu nhập… Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải
xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi
tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối
Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam để áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã khắc phục sự khác biệt đối xử
trong ưu đãi đầu tư, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc
đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng phát triển, góp
phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao trong những năm vừa
qua.
- Thứ hai: Góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN.
Mặc dù đã hạ mức thuế và áp dụng các mức ưu đãi cao nhưng số
thu NSNN về thuế TNDN vẫn bảo đảm tăng trưởng do có tác động
cải thiện môi trường đầu tư, doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài đều phát triển về số lượng, quy mô và
hiệu quả kinh doanh, mức thuế hợp lý tác động đến việc tự giác sự
tuân thủ tốt hơn Trong giai đoạn 2004 – 2007, số thu thuế
TNDN (không kể thu từ dầu khí) đạt mức bình quân trên 30 ngàn
tỷ đồng/năm với mức tăng trưởng bình quân hàng năm gần 17%.
Luật thuế TNDN đã góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của
NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng về đầu tư phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng của đất
nước.
- Thứ ba: thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và ưu
đãi đầu tư: Luật thuế TNDN áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự tính,
tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của
số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuế tính thuế, thông
báo thuế, quyết toán thuế. Việc ban hành và thực thi Luật thuế
TNDN đã đánh dấu một bước tiến về cải cách thủ tục hành chính
trong quản lý thuế và đầu tư khi đề cao trách nhiệm của doanh
nghiệp trong việc lựa chọn, xác định điều kiện và mức ưu đãi thuế
mà không cần giấy phép, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Nhờ việc
chuyển sang cơ chế mới, cơ quan thuế có điều kiện tập trung
Chương III: Những vấn đề cần được xem xét, hoàn thiện.
Giải pháp 1: Về phạm vi điều chỉnh của Luật
Ngày 21 tháng 11 năm 2007, Quốc hội đã thông qua Luật thuế thu
nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, trong đó các
cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế TNDN được chuyển sang
nộp thuế theo Luật thuế thu nhập cá nhân. Trước đó, Luật quản lý
thuế (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007) đã quy định các nội
dung về quản lý thuế bao gồm đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế,
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm thuế TNDN.
Vì vậy, Luật thuế TNDN sửa đổi lần này chỉ quy định về các nội
dung chính sách để bảo đảm sự thống nhất về thể thức văn bản
Luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Dự thảo Luật đề nghị bổ sung 01 điều quy định về phạm vi điều
chỉnh của Luật : đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập
được miễn thuế, căn cứ tính thuế, cách tính thuế và ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp.
Giải pháp 2: Về đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế TNDN theo Dự thảo Luật này chỉ còn bao gồm
các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Hiện nay, ở nước ta đã có các tổ chức thuộc Hội khuyến nông, Hội
khuyến học, Hội người cao tuổi, Hội bảo trợ người tàn tật và các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài được phép hoạt động tại Việt
Nam (Hội đồng Anh, Cộng đồng Pháp ngữ, Trung tâm giáo dục
của Hội đồng Bộ trưởng các nước ASEAN, ). Đây là các tổ chức
có tham gia tích cực vào một số lĩnh vực của đời sống xã hội, cung
cấp một số dịch vụ công mang tính tự nguyện, từ thiện (đào tạo, tư
vấn đời sống, pháp luật, hoạt động giao lưu, phát triển văn hoá,
nghiên cứu khoa học ). Thu nhập từ hoạt động của các tổ chức
này được sử dụng cho mục đích, tôn chỉ được pháp luật thừa nhận
như nêu trên, mà không phân chia. Tuy nhiên, Luật thuế TNDN và
định của Luật đất đai, các trường hợp được giao đất để kinh doanh
bất động sản phải thực hiện đấu giá đất, nộp theo giá đất sát giá thị
trường nên không còn lợi nhuận siêu ngạch để thu bổ sung. Mặt
khác, hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm cả việc bán nhà,
tài sản gắn với việc chuyển quyền sử dụng đất nên khó có thể xác
định riêng thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất với thu nhập từ
bán tài sản trên đất. Vì vậy, để phù hợp với thực tế, nay đề nghị bỏ
quy định thu bổ sung đối với chuyển quyền sử dụng đất mà áp
dụng chính sách riêng đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất
động sản, bao gồm cả chuyển nhượng đất và tài sản trên đất. Thu
nhập này không được áp dụng ưu đãi thuế.
- Về thu nhập miễn thuế: Luật hiện hành quy định thu nhập được
miễn thuế tại nhiều điều khác nhau như tại Điều 2 quy định miễn
thuế đối với thu nhập từ nông nghiệp của hợp tác xã ; Điều 19 quy
định miễn thuế đối với một số loại thu nhập từ thực hiện hợp đồng
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ kỹ thuật trực
tiếp phục vụ nông nghiệp,… . Ngoài ra, còn có một số loại thu
nhập xét về bản chất và ý nghĩa đối với kinh tế xã hội thì cần xem
xét không thu thuế, như: thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động
góp cổ phần, liên doanh liên kết (đã nộp thuế tại đơn vị nhận vốn
góp), các khoản tài trợ nhận được của tổ chức có thu nhập không
chia dùng cho hoạt động từ thiện, nhân đạo, văn hoá, giáo dục,
nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội khác vì
mục tiêu hoà bình, hữu nghị, phát triển kinh tế - xã hội; thu nhập
do người sau cai nghiện làm ra.
Để phù hợp với thực tế nêu trên, bảo đảm rõ ràng, minh bạch và
thể hiện được chính sách điều tiết đối với từng loại thu nhập, Dự
thảo Luật lần này đề nghị quy định rõ thu nhập chịu thuế, thu nhập
được miễn thuế (không phải tính thuế) và thu nhập tính thuế trên
cơ sở sắp xếp lại các Điều 2, Điều 19 của Luật hiện hành. Các nội
định cụ thể đối với thu nhập nhận được ở nước ngoài.
Đến nay, ta đã tham gia nhiều cam kết quốc tế ở cấp Chính phủ có
liên quan đến thuế TNDN như: xác định nghĩa vụ thuế đối với
doanh nghiệp nước ngoài để bảo đảm quyền thu thuế của Việt
Nam, quy định về tránh đánh thuế hai lần, Qua tổng kết, đánh giá
cho thấy các cam kết này đã được thực hiện ổn định và đi vào cuộc
sống thời gian qua nhưng chưa được thể hiện rõ trong Luật thuế
TNDN. Vì vậy, cần phải đưa các nội dung cam kết này vào Luật
thuế TNDN để đảm bảo tính minh bạch và pháp lý cao hơn.
Giải pháp 6: Về nơi nộp thuế TNDN
Luật thuế TNDN quy định doanh nghiệp kê khai, nộp thuế tại tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương nơi đóng trụ sở chính. Quy định
này là phù hợp với giai đoạn vừa qua là doanh nghiệp thường có
trụ sở điều hành tại địa bàn địa phương nơi kinh doanh. Luật quản
lý thuế tiếp tục kế thừa quy định nộp thuế TNDN tại nơi đóng trụ
sở chính trong Luật thuế TNDN và đã tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp trong hạch toán tập trung, điều hành.
Tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp thường có cơ sở kinh doanh
tại nhiều địa phương khác với địa phương đặt trụ sở chính. Tại
những nơi này, chính quyền địa phương phải cung cấp nhiều dịch
vụ phục vụ cho sản xuất – kinh doanh như: bệnh viện, trường học,
nhà ở công nhân, vệ sinh môi trường, trật tự trị an nhưng không
có nguồn thu vì thuế TNDN được nộp tại nơi đóng trụ sở chính. Để
giải quyết vấn đề này nhằm đảm bảo sự hài hoà mối quan hệ giữa
quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp với các địa phương nơi
doanh nghiệp mở các nhà máy, cơ sở sản xuất hoặc thực hiện hoạt
động sản xuất kinh doanh cần sửa đổi quy định về việc nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp theo hướng tạo điều kiện cho doanh nghiệp
thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách địa phương.
Giải pháp 7: Về thuế suất và ưu đãi thuế
tư nước ngoài trước đây. Đối với lĩnh vực, Trung quốc chỉ còn ưu
tiên cho doanh nghiệp có công nghệ cao đồng thời là công nghệ
mới; đối với địa bàn Trung quốc chỉ có ưu đãi thuế cho các doanh
nghiệp đầu tư vào các vùng tự trị và khó khăn ở phía Tây;
Singapore đã hạ thuế suất thuế TNDN từ 20% xuống còn 19%;
Philipines giảm từ 35% xuống 30%.
Vì vậy để khuyến khích tổng thể nền kinh tế, tạo thuận lợi cho
cộng đồng doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ, thêm
nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và cũng là tăng
khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực, dự thảo Luật dự
kiến hạ mức thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25%, bỏ thu thuế
bổ sung đối với thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
chuyển quyền thuê đất để áp dụng chung mức thuế suất của hoạt
động kinh doanh bất động sản.
Về ưu đãi thuế: Để thống nhất không phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài,
các quy định về ưu đãi thuế được tổng hợp từ tất cả các văn bản
pháp luật ban hành từ lúc nền kinh tế nước ta mới mở cửa, môi
trường đầu tư kém hấp hẫn, cơ sở hạ tầng còn khó khăn, trên
nguyên tắc chọn mức ưu đãi cao nhất, thuận lợi nhất.
Các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nêu trên đã phát
huy tác dụng tích cực trong cải thiện môi trường đầu tư trong
những năm đầu mới ban hành. Tuy nhiên, trước thực tế phát triển
kinh tế, xã hội thì chính sách ưu đãi này ngày càng bộc lộ nhược
điểm dàn trải, phức tạp; chưa đáp ứng được yêu cầu là công cụ
phân bổ nguồn lực để phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất
là các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Do ưu đãi dàn trải vừa theo ngành nghề, lĩnh vực, vừa theo địa bàn
(90% số lượng ngành kinh tế cấp II được hưởng ưu đãi thuế; 32%
số huyện thuộc diện ưu đãi và 24% số huyện thuộc diện đặc biệt
kinh tế - xã hội khó khăn như hiện hành. Đồng thời bỏ mức thuế
suất 15% là mức thuế suất hiện hành chủ yếu áp dụng đối với các
dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư và thực hiện tại địa bàn
có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn để vừa đơn giản, vừa tạo sức
hấp dẫn của các mức ưu đãi 10% và 20% như nêu trên.
+ Các trường hợp đầu tư mở rộng, đầu tư theo chiều sâu sẽ được
trích khấu hao nhanh hơn so với mức thông thường thay thế cho
việc giảm thuế hiện nay để bảo đảm tính khả thi và minh bạch.
+ Thời gian bắt đầu tính ưu đãi thuế là năm đầu tiên có doanh thu.
+ Ngoài ra, dự thảo Luật còn quy định ưu đãi mới cho tất cả các
doanh nghiệp: được trích đến 10% thu nhập trước khi tính thuế
hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, như quy
định tại Điều 45 của Luật chuyển giao công nghệ nhằm tạo thuận
lợi, khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư phát triển, ứng
dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị (đã được Chính phủ nhất trí
trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội).
Xét về mặt tổng thể, việc thiết kế thuế suất và các ưu đãi thuế nêu
trên đảm bảo duy trì được chính sách ưu đãi hiện hành (thậm chí
còn ưu đãi cao hơn), tạo được động lực khuyến khích mới cho toàn
bộ nền kinh tế như Chương trình cải cách thuế đến năm 2010 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau khi Bộ Chính trị đã có ý
kiến. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách ưu đãi này khắc phục được
các hạn chế, tồn tại của chính sách hiện hành về tính phức tạp, dàn
trải và hạn chế trong việc ưu tiên phân bổ nguồn lực cho vùng đặc
biệt khó khăn. Đồng thời, hệ thống ưu đãi này bảo đảm cải thiện
được môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta phù hợp với xu
thế của các nước trên thế giới và trong khu vực, nâng cao tính cạnh
tranh cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế.
Việc điều chỉnh giảm thuế suất và sắp xếp lại ưu đãi thuế như trên
đây về cơ bản bảo đảm sẽ không ảnh hưởng đến số thu ngân sách.