Mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát tại Việt Nam : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
*

NGUYỄN THỊ HOÀ

MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ VÀNG VÀ LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS TRẦN NGỌC THƠ

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2011


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Mối quan hệ giữa giá vàng
và lạm phát tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của GS.TS Trần Ngọc Thơ. Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
đáng tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011
Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Hoà


2.4.2 Hệ số tương quan giữa giá vàng và lạm phát ........................................ 44
2.4.3 Kiểm định đồng liên kết giữa giá vàng và lạm phát .............................. 45
2.4.4 Giả thuyết 1: Giá vàng tác động đến lạm phát ...................................... 45
2.4.5 Giả thuyết 2: Lạm phát tác động đến giá vàng ...................................... 47
2.4.6 Kết quả kiểm định Granger giữa giá vàng và lạm phát ......................... 49
2.4.7 Sự tác động của tỷ giá USD/VND đến mô hình kiểm định................... 50
Kết luận chương 2........................................................................................... 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG
VÀNG
3.1 Chính sách tài chính tiền tệ phù hợp .............................................................. 57
3.2 Ổn định tâm lý thị trường ............................................................................... 59
3.3 Xây dựng phương án tăng lượng vàng dự trữ ................................................ 63
3.4 Tăng cường sự quản lý của NHNN đối với thị trường vàng.......................... 64
3.5 Tiến tới tự do hóa thị trường vàng ................................................................. 65
3.5.1 Chính sách nhập khẩu vàng ................................................................... 65
3.5.2 Chính sách xuất khẩu vàng .................................................................... 66
3.6 Từng bước tiến tới thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia ............................ 67
3.7 Hội nhập thị trường vàng thế giới ................................................................. 67
3.7.1 Kinh doanh vàng theo tiêu chuẩn quốc tế ............................................. 68


3.7.2 Hỗ trợ và tạo điều kiện để ngành kim hoàn Việt Nam tham gia vào thị
trường thế giới ..................................................................................... 68
Kết luận chương 3 ................................................................................................ 69
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Ngân hàng trung ương

NHTM

Ngân hàng Thương mại

TTTC

Thị trường tài chính

TTCK

Thị trường chứng khoán

ĐTTC

Đầu tư tài chính

KTXH

Kinh tế xã hội

XH

Xã hội

PBOC

Ngân hàng nhân dân Trung Hoa


2.2

Hệ số tương quan giữa giá vàng và lạm phát

25

2.3

Kiểm định đồng liên kết giữa giá vàng và lạm phát

26

2.4

Kết quả kiểm định giả thuyết giá vàng tác động đến lạm phát

27

2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
2.12
2.13

Kết quả kiểm định LR cho giả thuyết giá vàng tác động đến
lạm phát


Tên đồ thị
Tốc độ tăng của giá vàng, giá dầu và tỷ lệ lạm phát của Mỹ
trong giai đoạn 1963 – 2008

Trang
6

2.1

Diễn biến giá vàng thế giới theo tháng từ tháng 7/1982 – 3/2006

16

2.2

Nhu cầu về vàng ở Việt Nam 1992 – 2007

17

2.3

Giá vàng TG và giá vàng Việt Nam từ năm 1998 đến 2007

18

2.4

Tỷ giá đô la Mỹ từ năm 1998 đến 2007


30

2.10

Tăng trưởng tín dụng, cung tiền M2 và CPI từ 1996 đến 2009

30

2.11

Tăng trưởng tín dụng, cung tiền M2 và CPI từ 01/2007 đến
11/2009

31

2.12

Thay đổi CPI so với cùng kỳ

32

2.13

Thay đổi CPI so với tháng trước

32

24

Mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế

Nam và các nước châu Á mà ngay cả người dân Châu Âu và Mỹ cũng đang có xu
hướng tích trữ vàng để chống chọi với lạm phát – Ông Federic Panizzuti, phó chủ


tịch tập đoàn tinh luyện vàng hàng đầu Thụy Sỹ MKS Financial SA khẳng định.
Với những nhận xét trên có thể thấy rằng lạm phát là nguyên nhân làm giá vàng
tăng cao. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng giá vàng tăng cao là một trong
những yếu tố làm lạm phát tăng. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy khi giá vàng tăng
thì người ta cảm thấy bất an. Nỗi sợ hãi của người Mỹ được đo bằng chỉ số biến
động của thị trường (VIX - Volatility Index). Nghiên cứu này cho thấy quan hệ
nhân quả theo chiều giá vàng tăng thì độ hỗn loạn của nền kinh tế tăng (vàng tăngÆ
VIX tăng). Do đó kiểm soát được giá vàng nếu không trực tiếp làm giảm lạm phát
thì cũng làm ổn định tâm lý người dân.
Năm 2010 thị trường vàng biến động thất thường với những mức giá kỷ lục liên tiếp
được thiết lập. Ngày 17/09/2010 lần đầu tiên người dân chứng kiến giá vàng trong
nước đạt mức giá 30 triệu đồng/lượng, đầu tháng 11/2010 đã có lúc lên tới 38 triệu
đồng/lượng. Từ cuối năm 2009 đến hết tháng 12/2010, giá vàng quốc tế tăng 26%
trong khi giá vàng trong nước tăng đến 44%. Sự biến động của thị trường vàng đã
tác động không nhỏ đến nền kinh tế đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng. Bài toán
vàng, lạm phát luôn là vấn đề thách thức của các nhà điều hành chính sách tài chính
tại Việt Nam. Trước tình hình đó, nhiều giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ
nói riêng và kinh tế vĩ mô nói chung đã được đưa ra, trong đó có các đề xuất về việc
cấm mua bán vàng miếng trên thị trường tự do. Khi chính phủ đã quyết liệt triển
khai gói chính sách bao gồm cả kiểm soát thị trường vàng và thị trường ngoại hối
cũng như chính sách tiền tệ và tài khoá thắt chặt, chắc chắn lạm phát sẽ giảm. Tuy
nhiên, do nguồn lực có hạn, chính phủ nên ưu tiên cho việc kiểm soát thị trường
vàng hay nên tập trung kiểm soát tốt chính sách tiền tệ và tài khoá như đã công bố?
Trước khi đề xuất chính sách thì các chuyên gia kinh tế có thể tham khảo các công
trình nghiên cứu về quan hệ nhân quả giữa giá vàng và lạm phát, và kiểm chứng
trên số liệu thực tế của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo
Phụ lục


Trang 1

CHƯƠNG 1:
CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ
VÀNG VÀ LẠM PHÁT
1.1 Vàng là dấu hiệu chỉ báo và bảo hiểm chống lại lạm phát.
Nghiên cứu này cố gắng điều tra xem liệu vàng hay dầu là chỉ báo tốt hơn về
lạm phát và cố gắng tìm ra giữa vàng và dầu, đâu là nhân tố cung cấp hàng rào
chống lại lạm phát tốt hơn ở Thổ Nhĩ Kỳ. Các mối quan hệ lâu dài giữa giá dầu,
vàng và tỷ lệ lạm phát đã được điều tra bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng về
giá dầu, vàng và tỷ lệ lạm phát. Các dữ liệu bao gồm các giai đoạn từ ngày
10/02/1994 đến ngày 12/02/2008. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng chỉ số
CPI hiển thị một mối tương quan cao với cả giá vàng và giá dầu. Kết quả cũng
cho thấy vàng là một chỉ số dự báo lạm phát tốt hơn so với dầu. Nghiên cứu kết
luận rằng khả năng bảo hiểm rủi ro lạm phát của cả vàng và dầu phụ thuộc vào
sự tồn tại của một mối quan hệ ổn định lâu dài với tỷ lệ lạm phát, với lưu ý rằng
vàng và CPI cũng như giá dầu và CPI không có quan hệ đồng liên kết có nghĩa
là không có mối quan hệ lâu dài giữa tỷ lệ lạm phát và giá vàng, giá dầu.
Sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods năm 1971, các nhà đầu tư bắt đầu
tìm kiếm các loại tiền tệ làm "nơi trú ẩn an toàn". Tuy nhiên các loại tiền tệ an
toàn nhất lại có liên quan đến nguy cơ kinh tế và chính trị. Vào thời điểm đó đầu
tư vàng hóa ra là một cách để tự bảo hiểm rủi ro. Vàng đóng vai trò tiền tệ trong
nhiều thế kỷ và không bao giờ được sử dụng trong quá trình sản xuất do đó nó
đã giữ sức mua của nó về lâu dài (Jastram, 1977). Vàng khác với các tài sản
khác bởi vì tiềm năng đối với vàng là tính thanh khoản cao và nó phản ứng với
những thay đổi giá (Lawrence, 2003). Hơn nữa, không giống như các hàng hóa

của các chỉ số vàng bằng cách chia các chỉ số vàng cho các chỉ số giá bán buôn
và so sánh các chỉ số này với nhau giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Nhật
Bản trong những khoảng thời gian khác nhau. Nghiên cứu của ông khẳng định
rằng vàng là nơi trú ẩn hiệu quả chống lại lạm phát lâu dài. Gosh và cộng sự
(2002) cũng kết luận rằng có một mối quan hệ lâu dài giữa giá vàng và chỉ số giá
bán buôn của Mỹ bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng 1976-1999 với kỹ thuật


Trang 3

đồng liên kết. Ranson và Wainright (2005) áp dụng phương pháp bình phương
bé nhất (OLS) để xem liệu dầu hay giá vàng là chỉ báo tốt hơn về lạm phát và lãi
suất không dự kiến trước được. Nghiên cứu kết luận rằng giá vàng tốt hơn so với
giá dầu trong vai trò là yếu tố dự báo lạm phát năm tới.
Dữ liệu sử dụng trong phân tích được lấy từ tháng 01/1996 đến tháng 02/2008
với 146 quan sát. Dữ liệu bao gồm các quan sát hàng tháng của giá vàng, giá dầu
và tỷ lệ lạm phát dựa trên chỉ số giá tiêu dùng thu được từ Istanbul Gold
Exchange, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ và Reuters.
Để đánh giá độ mạnh của mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ lệ lạm phát, dầu và tỷ
lệ lạm phát, phương pháp đơn giản nhất là nhìn vào cấu trúc tương quan của các
nhân tố được đo bằng hệ số tương quan. Kiểm định nghiệm đơn vị và tiêu chuẩn
ADF được áp dụng cho chuỗi số liệu giá vàng, giá dầu và chỉ số giá tiêu dùng để
xem xét các thuộc tính tĩnh của chúng.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy CPI có liên quan chặt chẽ với cả giá
vàng và giá dầu với thực tế là vàng có tương quan với chỉ số CPI nhiều hơn so
với giá dầu. Các khả năng bảo hiểm rủi ro lạm phát của vàng và dầu phụ thuộc
vào sự tồn tại của một mối quan hệ ổn định lâu dài giữa tỷ lệ lạm phát và giá
vàng, giá dầu. Tuy nhiên, kiểm định đồng liên kết khẳng định rằng giá vàng và
CPI cũng như giá dầu và CPI không có quan hệ đồng liên kết, có nghĩa là không
có mối quan hệ lâu dài giữa tỷ lệ lạm phát và giá vàng, giá dầu.

động của vàng gia tăng khi tốc độ tăng trưởng của cung tiền cao hơn mong đợi.
Cùng mạch suy nghĩ, Christie – David và đồng sự (2000) phân tích tác động của
các tin tức vĩ mô phát ra đối với giá vàng và giá bạc, và họ thấy rằng giá vàng
phản ứng khá mạnh đối với tin CPI.
Thị trường vàng đã có sự tăng giá khá vững chắc trong suốt thập kỷ qua. Điển
hình trong suốt giai đoạn 2002 – 2008 mức tăng giá của vàng trung bình hàng
năm khoảng 18.5%. Cùng trong thời gian đó, giá dầu cũng tăng khá mạnh, ở
mức trung bình 53.9%. Điều này đưa ra câu hỏi: phải chăng thị trường dầu đang
dẫn dắt thị trường vàng? Nếu điều này xảy ra, có nghĩa là giá dầu có thể được sử
dụng để dự đoán giá của thị trường vàng và ngược lại. Điều này cũng có nghĩa là
có sự không hiệu quả trong cả hai thị trường.


Trang 5

Mối liên hệ giữa thị trường vàng và dầu có thể giải thích tốt nhất thông qua các
kênh lạm phát. Khi giá dầu tăng cao thì mức giá chung cũng tăng (xem thêm
Hunt, 2006; Hooker, 2002). Khi mức giá chung (hay lạm phát) tăng, giá vàng
cũng tăng do vàng cũng là một loại hàng hoá. Điều này mở ra khả năng là vàng
có thể được sử dụng để chống lại lạm phát (xem thêm Jaffe, 1989). Melvin và
Sultan (1990) cho rằng có một kênh khác để thiết lập mối quan hệ giữa thị
trường vàng và dầu. Luận điểm chính của họ là giá dầu tác động tới giá vàng
thông qua kênh doanh thu xuất khẩu. Về cơ bản vàng là một phần của kênh đầu
tư dự trữ quốc tế của một vài quốc gia bao gồm cả các quốc gia xuất khẩu dầu,
họ lập luận rằng nếu có một cú sốc dẫn tới mong đợi việc mua vàng thì dự kiến
trong tương lai giá vàng sẽ tăng lên. Khi giá dầu tăng, những nhà xuất khẩu dầu
thu lợi từ việc dầu tăng, Melvin và Sultan (1990) lập luận rằng điều này sẽ có
thể tác động đến giá vàng, miễn là vàng bao gồm một phần quan trọng trong
danh mục đầu tư tài sản của những nhà xuất khẩu dầu (liên quan đến các quốc
gia khác) và họ sẽ mua vàng tương ứng với sự giàu có của mình. Điều này sẽ

Giả thuyết 3: ggoldt = θ0 + θ1goilt + ωt


Trang 7

Trong đó π, goil, ggold là tốc độ tăng trưởng của CPI (lạm phát), bình quân giá
dầu, và giá vàng. Số dư của những mô hình này được xác định tương ứng là ε, µ,
và ω.
Kết quả của phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) tương ứng
với ba giả thuyết như sau:
πt = 0.039 + 0.041goilt + εt
(10.759) (3.358)
ggoldt = -0.064 + 3.119πt + µt
(-1.162) (2.870)
ggoldt = 0.039 + 0.365goilt + ωt
(1.430) (3.842)
Kết quả thực nghiệm trong ngắn hạn hỗ trợ cho những giả thuyết thảo luận trên
về mối quan hệ giữa giá vàng và giá dầu; nói cách khác, kết quả tìm thấy sự hỗ
trợ cho cả ba giả thuyết. Tóm lại: (a) sự gia tăng giá dầu gây ra lạm phát, (b) sự
gia tăng lạm phát dẫn đến sự tăng giá của vàng, và (c) sự tăng giá của dầu làm
cho vàng tăng giá.
Một vài nghiên cứu đã kiểm tra mối quan hệ giữa giá vàng và các biến kinh tế vĩ
mô khác, ví dụ như lạm phát cũng được tìm thấy có ý nghĩa thống kê đáng kể và
có mối quan hệ cùng chiều với giá vàng. Một nghiên cứu khác của Jaffe (1989)
nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận của vàng sử dụng số liệu
hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 9/1971 đến tháng 6/1987. Dựa trên phương
pháp ước lượng bình quân nhỏ nhất (OLS), ông thấy rằng trung bình chỉ số giá
tăng 1% kéo theo giá vàng thay đổi khoảng 2.95%. Kết quả của bài nghiên cứu
này cũng tương tự - tác giả tìm thấy sự tác động khoảng 3.1% - mặc dù cỡ mẫu
được sử dụng trong hai nghiên cứu khác nhau hoàn toàn. Cỡ mẫu bài nghiên cứu

tồn giá trị và là nơi trú ẩn để chống lại lạm phát. Nếu xem vàng là một loại tài
sản tài chính, vàng có thể được kỳ vọng để xác định là nhân tố dự báo hàng đầu
cho lạm phát. Các nghiên cứu gần đây đã kiểm tra các chỉ báo hàng đầu khác
nhau cho lạm phát, như là nghiên cứu của Stock và Watson (1999), Cecchetti,
Chu và Steindel (2000), Boivin và Ng (2006) và Banerjee và Marcellino (2006)
đã không xem là giá vàng như là một ứng cử viên của chỉ báo hàng đầu. Tuy
nhiên, với sự đồng thuận chung đang nổi lên từ những nghiên cứu này cho thấy


Trang 9

rằng rất khó khăn để tìm một chỉ số hàng đầu cho lạm phát mà có thể thể hiện tốt
bước ngẫu nhiên (random walk), nên việc xem xét giá vàng tại thời điểm này có
thể là một quyết định đáng giá.
Vàng là một tài sản đặc biệt, vì vàng vừa là một loại hàng hóa, ví dụ trong việc
sản xuất đồ trang sức và các thiết bị công nghiệp, vừa là tài sản tài chính, nơi nó
có thể được sử dụng như để bảo tồn giá trị. Vàng không có đối thủ trong việc
làm tài sản để bảo tồn giá trị sau cùng, vì nó có một lợi thế tâm lý hơn các tài
sản khác xuất phát từ việc sử dụng nó cho mục đích này bao trùm nhiều thế kỷ
qua.
Bài nghiên cứu này mong muốn thiết lập được với những chuyển động trong giá
vàng, với một mức độ nào đó, có thể dự báo được mức độ lạm phát trong tương
lai. Về lý thuyết, sự gia tăng kỳ vọng lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền,
do đó, sẽ có tâm lý tìm đến vàng để bảo tồn giá trị. Điều này sẽ làm tăng nhu cầu
vàng, khiến giá vàng tăng cao, do đó, giá vàng càng cao là tín hiệu cho thấy tỷ lệ
lạm phát cao hơn trong tương lai. Lưu ý rằng, đối với bất kỳ quốc gia cụ thể, tỷ
lệ lạm phát được tính bằng cách sử dụng giá trị đồng nội tệ. Vì là một nơi trú ẩn
chống lại lạm phát, các nhà đầu tư phải xem xét tỉ lệ lợi nhuận từ vàng thể hiện
bằng đơn vị đồng nội tệ. Bởi vì giá vàng được xác định tại các thị trường thế
giới và được định giá bằng USD, nên giá vàng trước hết phải được nhân bởi tỷ

tố dự báo đối với lạm phát tại Nhật Bản.

-

Đối với các nước ngoài nhóm OECD, vàng là dấu hiệu chính xác cho lạm
phát tại Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Cụ thể
vàng tăng giá 10% sẽ kéo theo tỷ lệ lạm phát tại Trung Quốc tăng 1.2% trong
12 tháng tiếp theo; tuy nhiên, chất lượng của các dự báo này có thể bị ảnh
hưởng bởi tỷ giá hối đoái của Trung Quốc, được cố định trong suốt phần lớn
của mẫu thời gian nghiên cứu.

Một so sánh sâu hơn của giá vàng với các chỉ số lạm phát khác cho Canada
chứng tỏ vàng vẫn còn ý nghĩa thống kê khi được ghép đôi với các biến khác,
chẳng hạn như tiền, khoảng cách sản lượng, lạm phát của Mỹ hoặc giá dầu.
1.4 Tác động của sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng đến giá vàng.
Bài nghiên cứu này xem xét những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng tác động
đến giá vàng giao ngay như thế nào. Các bài báo tài chính thường đề cập đến
việc giá vàng chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng. Bài
nghiên cứu này xem xét và kiểm tra thực nghiệm lý thuyết trên cơ sở mối quan
hệ giả thuyết. Nó cũng cho thấy rằng cơ sở lý thuyết cho mối quan hệ này là
không rõ ràng. Những người ủng hộ lý thuyết hiệu ứng lạm phát kỳ vọng lập
luận rằng nếu lạm phát kỳ vọng tăng lên, các nhà đầu tư sẽ mua vàng để đầu cơ


Trang 11

trên sự tăng giá của vàng hoặc để chống lại sự mất giá của đồng tiền pháp định.
Dù bằng cách nào các áp lực mua vàng sẽ gây ra một sự gia tăng giá vàng ngay
lập tức. Bài nghiên cứu này cũng xem xét tác động của lạm phát đến lãi suất và
chi phí của việc giữ vàng. Sự gia tăng trong lạm phát kỳ vọng sẽ làm giá vàng

số hàng đầu dự báo lạm phát thì kết quả kiểm định của mô hình có hệ số âm,
nghĩa là giá vàng tăng cao hơn có liên quan đến lạm phát thấp hơn – hoàn toàn
ngược lại với giả thiết ban đầu.
Trong bài nghiên cứu này sử dụng những thay đổi bất ngờ của chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) như là đại diện cho những thay đổi bất ngờ của lạm phát kỳ vọng.
Bất cứ khi nào có sự thay đổi bất ngờ của chỉ số CPI, giới tài chính cho rằng các
nhà phân tích sẽ xem xét lại dự báo của họ về lạm phát trong tương lai. Ví dụ,
nếu chỉ số CPI bất ngờ tăng mạnh thì sẽ được hiểu là lạm phát sẽ cao hơn trong
tương lai. Do nguồn vốn cần thiết để đầu tư vào vàng đòi hỏi các quỹ phải từ bỏ
việc đầu tư vào các tài sản khác, nên chi phí đầu tư vào vàng là chi phí cơ hội
đầu tư của các quỹ vào các tài sản khác với cùng mức độ rủi ro. Những nghiên
cứu trước đó cho thấy rằng vàng và những tài sản khác liên quan đến vàng (như
các công ty khai thác vàng và các quỹ tương hỗ) hoặc là không có tương quan
hoặc là tương quan âm và rất yếu với các chỉ số của thị trường. Vì các nghiên
cứu cho thấy rằng vàng có hệ số β = 0 (hoặc xoay quanh mức 0), tỷ lệ phi rủi ro
là một mức có thể chấp nhận được đối với chi phí của việc nắm giữ vàng. Bài
nghiên cứu này xem xét tác động của những thay đổi của lạm phát kỳ vọng với
chi phí giữ vàng bằng cách đo lường tác động của những thay đổi bất ngờ của
chỉ số CPI với những trái phiếu chính phủ Mỹ đến hạn tại các kỳ hạn 1, 2, 3, 5,
7, 10 năm. Một mối quan hệ dương đáng kể chỉ ra rằng chi phí của việc nắm giữ
vàng sẽ tăng lên cùng với mức tăng của lạm phát kỳ vọng.
Bài nghiên cứu trình bày hai lý thuyết khác nhau nhưng có cùng mục đích giải
thích mối quan hệ giữa lạm phát kỳ vọng và giá vàng. Giả thuyết đầu cơ lập luận
rằng những thay đổi của lạm phát kỳ vọng sẽ làm cho giá vàng thay đổi tức thời.
Giả thuyết chi phí thực hiện lập luận rằng lạm phát kỳ vọng càng cao sẽ làm cho
lãi suất tăng cao hơn (hiệu ứng Fisher). Lãi suất tăng cao sẽ làm cho chi phí của
việc nắm giữ đầu tư vào vàng tăng cao hơn và triệt tiêu đi phần nào lợi nhuận
nhận được từ việc đầu cơ vàng. Theo đó, giả thuyết chi phí thực hiện dự đoán



Với những bằng chứng thực nghiệm của những nghiên cứu tiền đề trên thế giới về
mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát, có thể cho thấy rằng giá vàng và lạm phát
tồn tại một mối quan hệ tác động qua lại và trong một số trường hợp có thể sử dụng
giá vàng để làm chỉ số dự báo lạm phát trong tương lai.


Trang 14

CHƯƠNG 2:
XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ VÀNG
VÀ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2010
2.1 Các yếu tố tác động đến giá vàng và lạm phát
2.1.1 Các yếu tố tác động đến giá vàng:
-

Thứ nhất, những thay đổi về chính sách tiền tệ cùng với những biến động
chính trị trên thế giới như chiến tranh, khủng bố…làm thay đổi giá trị của
USD.

-

Thứ hai, giá dầu tăng cao, chi phí nhiên liệu cho sản xuất tăng, hàng hóa tăng
giá, dẫn tới tình trạng lạm phát, kéo theo đó là sự mất giá của đồng USD.

-

Thứ ba, sản lượng của các công ty khai thác vàng giảm, ảnh hưởng tới nguồn
cung trong lúc nhu cầu sử dụng vàng ngày một tăng nhất là ở các thị trường
mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status