Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm soát và tính bền vững của lợi nhuận - Bằng chứng thực nghiệm từ các công ty niêm yết tại Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH


HUỲNH THIÊN THẢO

MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN VÀ TÍNH BỀN
VỮNG CỦA LỢI NHUẬN – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
TỪ CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015


TRANG BÌA PHỤ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THIÊN THẢO

MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN VÀ TÍNH BỀN
VỮNG CỦA LỢI NHUẬN – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
TỪ CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu ....................................................................................... 3
1.6 Bố cục của nghiên cứu......................................................................................... 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY ................................................................................... 6
2.1 Cơ sở lý thuyết ..................................................................................................... 6
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán ........ 6
2.1.1.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính ..... 6
2.1.1.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán............................................... 7
2.1.2 Cở sở lý thuyết về lợi nhuận và những thuộc tính đại diện cho chất lượng
lợi nhuận............................................................................................................ 13
2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan trước đây ............................................ 21


2.2.1 Ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán đến thị trường chứng khoán ............. 21
2.2.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và các thuộc tính đặc trưng cho chất
lượng lợi nhuận ................................................................................................. 23
2.3 Giả thuyết nghiên cứu........................................................................................ 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................... 33
3.1 Mô hình và biến nghiên cứu .............................................................................. 33
3.2 Lựa chọn mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu .................................................. 42
3.2.1 Lựa chọn mẫu........................................................................................... 42
3.2.2 Thu thập dữ liệu ....................................................................................... 43
3.3 Phương pháp định lượng ................................................................................... 45
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................... 46
4.1 Thống kê mô tả .................................................................................................. 46
4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến ............................................................ 51
4.3 Phân tích hồi quy ............................................................................................... 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................... 59
5.1. Kết luận............................................................................................................. 59
5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo ............... 60

nhấn mạnh ..................................................................................................................... 50
Bảng 4.7: Bảng thống kê mô tả các biến của loại ý kiến kiểm toán ngoại trừ ........ 50
Bảng 4.8: Ma trận hệ số tương quan ....................................................................... 53
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình 1 ...................................................................... 54
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình 2 .................................................................... 56


1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do nghiên cứu
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, thị trường chứng khoán có vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ và phát triển kinh tế. Thị trường chứng khoán
Việt Nam luôn được xem là một kênh quan trọng để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài
nước cho nền kinh tế; đồng thời cũng là nơi luân chuyển các nguồn vốn đầu tư giúp nâng
cao năng lực quản trị và khả năng sử dụng vốn hiệu quả của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính là một trong những nguồn thông tin quan trọng hàng đầu cho việc
lựa chọn một doanh nghiệp để đầu tư trên thị trường chứng khoán. Nhưng lý thuyết đại
diện lại chỉ ra rằng giữa các nhà quản lý và các đối tượng có liên quan (Stakeholder) luôn
có sự mâu thuẫn lợi ích. Do đó, nó làm cho các đối tượng có liên quan mơ hồ đối với các
con số và dữ liệu được trình bày trong báo cáo tài chính. Để loại bỏ nghi ngờ hoặc sự
không rõ ràng này và để làm cho báo cáo tài chính đáng tin cậy hơn, cần phải có xác
nhận của kiểm toán độc lập. Theo thông tư số 52/2012/TT-BTC hướng dẫn về việc công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán, doanh nghiệp niêm yết phải công bố báo cáo
tài chính năm, báo cáo tài chính bán niên (6 tháng đầu năm) đã được kiểm toán. Doanh
nghiệp niêm yết phải đăng tải toàn văn báo cáo kiểm toán tài chính năm, trên một số tờ
báo có phạm vi phát hành toàn quốc, kèm theo địa chỉ trang thông tin điện tử của doanh
nghiệp có đăng tải báo cáo tài chính để nhà đầu tư tham khảo.
Như vậy, để đảm bảo lợi ích cho những người sử dụng báo cáo tài chính đặc biệt là
các nhà đầu tư, pháp luật quy định là thông tin về báo cáo tài chính do doanh nghiệp

chất càng nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng càng lớn thì công ty đó có mức độ bền
vững trong lợi nhuận càng thấp.
Từ đó, các câu hỏi nghiên cứu được định ra như sau:
Thứ nhất, mức độ bền vững của lợi nhuận có khác nhau giữa những công ty nhận ý
kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán điều chỉnh hay không. Cụ thể hơn, lợi


3

nhuận lợi nhuận của công ty nhận ý kiến kiểm toán điều chỉnh có ít bền vững hơn lợi
nhuận của công ty nhận ý kiến chấp nhận toàn phần hay không.
Thứ hai, mức độ bền vững của lợi nhuận có khác nhau giữa các loại ý kiến kiểm toán
điều chỉnh cụ thể hay không.
Để đơn giản hóa từ ngữ, tác giả sử dụng thuật ngữ “ý kiến kiểm toán điều chỉnh”
(dịch từ “modified audit opinion” trong ISA 705) dùng để thay thế cho “ý kiến kiểm toán
không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần” được quy định trong VSA 705 hiện hành.
Thuật ngữ này chỉ được sử dụng trong phạm vi bài nghiên cứu của tác giả.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán và tính bền vững
trong lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là các công ty phi tài chính được niêm yết trên hai sàn giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) từ năm 2009 trở về
trước và còn giao dịch đến hết năm 2013.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đã nêu, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng theo quy trình: sau khi thu thập đầy đủ dữ liệu của các công ty niêm yết
trên sàn chứng khoán từ 2009 đến 2013, thông qua việc sử dụng công cụ Eview với mô
hình hồi quy OLS, tác giả trình bày và đánh giá kết quả hồi quy thu được về mối quan
hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững trong lợi nhuận của các công ty niêm yết tại
Việt Nam.

THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY


5

Trình bày cơ sở lý thuyết về báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính, các dạng ý kiến
kiểm toán, các thuộc tính đại diện cho chất lượng lợi nhuận. Ngoài ra, tác giả còn tổng
hợp các bài nghiên cứu trước đây về giá trị của báo cáo kiểm toán thông qua phản ứng
của thị trường chứng khoán và khả năng phản ánh chất lượng lợi nhuận của các loại ý
kiến kiểm toán khác nhau. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giả thuyết cho bài nghiên
cứu.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu gồm: mô hình nghiên cứu và các biến
của mô hình, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệu đầu vào, cách
xác định giá trị các biến và các phương pháp định lượng được sử dụng để phục vụ việc
nghiên cứu.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính
bền vững trong lợi nhuận của công ty sau đó tiến hành so sánh và thảo luận về kết quả
kỳ vọng lý thuyết với kết quả đạt được từ mô hình.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN
Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được cùng với các hạn chế của
nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo.


6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY
2.1 Cơ sở lý thuyết

kiểm toán.
Salehi và Abedini (2008) cho rằng báo cáo kiểm toán là một phương tiện truyền thông
giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính, nó cho thấy phần quan trọng
nhất của hoạt động kiểm toán và thể hiện kết quả của việc đánh giá báo cáo tài chính đến
người sử dụng. Đối với kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán là tài liệu trình bày các kết
luận sau cùng về báo cáo tài chính được kiểm toán, nên nó phải đúc kết được toàn bộ
công việc mà họ đã tiến hành. Đối với công chúng, báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối
cùng quan sát được từ một quá trình không thể quan sát nên nó chứa thông tin cốt yếu
cho những người sử dụng báo cáo tài chính để đưa ra những quyết định kinh tế (Butler
và cộng sự, 2004).
2.1.1.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán
Nhằm mục tiêu hướng đến hòa hợp và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và
kiểm toán, Bộ Tài chính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới kèm theo
Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2014. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các công ty niêm yết trên sàn
chứng khoán từ 2009 – 2013 nên báo cáo kiểm toán được thu thập cho bài nghiên cứu
chịu sự chi phối của chuẩn mực kiểm toán trước đây. Phần này trình bày các loại ý kiến
của báo cáo kiểm toán theo hai hệ thống chuẩn mực kiểm toán:
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây (Ban hành và công bố theo Quyết định
120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 09 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và
hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)


8

Theo đoạn 34 VSA 700 trước đây, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra
một trong các loại ý kiến về báo cáo tài chính, như sau:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần;
- Ý kiến chấp nhận từng phần;
- Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến);

được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý
kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào.
Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cũng có thể trình
bày đoạn nhấn mạnh về một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính
nhưng không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên. Các vấn đề thường được kiểm toán
viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với báo cáo tài chính không nhất quán với báo cáo
tài chính, hoặc khi khách hàng còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan
đến các sự kiện hoặc điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông
tin này đã được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính…
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư số
214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính và có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 01/01/2014)
Chuẩn mực kiểm toán hiện hành gồm 37 chuẩn mực, trong đó có ba chuẩn mực quy
định về báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán:
- VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.
- VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần


10

- VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm
toán về báo cáo tài chính.
VAS 700 hiện hành quy định ý kiến kiểm toán gồm hai dạng:
Ý kiến chấp nhận toàn phần khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính được
lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài
chính được áp dụng.
Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán được đưa
ra trong các trường hợp:
- Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn;
- Kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, vẫn

“Vấn đề cần nhấn mạnh” chỉ được đề cập đến các thông tin đã được trình bày hoặc thuyết
minh trong báo cáo tài chính để không làm giảm tính hữu hiệu của nó như:
 Sự không chắc chắn liên quan tới kết quả trong tương lai của các vụ kiện tụng hoặc
các quyết định của cơ quan quản lý;
 Việc áp dụng một chuẩn mực kế toán mới trước ngày có hiệu lực (nếu được phép)
mà việc áp dụng đó có ảnh hưởng lan tỏa đối với báo cáo tài chính;
 Một biến cố lớn đã ảnh hưởng hoặc tiếp tục có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài
chính của đơn vị.
Nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn đề đã
được trình bày hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, mà theo xét đoán của kiểm toán
viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán, về
trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật và các


12

quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trình bày về vấn đề đó trong
báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”.
So sánh hai hệ thống chuẩn mực này về phương diện ý kiến kiểm toán, ta thấy có hai
thay đổi cơ bản:
- Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành gộp ý kiến ngoại trừ, ý kiến
không chấp nhận và ý kiến từ chối đưa ra ý kiến thành dạng ý kiến không phải là ý kiến
chấp nhận toàn phần. Như vậy chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành phân loại ý
kiến kiểm toán thành hai loại chính là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến
kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.
- Thứ hai, khi có yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên quan đến sự kiện có
thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên
thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến có đoạn nhấn mạnh thay vì ý kiến chấp nhận từng phần
dạng tùy thuộc vào. Như vậy, chuẩn mực kiểm toán hiện hành đã loại bỏ ý kiến chấp
nhận từng phần dạng tùy thuộc vào so với chuẩn mực cũ. Sở dĩ có sự loại bỏ này là vì

mục mang thông tin giá trị nhất được cung cấp trong báo cáo tài chính (Lev, 1989). Chỉ
tiêu lợi nhuận thường được sử dụng bởi những chuyên gia phân tích tỷ số để xác định
năng lực quá khứ, hiện tại và tương lai của doanh nghiệp trong việc gia tăng giá trị cho
cổ đông. Doanh nghiệp sẽ khó tồn tại trong điều kiện lợi nhuận liên tục thấp hay thậm
chí là âm. Hơn nữa, lợi nhuận lũy kế lớn là nguồn lực thiết yếu cho tiềm năng tăng trưởng
của một doanh nghiệp. Bằng những nghiên cứu thực nghiệm của mình, Biddle và cộng
sự (1995), Liu và cộng sự (2002), Francis và cộng sự (2003) cũng khẳng định rằng lợi
nhuận là nguồn thông tin đặc trưng nhất về một doanh nghiệp mà các nhà đầu tư tin
tưởng vào nó hơn bất kỳ những thước đo tổng hợp nào khác về kết quả hoạt động như
cổ tức, dòng tiền...
Tóm lại, lợi nhuận được xem là thông tin quan trọng nhất trong báo cáo tài chính nên
chất lượng lợi nhuận cũng là yếu tố quan trọng đối với những quyết định đầu tư. Một


14

doanh nghiệp có lợi nhuận cao chưa hẳn đã tốt hơn một doanh nghiệp có lợi nhuận tuy
thấp hơn nhưng tăng trưởng ổn định hơn qua các kỳ vì điều đó cho thấy lợi nhuậnp của
doanh nghiệp này được kiểm soát và duy trì tốt hơn. Những khoản lợi nhuận đạt được từ
kết quả của sự may mắn sẽ không bao giờ là một lựa chọn để đầu tư. Như vậy lợi nhuận
cao rõ ràng là không quan trọng bằng lợi nhuận có chất lượng cao.
Schipper và Vincent (2003) cho rằng tầm quan trọng của chất lượng lợi nhuận có thể
được giải thích dựa vào ba quan điểm của: nhà đầu tư, người sử dụng các thông tin tài
chính và người thiết lập chuẩn mực kế toán:
+ Từ quan điểm của nhà đầu tư: chất lượng lợi nhuận cung cấp một tín hiệu cho sự
phân bổ nguồn lực. Chất lượng lợi nhuận thấp là điều không được mong đợi vì chúng
làm giảm tăng trưởng kinh tế do phân bổ sai vốn.
+ Từ quan điểm của người sử dụng các thông tin tài chính: lợi nhuận thường được sử
dụng trong các thỏa thuận khen thưởng và trong các khế ước vay. lợi nhuận phóng đại
sẽ được sử dụng như một chỉ số đo lường thành quả quản lý, từ đó dẫn đến việc khen

thước đo hữu ích trong việc đánh giá giá trị công ty.
Tóm lại, chất lượng lợi nhuận vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng nhưng theo các nghiên
cứu trước đây, nếu lợi nhuận thể hiện được một số thuộc tính nhất định mà nhà đầu tư
mong muốn có được ở lợi nhuận thì lợi nhuận được xem là có chất lượng. Có bảy thuộc
tính đại diện cho chất lượng lợi nhuận gồm:


16

1. Chất lượng dồn tích (accrual quality)
2. Tính bền vững (persistence)

Cơ sở kế toán

3. Khả năng dự báo (predictability)

(accounting – based)

4. Tính ổn định (smoothness)
5. Khả năng phản ánh xác thực giá trị (value relevance)
6. Tính kịp thời (timeliness)
7. Tính thận trọng (conservatism)

Cơ sở thị trường
(market – based)

Bảy thuộc tính này được phân loại làm hai nhóm dựa theo cơ sở kế toán (accountingbased) hoặc cơ sở thị trường (market-based). Bốn thuộc tính đầu tiên là theo cơ sở kế
toán vì các thuộc tính này có thể đo lường được dựa vào số liệu trên sổ kế toán. Ba thuộc
tính còn lại được đo lường dựa trên mối tương quan giữa lợi nhuận theo sổ kế toán và
giá trị thị trường; vì vậy nhóm sau được gọi là thuộc tính dựa trên cơ sở thị trường

Kothari, 1989), (Easton và Zmijewski, 1989) cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa
lợi nhuận bền vững và hệ số phản ứng của lợi nhuận với giá cổ phiếu (earnings response
coefficient), kết quả cho thấy rằng các công ty có khả năng duy trì lợi nhuận tốt hơn sẽ
nhận được phản ứng mạnh hơn trong giá cổ phiếu. Bên cạnh đó cũng có một số nghiên
cứu về sự tương quan giữa tính bền vững của lợi nhuận với quyết định khen thưởng
(Baber và cộng sự, 1998), giá trị thị trường trái phiếu (Bhojraj và Swaminathan, 2007)
và sự dễ đọc của báo cáo thường niên (Li, 2008) để cho thấy mức độ quan trọng của
thuộc tính này.
+ Khả năng dự báo (predictability): Lipe (1990) định nghĩa thuộc tính này là khả
năng mà lợi nhuận hiện tại có thể dùng để dự báo lợi nhuận trong tương lai. Khả năng
dự báo được đánh giá cao bởi những người tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà phân
tích tài chính. Họ cho rằng đặc tính này là một thành phần quan trọng trong việc định giá
công ty và dự đoán lợi nhuận, giá cổ phiếu để đưa ra các đề xuất mua bán cổ phiếu. Các
nghiên cứu cho thấy những công ty mà có khả năng dự báo lợi nhuận thấp luôn phải chịu


18

chi phí đi vay cao hơn; nguyên nhân là do sự giới hạn trong khả năng dự báo lợi nhuận
dẫn đến bất cân xứng thông tin và rủi ro cao hơn. Nghiên cứu của Crabtree và Maher
(2005) cung cấp thêm bằng chứng chỉ ra rằng khả năng dự báo lợi nhuận của một công
ty tỷ lệ nghịch với lãi trên trái phiếu, và tỷ lệ thuận với thứ hạng của trái phiếu.
+ Tính ổn định (smoothness): Tính ổn định của lợi nhuận là một thuộc tính quan
trọng, thuộc tính này vẫn luôn nhận được nhiều sự quan tâm trong các tài liệu kế toán.
Trong nhiều nghiên cứu, tính ổn định được xem là lựa chọn thuộc về ban quản trị. Có
nghĩa là, các nhà quản lý sẽ chuyển lợi nhuận trong những năm kinh doanh tốt sang
những năm kinh doanh gặp nhiều khó khăn để lợi nhuận báo cáo không có quá nhiều
biến động giữa các năm (Copeland, 1968). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu có hai cách
giải thích chính cho việc “làm phẳng” lợi nhuận như sau:
Một mặt, một số nhà nghiên cứu (Levitt, 1988; Bhattacharya và cộng sự, 2003) cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status