BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VŨ NHẬT TÂN
SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ ĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VŨ NHẬT TÂN
SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ ĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CỦA
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LẠM PHÁT ..................................................... 3
1.1. Lý thuyết về lạm phát .................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm và đo lường lạm phát ................................................. 3
1.1.2. Phân loại lạm phát........................................................................ 4
1.1.3. Nguyên nhân gây nên lạm phát................................................ 6
1.1.4. Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế .......................... 8
1.2. Lãi suất – một công cụ của chính sách tiền tệ.............................. 9
1.3. Tổng quan các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ đến lạm
phát ...................................................................................................... 12
1.3.1. Khái niệm và cơ chế truyền dẫn lãi suất của chính sách tiền tệ
.............................................................................................. 12
1.3.2. Các nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ lên lạm phát ở nước
ngoài ................................................................................................... 14
1.3.3. Các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ lên lạm phát ở Việt
Nam .................................................................................................... 15
1.4. Giới thiệu về mô hình VAR ........................................................... 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG I .......................................................................... 21
Chương 2: PHÂN TÍCH SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CỦA CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM ............................ 22
2.1. Giới thiệu về công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam................... 22
2.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ ...................................................... 22
2.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ .................................................. 22
2.1.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam ......................... 23
Chữ viết tắt
Nội dung
ADF
Kiểm định Dickey – Fuller mở rộng
CPI
Consumer Price Index - Chỉ số giá tiêu dùng
FDI
Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FED
Federal Reserve System - Cục dự trữ liên bang Mỹ
GDP
Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR
Incremental Capital - Output Ratio - Hệ số sử dụng vốn
IMF
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1-1: Lạm phát cầu kéo qua mô hình tổng cung, tổng cầu ............................. 6
Hình 1-2: Lạm phát chi phí đẩy qua mô hình tổng cung, tổng cầu........................ 7
Hình 2-1: Tỷ lệ lạm phát của Việt nam giai đoạn 2007 – 2013 ............................. 26
Hình 2-2: Biểu đồ giá cả hàng hóa thế giới. giá lương thực và giá dầu thô giai đoạn
từ 10/2006 – 12/2011 ............................................................................................. 29
Hình 2-3: Chỉ số ICOR Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013...................................... 30
Hình 2-4: Kiểm định tính ổn định của mô hình bằng kiểm định AR Root ............ 37
Hình 2-5: Phản ứng của GDP trước cú sốc LSCB ................................................. 39
Hình 2-6: Phản ứng của CPI trước cú sốc LSCB ................................................... 40
Hình 2-7: LSCB chịu sự tác động của CPI ............................................................ 41
Hình 2-8: Phản ứng của GDP trước cú sốc cung tiền M2...................................... 42
Hình 2-9: Phản ứng của CPI trước cú sốc cung tiền M2 ....................................... 43
Hình 2-10: Phản ứng của GDP trước cú sốc LSTCV ............................................ 44
Hình 2-11: Phản ứng của CPI trước cú sốc LSTCV .............................................. 44
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2-1: Bảng tính giá trị tương đương 1 triệu đồng giai đoạn 2007 - 2013 ...... 26
Bảng 2-2: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến ............................................ 35
Bảng 2-3: Kiểm định tính dừng phần dư của các biến ........................................... 38
Bảng 2-4: Phân rã phương sai của biến GDP......................................................... 45
Bảng 2-5: Phân rã phương sai của biến CPI .......................................................... 46
1
LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của đề tài là bằng phân tích định lượng để phân tích cơ chế truyền dẫn
lãi suất của chính sách tiền tệ, đồng thời đánh giá được tầm quan trọng và tác động
của kênh này lên lạm phát. Từ đó kết luận thông qua các yếu tố tác động như trên thì
NHNN có thể ban hành lãi suất chính sách phù hợp để đạt được lạm phát kỳ vọng
hay không. Câu hỏi nghiên cứu được đưa ra là: có sự truyền dẫn lãi suất từ lãi suất
chính sách tiền tệ đến lạm phát ở Việt Nam hay không và yếu tố nào của chính sách
tiền tệ là tác động mạnh nhất đến lạm phát ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: kiểm định tác động của kênh truyền dẫn lãi suất của chính
sách tiền tệ đến lạm phát bằng mô hình VAR.
Phạm vi nghiên cứu: lạm phát Việt Nam từ quý 1 năm 2000 đến quý 3 2014.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng bằng cách sử dụng mô hình Vectơ tự hồi quy VAR, phân
tích cơ chế truyền tải của các cú sốc thông qua các hàm phản ứng xung động
(Impulse response function - IRF), đánh giá tầm quan trọng của các cú sốc của
các biến trong việc giải thích cho sự biến động của 1 biến trong mô hình
thông qua chức năng phân rã phương sai (Variance decomposition). Các dữ liệu
được lấy từ website tổng cục thống kê, ngân hàng nhà nước Việt Nam và các dữ liệu
khác được tác giả thu thập và tổng hợp. Nghiên cứu sử dụng kết quả được phân tích
bằng chương trình Eview 8.0 sẽ được trình bày chi tiết trong đề tài.
Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ kiểm định được mức độ tác động, tốc độ tác
động của kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ đến lạm phát; là tài liệu tham khảo để
các nhà hoạch định chính sách sử dụng để gia tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ.
Để biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu
phần trăm so với mức giá của năm cơ sở người ta dùng chỉ số giảm phát GDP (GDP
deflator), hay còn gọi là chỉ số điều chỉnh GDP, ký hiệu là DGDP.
=
ℎ
ℎự
ℎĩ
ế
100% =
∑
∑
100%
Với P Q là giá và sản lượng của hàng hóa hay dịch vụ i ở năm t,
4
P là giá của hàng hóa hay dịch vụ i ở năm gốc.
Lạm phát cơ bản (Core Inflation) là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giá
mang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời. Chỉ số lạm phát
cơ bản được tính trên chỉ số CPI sau khi loại bỏ một số nhóm hàng hoá và dịch vụ
mà giá của chúng phản ánh sai lệch sự biến động mức giá chung. Ngoài ra để đánh
giá lạm phát người ta còn sử dụng các chỉ số khác như: chỉ số giá sản xuất (PPI –
Production Price Index), chỉ số giá bán buôn (WPI – Whosesale Price Index), chỉ số
tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực tế của
người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính
xác, các yếu tố thị trường bị biến dạng và hoạt động sản xuất kinh doanh lâm vào tình
trạng rối loạn, mất phương hướng. Tóm lại, siêu lạm phát làm cho đời sống và nền
kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng.
Căn cứ vào định tính
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng: lạm phát được gọi là cân
bằng khi nó tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động, tăng phù hợp
với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó không gây ảnh hưởng
đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nền kinh tế nói chung. Ngược lại
lạm phát không cân bằng tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động,
trên thực tế đây là loại lạm phát thường hay xảy ra.
Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường: lạm phát dự đoán trước là
loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn
định đều đặn. Khi đó người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn
bị trước để dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát trong các năm tiếp theo. Do đó không
gây ảnh hưởng đến đời sống, đến kinh tế. Lạm phát bất thường xảy ra đột biến mà có
thể từ trước chưa xuất hiện .Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người
dân vì họ chưa kịp thích nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối
với nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính phủ có phần giảm sút. Trong thực
6
tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước ta đang phát triển thường diễn ra
trong thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn. Các nhà kinh
tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau: lạm phát kinh niên kéo dài trên
3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm, lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài
hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ
lệ lạm phát trên 200% một năm .
kỳ vọng hàm ý lạm phát của năm nay sẽ bằng lạm phát của năm trước hoặc lạm phát
trung bình của một thời kỳ trước đó. Lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng lớn ở những
nước thường xảy ra lạm phát ở mức cao như Việt Nam. Chính mức độ cao và dai
dẳng của lạm phát quá khứ đã dần hình thành mức độ kỳ vọng lạm phát cao trong
người dân và có thể dẫn đến khả năng kiểm soát của Chính phủ sẽ rất khó khăn.
8
1.1.4. Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
Tác động tiêu cực
Chi phí mòn giày: vì lạm phát làm giảm giá trị thực tế của số tiền mặt mà chúng
ta nắm giữ, để tránh sự mất giá của đồng tiền một trong những cách để thực hiện điều
đó là giữ ít tiền mặt hơn và đến ngân hàng thường xuyên hơn để gửi tiền. Chi phí bỏ
ra để giảm lượng tiền nắm giữ được gọi là chi phí mòn giày của lạm phát. Vì phải
đến ngân hàng thường xuyên hơn nên giày bị mòn nhanh hơn, đây là cái giá mà chúng
ta phải trả so với khi không có lạm phát.
Chi phí thực đơn: hầu hết các doanh nghiệp không thay đổi giá hằng ngày, mà
thường thông báo giá và giữ giá ổn định bởi vì họ phải chịu chi phí cho việc thay đổi
giá. Các chi phí này bào gồm chi phí in bảng giá mới, chi phí in catalogue giới thiệu
sản phẩm mới, chi phí gửi bảng giá mới cho khách hàng... Chi phí cho việc thay đổi
giá gọi là chi phí thực đơn, một thuật ngữ rút ra từ chi phí in thực đơn mới của các
nhà hàng. Khi lạm phát tăng cao thì làm chi phí thực đơn tăng lên do doanh nghiệp
phải thay đổi bảng giá mới để đảm bảo lợi nhuận.
Những biến dạng của Thuế do lạm phát gây ra: các nhà kinh tế đã nghiên cứu
các luật thuế và kết luận rằng lạm phát có xu hướng làm tăng gánh nặng thuế đánh
vào các khoản thu nhập kiếm được từ tiết kiệm, lạm phát càng cao thì càng có xu
hướng làm giảm động cơ tiết kiệm. Khi tiết kiệm giảm làm đầu tư giảm kéo theo tăng
trưởng kinh tế giảm. Vì vậy, khi lạm phát làm tăng gánh nặng thuế đánh vào các
khoản tiết kiệm, nó có xu hướng làm giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
nghĩa là lãi suất thực sẽ âm thì họ sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu
tư vào bất động sản hoặc chứng khoán để bảo vệ sức mua. Điều này sẽ tạo nên bong
bóng trên thị trường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng gia
tăng; vì thế lãi suất thực là một biến số quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết
định tiêu dùng, đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời cũng là biến số tác
động đến kỳ vọng lạm phát. Do đó NHNN các nước thường kiểm soát kỳ vọng lạm
phát thông qua xu hướng của lãi suất thực. Thông thường, NHNN sẽ bắt đầu tăng tỷ
lệ lãi suất dần dần khi lạm phát tiến gần tới lãi suất tiền gửi danh nghĩa. Điều này phát
đi một tín hiệu là NHNN sẽ có khuynh hướng duy trì chính sách lãi suất thực dương.
Dấu hiệu này cũng sẽ làm suy yếu các kỳ vọng của thị trường về lãi suất thực âm và
tăng giá của tài sản.
10
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng
của lãi suất lên tổng cầu. Trong tổng cầu có hai yếu tố sẽ chịu tác động trực tiếp của
việc thay đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư. Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống khi
lãi suất tăng lên là do giá cả của việc vay mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt đỏ
hơn. Đối với đầu tư, chi phí vay mượn tăng làm cho khả năng sinh lời của các khoản
đầu tư trở nên thấp hơn. Vì thế mà việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm mức độ đầu
tư, tuy nhiên mức độ đầu tư giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so với
lãi suất. Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và nhà
đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại. Sự thay đổi đó được thể hiện bằng sự dịch
chuyển của đường tổng cầu.
John Taylor đưa ra cách tính toán lãi suất danh nghĩa phù hợp trong mối quan
hệ với tăng trưởng và lạm phát - mà giới kinh tế thường gọi là quy tắc Taylor. Quy
tắc Taylor sẽ giúp cho một NHNN xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi
các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn
hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn. Quy tắc Taylor có thể được mô tả theo
cạnh đó, có nhiều cách khác nhau trong việc xác định mức lãi suất trung hòa do các
phương pháp tính và mức lãi suất trung hòa còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế.
Mặt khác, một mức lãi suất trung hòa có thể còn khiến tình trạng mâu thuẫn giữa các
mục tiêu này kéo dài hơn mức cần thiết.
Một vấn đề được quan tâm trong lý thuyết kinh tế khi phân tích các tác động
chính sách, đó là độ trễ thời gian tác động của thay đổi chính sách gắn với các yếu tố
tiền tệ (lãi suất, cung tiền, tỷ giá...) tới các yếu tố vĩ mô như đầu tư, lạm phát. Bởi các
quyết sách chỉ có hiệu quả cao nếu xác định được độ trễ này. Tuy nhiên, đây là một
vấn đề không đơn giản, vì cùng một chính sách nhưng độ trễ tác động là rất khác nhau
trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Có rất nhiều sự thay đổi và không chắc
chắn xung quanh độ trễ thời gian trên. Cụ thể, tác động chính sách sẽ phụ thuộc nhiều
nhân tố khác nhau, như chu kỳ kinh doanh, lòng tin của người tiêu dùng và phản ứng
của họ như thế nào đối với sự thay đổi chính sách, giai đoạn của chu kỳ kinh doanh,
12
các sự kiện trong nền kinh tế thế giới và kỳ vọng về lạm phát trong tương lai. Chẳng
hạn, về nguyên lý chung thì lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, giảm lạm phát, nhưng lãi
suất cũng làm tăng giá thành sản phẩm qua đó tác động làm tăng giá. Vì sự tác động
mang tính hai mặt như vậy, đòi hỏi phải xác định độ trễ tác động này để có những
quyết định sử dụng công cụ lãi suất theo hướng tăng hay giảm cho mục tiêu kiểm soát
lạm phát.
1.3.
Tổng quan các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ đến
lạm phát
1.3.1. Khái niệm và cơ chế truyền dẫn lãi suất của chính sách tiền tệ
nhìn bao quát và đầy đủ về các cơ chế truyền dẫn này. Ông nhấn mạnh khả năng tác
động lên chi phí vay của nền kinh tế bằng công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ. Việc
thay đổi lãi suất sẽ tác động đến lãi suất cho vay dài hạn, khi lãi suất cho vay giảm sẽ
làm giảm chi phí sử dụng vốn, tạo ra một sự tăng lên trong chi tiêu vào đầu tư, từ đó
dẫn đến tăng lên trong tổng cầu và tổng sản lượng.
Lãi suất↓ → Chi phí vay↓ → Đầu tư↑
Theo mô hình IS - LM truyền thống, cơ chế truyền dẫn của kênh lãi suất có thể
được xem xét thông qua hai giai đoạn. Đầu tiên là sự truyền dẫn của lãi suất danh
nghĩa ngắn hạn sang lãi suất thực dài hạn. Tiếp đến là kênh truyền dẫn thông qua đó
tổng cầu và chỉ số giá bị tác động bởi lãi suất thực dài hạn. Giai đoạn đầu tiên, theo
nghiên cứu “RETAIL BANK INTEREST RATE PASS-THROUGH: NEW
EVIDENCE AT THE EURO AREA LEVEL” của Gabe De Bondt (2002) thì sự kết
nối giữa lãi suất danh nghĩa ngắn hạn và lãi suất thực dài hạn được thể hiện rõ nhất
14
qua hình dạng cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Độ dốc và những biến đổi dọc theo đường
cong lãi suất có thể được giải thích do những rủi ro liên quan đến thời gian, vì thị
trường thường mong chờ nhiều “ưu đãi” đối với các loại dài hạn hơn do rủi ro cao;
hay theo thuyết về phân khúc thị trường (lãi suất mỗi kỳ hạn được xác định một cách
độc lập theo quy luật cung - cầu ở mỗi phân khúc kỳ hạn). Giai đoạn tiếp theo là làm
thế nào để lãi suất thực dài hạn tác động lên các biến tổng cầu và mức giá của nền
kinh tế. Cũng trong nghiên cứu trên, De Bondt chỉ ra rằng, lãi suất cho vay của hệ
thống ngân hàng phản ứng chậm chạp trong ngắn hạn, đặc biệt là lãi suất vay qua
đêm, vay ngắn hạn và tiêu dùng. Mặc dù nền kinh tế EU phản ứng một cách không
đồng nhất đối với sự truyền dẫn của lãi suất, tuy nhiên sự xuất hiện của đồng tiền
chung châu Âu Euro đã làm cơ chế truyền dẫn trở nên nhanh chóng hơn. Lý do ở đây
là do sự cạnh tranh tăng lên, chi phí chuyển đổi giảm xuống và sự gia tăng trong độ
co giãn của lãi suất đối với các gói sản phẩm cho vay của ngân hàng tại châu Âu.
Nhóm tác giả Pih Nee Tai, Siok Kun Sek và Wai Mun Har (2012) với nghiên
cứu “Interest Rate Pass-Through and Monetary Transmission in Asia” sử dụng ước
lượng SUR (Seemingly Unrelated Regression - Hệ thống biểu thức gần như không
liên quan) nhằm kiểm tra tính hiệu quả của cơ chế truyền dẫn lãi suất từ lãi suất thị
trường đến lãi suất bán lẻ ở một số nước châu Á, đồng thời tìm hiểu sự khác biệt giữa
truyền dẫn chính sách tiền tệ vào lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Kết quả cho
thấy không có sự khác biệt nhiều giữa truyền dẫn đến lãi suất huy động và cho vay,
tuy nhiên lãi suất huy động lãi suất huy động bị tác động nhiều hơn và các nước có
tỷ lệ điều chỉnh giảm sau cuộc khủng hoảng năm 1997, chứng tỏ hiệu quả thấp của
chính sách tiền tệ.
1.3.3. Các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ lên lạm phát ở Việt
Nam
Vấn đề nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện tại còn khá
mới mẻ, những năm gần đây mới xuất hiện nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này còn
trước năm 2007 các nghiên cứu hầu như là không có (không chỉ ở nghiên cứu định
16
lượng mà cả đối với nghiên cứu định tính). Có thể kể đến những nghiên cứu về truyền
dẫn gần đây ở Việt Nam như sau:
Lê Việt Hùng và Wade Pfau (2008) phân tích cơ chế truyền dẫn chính sách
tiền tệ ở Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình VAR để kiểm định truyền dẫn qua các
kênh lãi suất, tỷ giá và tín dụng. Kết quả là chính sách tiền tệ có tác động đến sản
lượng và lạm phát với tác động mạnh nhất lên sản lượng sau bốn quý; tác động lên
lạm phát kéo dài từ quý thứ 3 đến quý thứ 9. Còn đối với kênh tỷ giá thì không có
nhiều ý nghĩa. Do dữ liệu nghiên cứu được tác giả tổng hợp từ quý 2 năm 1996 đến
quý 4 năm 2005 nên nghiên cứu này hiện tại có ý nghĩa mở đường cho các nghiên
cứu sau này hơn là ý nghĩa để tham khảo cho chính sách vì để phù hợp với yêu cầu
hội nhập thì chính sách tiền tệ của Việt Nam cũng như môi trường kinh tế vĩ mô sau