BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------
HUỲNH THỊ MỸ ANH
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ KHU VỰC
SẢN XUẤT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
TẠI KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. DIỆP GIA LUẬT
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Tác động của phát triển tài chính và khu vực
sản xuất đến tăng trưởng kinh tế - bằng chứng thực nghiệm tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương” là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện và theo sự
hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học: TS. Diệp Gia Luật.
Nội dung nghiên cứu được đúc kết từ quá trình học tập và kết quả nghiên cứu
thực tiễn trong thời gian qua. Các thông tin, dữ liệu nghiên cứu trong đề tài này là
trung thực và chính xác. Các kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại
bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2015
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.2: Kết quả phân tích tự tương quan
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai (VIF)
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình
Bảng 4.6 : Kiểm định tương quan chéo (cross-section independence)
Bảng 4.7: Phát triển tài chính, phát triển khu vực sản xuất và tăng trưởng kinh tế khi
biến đại diện cho phát triển tài chính trong phương trình (1) được thay thế với tín dụng
trong nước cho khu vực tư nhân so với GDP
Bảng 4.8: Phát triển tài chính, phát triển khu vực sản xuất và tăng trưởng kinh tế: sử
dụng R&D như là đại diện cho phát triển của khu vực sản xuất trong giai đoạn 19972014
Bảng 4.9: Phát triển tài chính, khu vực sản xuất và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn
1997 – 2014
Bảng 4.10: Phát triển tài chính, phát triển khu vực sản xuất và tăng trưởng kinh tế bằng
cách sử dụng biến đại diện phát triển tài chính khác trong giai đoạn 1997-2014
Bảng 4.11: Phát triển tài chính, phát triển khu vực sản xuất và tăng trưởng kinh tế sử
dụng các quốc gia có thu nhập trung bình và thu nhập cao trong giai đoạn 1997-2014
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu được tóm tắt
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tăng trưởng kinh tế là một vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mỗi quốc gia
trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới sự giàu có và thịnh vượng.
Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng lên, phúc lợi xã hội và chất
lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện; tạo điều kiện giải quyết công ăn việc
vào các khoản đầu tư có lợi nhuận cao thông qua chia sẻ rủi ro (Greenwood and
Jovanovic, 1990; Bencivenga and Smith, 1991; Saint-Paul, 1992). Theo quan điểm tiêu
cực: phát triển tài chính có thể dẫn đến rủi ro hệ thống cao (Allen and Carletti, 2006;
Wagner, 2007; Gai et al., 2008; Gennaioli et al., 2012); tiết kiệm thấp dưới mức tối ưu
(Jappelli and Pagano 1994); phân bổ tối đa lao động đối với ngành tài chính (Philippon,
2010; Bolton et al., 2011) và khả năng tăng trưởng kinh tế quá nóng (Zeira, 1999). Kết
luận gần đây nhất của Lorenzo Ductor et al. (2015), đối với nền kinh tế phát triển bình
thường, cân bằng giữa nền kinh tế thực và tăng trưởng tài chính là cần thiết; đẩy mạnh
phát triển tài chính mà không được đi kèm với sự tăng trưởng trong nền kinh tế sản
xuất thực sẽ làm giảm hiệu quả của việc phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế.
Các kết luận khác nhau về mối quan hệ phát triển tài chính, khu vực sản xuất đối
với tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào việc lựa chọn các chỉ số làm đại diện cho phát
triển tài chính, sản lượng đầu ra của nền kinh tế thực, đặc trưng thể chế chính trị, pháp
lý của mỗi quốc gia, không gian và thời gian.
Nhằm góp phần hoàn thiện hơn các nghiên cứu hiện có, tác giả chọn đề tài
nghiên cứu: “Tác động của phát triển tài chính và khu vực sản xuất đến tăng
trưởng kinh tế - bằng chứng thực nghiệm tại khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương”.
3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và khu vực sản xuất đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ở Châu Á Thái Bình Dương.
Mục tiêu cụ thể:
- Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển khu vực
tài chính và khu vực sản xuất đối với tăng trưởng kinh tế;
- Xác định các yếu tố quan trọng đại diện cho phát triển tài chính và khu vực sản
xuất trong việc giải thích tăng trưởng kinh tế;
nhanh hơn tăng năng suất và tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người bằng cách
chuyển các nguồn lực của xã hội để nâng cao năng suất. Nghiên cứu của Hassan et al.
(2011) chứng minh mối liên hệ lâu dài giữa phát triển tài chính mạnh mẽ và tăng
trưởng kinh tế các nước đang phát triển nhưng kết quả trái ngược nhau đối với các
nước có thu nhập cao. Nghiên cứu của Zouheir Abida et al. (2015): đã tìm thấy một
mối quan hệ tích cực mạnh mẽ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các
nước Bắc Phi. Nghiên cứu của Ductor, L. and Grechyna, D (2015): tác động của phát
triển tài chính đối với tăng trưởng trở nên tiêu cực, nếu có sự tăng trưởng nhanh chóng
trong tín dụng tư nhân không kèm theo tăng trưởng trong sản lượng thực tế.
Dựa trên nền tảng lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm khá vững chắc, tác giả
hoàn toàn có thể áp dụng làm cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu.
1.4 Đối tượng và phạm vi thu thập dữ liệu
Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa phát triển tài chính và khu vực sản xuất
đối với tăng trưởng kinh tế.
Phạm vi thu thập dữ liệu: nghiên cứu tập trung 25 quốc gia được phân loại dựa
trên tiêu chuẩn phân loại thu nhập của ngân hàng thế giới và phân loại trên cơ sở vị trí
địa lý tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong giai đoạn 1997 - 2014.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
5
Bài nghiên cứu được dựa trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và các kết quả
nghiên cứu thực nghiệm trong những năm gần đây để làm nền tảng lý thuyết.
Sử dụng các phương pháp thống kê, thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích, kết
hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm để xem xét, đánh giá sự khác
biệt hay tương đồng giữa các quốc gia nghiên cứu đồng thời xem xét những tác động
của các biến độc lập đến biến phụ thuộc.
Sử dụng mô hình dữ liệu bảng với ba phương pháp: ước lượng bình phương nhỏ
nhất thông thường (OLS), ước lượng GMM và ước lượng Driscoll-Kraay.
hưởng phi tuyến tính của tài chính đối với tăng trưởng đã được khái quát trong hai nội
dung sau:
Một là, phát triển tài chính có thể làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng
cũng làm tăng bất ổn kinh tế. Tích lũy rủi ro hệ thống là hệ quả của sự đổi mới tài
chính và tự do hóa tài chính (Allen and Gale, 2004; Allen and Carletti, 2006; Wagner,
2007; Gennaioli et al., 2012). Rủi ro hệ thống cao ngụ ý sẽ tiềm ẩn nhiều cuộc khủng
hoảng nghiêm trọng, do đó ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế trong
ngắn hạn và trung hạn.
Hai là, phát triển tài chính có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua
phân bổ sai nguồn lực. Lĩnh vực tài chính đang phát triển nhanh sẽ tạo ra chi phí thuê
mướn cao và thu hút các nguồn lực mà tốt nhất nên được sử dụng trong các lĩnh vực
khác (Santomero and Seater, 2000; Philippon, 2010; Bolton et al., 2011). Nếu các lĩnh
vực tài chính thu hút quá nhiều người lao động có tay nghề cao thì các ngành khác sẽ
trì trệ trong sự thiếu hụt nguồn nhân lực kéo theo sự tăng trưởng và phát triển chậm. Từ
đó tác động tiêu cực đến sản lượng và sản lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
Từ kết quả của nhiều nghiên cứu, các tác giả đã rút ra kết luận rằng: phát triển
tài chính có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nếu nó không đi kèm với sự phát
triển trong nền kinh tế thực. Chúng ta nên xem xét các giả thuyết rằng tác động của
phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của các dịch
7
vụ tài chính liên quan đến sự tăng trưởng của các ngành nền kinh tế thực. Tác động của
phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế có thể bị suy yếu hoặc thậm chí có thể là
tiêu cực nếu có sự phát triển không cân bằng trong các lĩnh vực tài chính và khu vực
sản xuất.
Vì vậy, nội dung bài nghiên cứu gồm các vấn đề quan trọng sau: tăng trưởng
kinh tế, khung lý thuyết phát triển tài chính và khu vực sản xuất, mối quan hệ giữa phát
triển tài chính và khu vực sản xuất đến tăng trưởng kinh tế.
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng
tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong
một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản
phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số.
Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số.
Đây được coi là cách đo lường tương đối năng lực của nền kinh tế. Thước đo
này đã được thừa nhận rộng rãi và có thể được tính với những mức độ chính xác khác
nhau cho hầu hết các nền kinh tế.
2.1.1.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế (đi tiên phong của Harrod - Domar; Solow,
1956; Romer, 1986; Lucas, 1988), các yếu tố quyết định chính của tăng trưởng kinh tế:
GDP bình quân đầu người ban đầu, vốn con người, tích lũy vốn vật chất, công nghệ
v.v. hay việc chính phủ sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để can thiệp vào
hoạt động tài chính: đẩy mạnh tín dụng, tăng lượng cung tiền v.v. nhằm thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Để làm rõ luận điểm tăng trưởng kinh tế và kiểm soát các nhân tố đầu
vào tác động đến tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ giữa phát triển tài chính, khu
vực sản xuất và tăng trưởng kinh tế, tác giả tổng hợp các học thuyết tăng trưởng kinh tế
trước đây. Lập luận của các nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng lý thuyết sau đây:
Mô hình tăng trưởng Harrod - Domar
9
Theo Harrod - Domar: nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K,
capital) đưa vào sản xuất tăng lên, chủ yếu tập trung đến vai trò của tích lũy vốn trong
quá trình tăng trưởng. Mô hình Harrod - Domar được sử dụng rộng rãi tại các nước
đang phát triển nhằm xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng và các yêu cầu vốn. Trong
mô hình này, sản lượng được giả định là hàm tuyến tính theo vốn:
𝟏
nền kinh tế quốc dân, phụ thuộc chặt chẽ vào tổng số tư bản đầu tư cho đơn vị kinh tế
đó. Trong điều kiện kinh tế thị trường, về cơ bản thu nhập được chia làm thành hai
phần: phần dành cho tiêu dùng trực tiếp và phần dành cho tái đầu tư gián tiếp hoặc trực
10
tiếp. Với giả định toàn bộ tiết kiệm được dành cho đầu tư thì tổng đầu tư bằng tổng tiết
kiệm. Như vậy, mối quan hệ tăng trưởng và đầu tư được biểu hiện thành mối quan hệ
giữa mức tăng trưởng và mức tiết kiệm. Nói cách khác tốc độ gia tăng sản xuất tỷ lệ
thuận với tỷ lệ tiết kiệm trên tổng sản phẩm kinh tế quốc dân từ đó tác động đến thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ưu điểm cơ bản của mô hình Harrod - Domar tập trung vào vai trò cốt lõi của
tích lũy vốn và đầu tư là quan trọng để tăng trưởng kinh tế theo thời gian.
Hạn chế: lý thuyết Harrod - Domar chỉ xem xét ở các nước đang phát triển,
những nước với vòng lẩn quẩn (thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp, tích lũy thấp,
năng suất lao động thấp). Mặt khác ở các nước đang phát triển thị trường tài chính và
thị trường hàng hóa hoạt động yếu ớt vì vậy toàn bộ tiết kiệm sẽ không được đưa ra
đầu tư hết. Đầu tư được tài trợ bằng tiết kiệm phải thật sự được đền đáp bằng thu nhập
cao hơn trong tương lai và không phải toàn bộ đầu tư đều đạt được kết quả đó. Tăng
trưởng bền vững phụ thuộc vào việc tạo ra đầu tư mới và việc đảm bảo rằng việc đầu tư
có năng suất theo thời gian. Việc phân bổ nguồn lực giữa các ngành và các doanh
nghiệp khác nhau là yếu tố quan trọng xác định sản lượng và tăng trưởng. Và một hạn
chế nữa trong mô hình Harrod - Domar đó là bỏ qua vai trò của tiến bộ công nghệ.
Tiến bộ công nghệ nói chung vẫn đóng một vai trò then chốt đối với tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn và phát triển thông qua việc góp phần tăng năng suất của tất cả các yếu
tố sản xuất.
Tóm lại, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì cần gia tăng sự tích lũy về vốn,
nguồn nhân lực và chú trọng vào sản lượng sản xuất của khu vực sản xuất của nền kinh
tế.
thu nhập bình quân.
Để đưa vào mô hình khả năng nền kinh tế có thể sản xuất nhiều sản lượng hơn
với cùng giá trị vốn và lao động như cũ, Solow đã điều chỉnh hàm sản xuất ban đầu
bằng cách thêm vào một biến mới T, biểu thị cho tiến bộ công nghệ:
12
Y = F(K, T × L)
Ưu điểm: đóng góp hết sức quan trọng của mô hình là nhận thức về vai trò và sự
ảnh hưởng của yếu tố thay đổi công nghệ trong quá trình tăng trưởng. Mô hình cho
thấy việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay nhập khẩu công
nghệ mới từ nước ngoài có thể kích thích tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.
Hạn chế: Solow đã nhấn mạnh đến vai trò quyết định của yếu tố tiến bộ công
nghệ đến tăng trưởng GDP và GDP bình quân trên đầu người nhưng lại cho rằng tiến
bộ công nghệ là yếu tố ngoại sinh và không giải thích được dẫn đến nếu không có cú
sốc công nghệ từ bên ngoài vào thì tất cả các nền kinh tế đều không có tăng trưởng khi
đạt tới điểm dừng.
Tóm lại, sự tích lũy vốn và tiết kiệm để đầu tư trong dài hạn làm gia tăng sản
lượng sản xuất của nền kinh tế đồng thời yếu tố đổi mới công nghệ chính là động lực
để tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.
2.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Các nhân tố kinh tế
Dựa trên các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế như sau:
Nhân tố thuộc tổng cầu
Tổng cầu là giá trị tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các thành phần kinh
tế (dân cư, doanh nghiệp, chính phủ và nước ngoài) muốn mua ở mỗi mức giá chung
trong một khoảng thời gian nhất định và trong những điều kiện nhất định.
Phương trình tổng cầu của nền kinh tế:
xuất từ đó tạo ra nguồn tích lũy lớn cho nền kinh tế quốc dân thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế.
Ngoài ra còn yếu tố tài nguyên thiên nhiên và môi trường cũng là nguồn lực
quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
14
Các nhân tố phi kinh tế
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu đã đưa thêm vào mô hình tăng trưởng thực
nghiệm các yếu tố: dân tộc, tôn giáo, thể chế chính trị - kinh tế - xã hội, địa lý, đặc
điểm văn hóa. Những yếu tố không tham gia trực tiếp vào quá trình kinh tế như yếu tố
đầu vào để sản xuất và cũng không trực tiếp biểu hiện ra như một kết quả đầu ra cụ thể
nên được gọi là yếu tố phi sản xuất. Những yếu tố này điều phối hành vi ứng xử và
phản ứng của cá nhân, cộng đồng, tác động đến quá trình kinh tế - xã hội và có sự khác
nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia.
2.1.2 Phát triển tài chính
2.1.2.1 Khái quát chung
Trong bài viết: “Measurement of Financial Development: A Fresh Approach:
của Adnan, Noureen (2011)” có đề cập đến khái niệm “phát triển tài chính”. Theo tác
giả, phát triển tài chính được định nghĩa là các chính sách, các yếu tố và các tổ chức
đưa đến các trung gian tài chính và thị trường hiệu quả.
Bản chất của tài chính là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm
xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng
yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế.
Phát triển tài chính là cần thiết cho tăng trưởng, là yếu tố quan trọng hàng đầu
của các quốc gia để tăng trưởng kinh tế. Sự phát triển các thể chế tài chính như ngân
hàng, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là cần
thiết để hỗ trợ đầu tư vốn cố định, tăng khả năng doanh nghiệp tiếp cận vốn lưu động
như chi tiêu lương và đầu vào sản xuất, tạo cơ chế dàn trải rủi ro và đảm bảo rằng nền
- Credit: tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trong hệ thống tài chính (các tổ chức ngân
hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng) so với GDP.
- Deposit: tỷ lệ tổng tiền gửi trong hệ thống tài chính so với GDP.
- Saving: tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình gửi vào hệ thống tài chính so với GDP.
16
- Loan over appro: tỷ lệ đầu tư tài sản cố định được tài trợ bởi các khoản vay
trong nước liên quan đến tài trợ bởi ngân sách nhà nước.
- Corporate: tỷ lệ tiền gửi doanh nghiệp. Tổng số dư tiền của khách hàng doanh
nghiệp trong hệ thống tài chính.
Trong “Tài chính toàn cầu và vai trò của tài chính đối với phát triển kinh tế” của
Trần Thị Quế Giang (2013) có nêu về đo lường mức độ phát triển tài chính:
- Tỷ lệ của tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP và so với tổng tín dụng.
- Độ sâu tài chính [M2(M3)/GDP]: cho biết quy mô của khu vực trung gian tài
chính so với nền kinh tế.
- Số lượng vốn hóa của thị trường tài chính - biên lãi suất (interest margin).
- Vai trò tương đối của các ngân hàng thương mại so với ngân hàng trung ương.
- Chỉ số tự do hóa khu vực tài chính, ngân hàng (Freedom in Banking and
Finance index).
Các thước đo mức độ phát triển tài chính rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện
của mỗi quốc gia và điều kiện nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu lựa chọn thước đo
thích hợp.
2.1.3 Khu vực sản xuất
Theo Bussines English định nghĩa: khu vực sản xuất thực là một phần của nền
kinh tế của một quốc gia liên quan đến việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ khác với nền
kinh tế liên quan đến việc mua và bán trên thị trường tài chính: ngân hàng, thị trường
chứng khoán…
Vai trò của nền kinh tế sản xuất hàng hóa
Trong nghiên cứu này, tác giả phát triển một mô hình tăng trưởng nội sinh có
tính liên kết giữa phát triển tài chính, doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế được xây
dựng trên quan điểm của Joseph Schumpeter (1912) và Frank Knight (1951) để chứng
minh: các tổ chức tài chính đóng một vai trò tích cực trong việc đánh giá, quản lý và tài
trợ cho các hoạt động kinh doanh dẫn đến tăng trưởng kinh tế. King and Levine
(1993a) cho rằng: hệ thống tài chính là một chất bôi trơn cho động cơ chính của sự
18
tăng trưởng kinh tế. Dịch vụ tài chính tốt hơn mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả
của hoạt động sáng tạo; những cải tiến trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính sẽ
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới công nghệ trong tương lai. Kiềm chế tài chính
tương ứng sẽ làm giảm các dịch vụ được cung cấp bởi hệ thống tài chính cho người tiết
kiệm, các doanh nghiệp và nhà sản xuất; do đó nó cản trở hoạt động sáng tạo và làm
chậm tăng trưởng kinh tế.
Sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn
năm 1960 - 1989. Dữ liệu được chia trung bình thành ba quan sát tương ứng với ba
thập niên: 1960, 1970,1980. Những thước đo mức độ phát triển tài chính ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ tích lũy vốn.
Nghiên cứu sử dụng bốn chỉ số để đo lường mức độ phát triển tài chính: thứ
nhất là chỉ số thanh khoản nợ của hệ thống tài chính so với GDP được gọi là DEPTH.
Thứ hai: tỷ lệ giữa tiền gửi tài sản nội địa trên tiền gửi tài sản nội địa cộng tài sản nội
địa của ngân hàng trung ương, gọi là BANK. Thứ ba: PRIVATE: tỷ lệ giữa vốn khu
vực tư nhân phi tài chính trên tín dụng nội địa. Thứ tư: tỷ lệ giữa vốn khu vực tư nhân
phi tài chính trên GDP được gọi là: PRIVY.
Phương trình như sau:
Y= 𝒌𝛂 X
Y: GDP thực bình quân đầu người (equal real per capita GDP);
K: Vốn thực bình quân đầu người (equal the real per capita physical capital
của chính phủ đối với hệ thống tài chính có thể tác động nhân quả quan trọng về tăng
trưởng dài hạn.
2.2.1.2 Nghiên cứu “Financial development and economic growth: New evidence
from panel data” của Hassan et al. (2011)
Bằng việc phân tích dữ liệu bảng đã cung cấp bằng chứng về vai trò của phát
triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế giữa các nhóm thu nhập khác nhau và khu
vực địa lý khác nhau. Với mẫu nghiên cứu của 168 quốc gia trong giai đoạn 1980 -
20
2007, tác giả đã cho thấy mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế,
đồng thời cho thấy được vai trò của yếu tố khác trong khu vực sản xuất: chi tiêu chính
phủ, thương mại, lạm phát v.v. cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích
tăng trưởng kinh tế. Tác giả sử dụng ước lượng hồi quy bảng và phân tích mô hình đa
biến chuỗi thời gian khác nhau về khu vực địa lý và các nhóm thu nhập trung bình.
Trong phân tích này, Hassan et al. (2011) sử dụng tỷ lệ tăng trưởng bình quân
đầu người GDP như là một đại diện cho tăng trưởng kinh tế (GROWTH). Tác giả cũng
sử dụng sáu biến để đo lường sự phát triển tài chính và kích thước của khu vực sản
xuất thực.
Mô hình nghiên cứu là hàm hồi quy có dạng:
GROWTHi,t=𝜷0Qi,1980 + 𝜷1FINi,t + 𝜷2GDSi,t + 𝜷3TRADEi,t + 𝜷4GOVi,t + 𝜷5INFi,t + 𝜺i,t
Trong đó;
𝛽 0Qi,1980: GDP bình quân đầu người ban đầu;
FINi,t: tỷ lệ tín dụng trong nước so với GDP;
GDSi,t: tỷ lệ tổng tiết kiệm trong nước so với GDP;
TRADEi,t: tỷ số thương mại so với GDP;
GOVi,t: tỷ lệ chi tiêu cuối cùng của chính phủ đối với GDP;
INFi,t: tỷ lệ lạm phát.
form North African Countries” của Zouheir Abida et al. (2015)
Bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế của ba nước Bắc Phi (Tunisia, Morocco và Ai Cập) trong giai đoạn năm
1980 - 2012. Dữ liệu được lấy từ các chỉ số phát triển thế giới (năm 2014) của WB.
Bằng cách sử dụng hồi quy GMM để ước lượng mô hình dữ liệu bảng, nghiên cứu đã
tìm thấy sự tác động tích cực giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời
cũng chứng minh rằng tự do kinh tế là có lợi cho sự tăng trưởng. Những phát hiện này
cho thấy sự cần thiết để thúc đẩy các cải cách tài chính đã được đưa ra từ giữa những
năm 1980 và nâng cao hiệu quả của hệ thống tài chính của các nước này để kích thích
tiết kiệm, đầu tư để tăng trưởng kinh tế dài hạn.