Nghiên cứu việc huy động, sử dụng nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 - 2018 - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Nguyễn Thị Thùy Trang

NGHIÊN CỨU VIỆC HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH VÀ SỰ THAM GIA CỦA
NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH
ĐỒNG THÁP GIAI ĐOẠN 2011-2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HCM, tháng 01 năm 2019
1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Đồng Tháp, ngày 08 tháng 01 năm 2019
Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Trang


LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Kinh tế TPHCM đã dành
nhiều tâm huyết và thời gian giảng dạy tôi trong suốt chương trình cao học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Hoàng Bảo,

2.1. Một số vấn đề chung về nông thôn và nông thôn mới ở Việt Nam ......... 7
2.2. Nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới………………… ..11
2.2.1. Khái niệm về nguồn lực tài chính.....................................................11
2.2.2. Vai trò, đặc điểm của nguồn lực tài chính.........................................12
2.2.3. Phân loại nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới ....…..15
2.2.4. Nguyên tắc huy động nguồn lực tài chính..........................................17
2.2.5. Kế hoạch huy động và sử dụng nguồn lực tài chính… …………

18

2.2.6. Kiểm tra, giám sát huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính…. 22
2.2.7. Chỉ tiêu đánh giá huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính … 23
2.3. Sự tham gia của người dân…………………………………………… 25
2.3.1. Các nghiên cứu về sự tham gia của người dân…………………… 25
2.3.2. Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới………. 29
2.4. Quan hệ giữa huy động, sử dụng NLTC và tham gia của người dân…...31
2.5. Kinh nghiệm của một số địa phương ………………………………… .33
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………….… 38
3.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu ............................................. … 38
3.2. Phương pháp phân tích ........................................................................... 40
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VIỆC HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
LỰC TÀI CHÍNH VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LAI VUNG….............41


4.1. Hiện trạng nông thôn mới huyện Lai Vung …………………………..……41
4.2. Đánh giá của người dân về xây dựng nông thôn của huyện ………………..50
4.3. Nguồn lực tài chính được huy động, sử dụng để XD NTM của huyện …

52

Bảng 4.9. Đánh giá của nhóm chuyên gia………………………………… 65
Bảng 4.10. Kết quả khảo sát về tiếp nhận thông tin nông thôn mới………

66

Bảng 4.11. Thống kê về công tác tuyên truyền…………………………….. 67
Bảng 4.12. Nhu cầu nguồn lực tài chính……………………………………..70


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Thang đo về sự tham gia của người dân theo Sherry R. Arnstein …28
Hình 2.2. Các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân……………… 30
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Lai Vung……………………………… 42
Hình 4.2. Kết quả khảo sát người dân tham gia bàn bạc và ra quyết định….. 68


TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và
sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Lai Vung giai đoạn 2011-2018” có mục tiêu:
Nghiên cứu thực tiễn những vấn đề liên quan đến việc huy động, sử
dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung
đến năm 2020; Đánh giá thực trạng công tác huy động, sử dụng các nguồn lực
tài chính trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, từ đó chỉ ra những
kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cụ thể; Đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính để đẩy
nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trên địa bàn 11 xã của huyện Lai
Vung, tỉnh Đồng Tháp (gồm các xã Hòa Long, Long Thắng, Long Hậu, Tân

Nguồn vốn của ngân sách huyện và nguồn vốn trung ương, tỉnh hỗ
trợ có mục tiêu, vốn đóng góp của các nhà mạnh thường quân ngoài huyện
và vốn của người dân nơi thực hiện các công trình là nguồn lực tài chính
được huy động, sử dụng để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện.
Có một số nội dung trong các qui hoạch của huyện, xã về kinh tế - xã
hội, về phát triển hạ tầng giao thông, về qui hoạch sử dụng đất, về xây dựng
nông thôn mới có sự mâu thuẩn, chồng chéo, thiếu thống nhất với nhau.
Trên cơ sở tổng hợp đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế
và nguyên nhân của nó tác giả đề xuất 9 giải pháp nhằm nâng cao khả năng
huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân để
góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.


CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Lý do chọn đề tài:
Xây dựng nông thôn mới là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia
của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 được bắt đầu thực hiện từ năm 2009.
Vậy vì sao phải xây dựng nông thôn mới? Có phải là để nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân ở nông thôn? Vậy người dân sẽ làm gì để có thể tham
gia thực hiện tốt các nội dung về xây dựng nông thôn mới nơi họ sinh sống? Và
xây dựng nông thôn mới sẽ cần những nguồn lực nào để thực hiện? Đó là
những vấn đề được đặt ra để người dân và chính quyền cùng nhau giải quyết.
Xây dựng nông thôn mới đòi hỏi đầu tư tài chính rất lớn trong khi ngân sách
nhà nước ngày càng hạn hẹp, và qua 8 năm thực hiện đã thấy rõ người nông dân
cũng như cộng đồng dân cư ở nông thôn luôn giữ vai trò nòng cốt vì tất cả các
công trình, phần việc của xóm làng chính họ là người cần được biết, được bàn,
được quyết định, tự làm, tự giám sát và được thụ hưởng. Cùng với sự đầu tư của
nhà nước, thì rất cần sự đóng góp của cộng đồng để tạo nguồn lực tài chính đủ

cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống để tìm ra những giải pháp tích
cực, khả thi góp phần nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn
lực tài chính và cải thiện sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện.
Do đó, “nghiên cứu việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự
tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai
Vung giai đoạn 2011-2018” được chọn làm đề tài của luận văn nhằm tìm ra giải
pháp đẩy mạnh tiến độ và nâng cao chất lượng chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung hiện nay và những năm
về sau.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu thực tiễn những vấn đề liên quan đến việc huy động, sử dụng
các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung đến
năm 2020; Đánh giá thực trạng công tác huy động, sử dụng các nguồn lực tài
2


chính trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, từ đó chỉ ra những kết
quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cụ thể; Đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính để đẩy nhanh
quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu thực trạng về sự tham gia của người
dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung. Thông qua phân tích
thực trạng sẽ đưa ra những kiến nghị giúp tăng cường sự tham gia của người dân
trong xây dựng nông thôn mới cho từng cấp chính quyền ở địa phương.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Đánh giá của người dân về xây dựng nông thôn mới của huyện Lai Vung
như thế nào?
Những nguồn lực tài chính nào được huy động và sử dụng để thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên
cứu, ý nghĩa ngiên cứu và kết cấu luận văn; Chương hai là phần lí luận và thực
tiễn, trình bày một số vấn đề chung về nông thôn và việc xây dựng nông thôn
mới ở Việt Nam, nghiên cứu về nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn
mới, lí thuyết về sự tham gia của người dân, mối quan hệ giữa việc huy động, sử
dụng nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông
thôn mới, kinh nghiệm về việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự
tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới của một số địa phương;
Chương ba nói về phương pháp nghiên cứu, tập trung vào các phương pháp thu
thập và xử lí số liệu và phương pháp phân tích; Chương bốn nêu thực trạng việc
huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung. Chương này tập trung
làm rõ các vấn đề về hiện trạng nông thôn của huyện trước khi triển khai xây
dựng nông thôn mới, thực trạng xây dựng nông thôn mới của huyện giai đoạn
2011-2018, kết quả việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham
gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn
4


2011-2018, tình trạng nguồn lực tài chính còn thiếu và sự ảnh hưởng của người
dân đối với việc xây dựng nông thôn mới của huyện, đồng thời đánh giá chung
kết quả việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của
người dân trong xây dựng nông thôn mới. Từ đó có sự phân tích các thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và
sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới cũng như đưa ra dự
báo các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc huy động, sử dụng các nguồn lực
tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trong thời
gian tới; Chương năm trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, các giải pháp để
nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính và sự
tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện, kết luận và

có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn”.
Vậy, hiểu một cách chung nhất thì nông thôn là địa bàn sinh sống chủ
yếu của người nông dân gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính và
được quản lý bởi chính quyền cấp xã.
6


Về vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, theo Ngân hàng
thế giới (1998) thì: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các
điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở
vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống
ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”. Theo Nguyễn Quế
Hương (2013) thì “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một
cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước
và các tổ chức khác.
Ở Việt Nam, về mặt chính sách, cho đến năm 2007, vẫn chưa có chính
sách cụ thể đối với nông thôn. Chính sách phát triển nông thôn nằm trong khuôn
khổ chính sách nông nghiệp. Khái niệm “phát triển nông thôn” xuất hiện trong
lĩnh vực chính sách của Việt Nam sau năm 2007, khi nghị quyết số 26 - NQ/TƯ
ngày 05/8/2008 hội nghị lần thứ bảy ban chấp hành trung ương khoá X về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn có nêu “Nông thôn mới là khu vực nông thôn có
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn
dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo
vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lúc này khái niệm về “nông
thôn mới” đã bắt xuất hiện và được Vũ Trọng Khải (2015) định nghĩa như sau:
“Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức

hội và đây là nội dung trọng yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
Thứ ba, cần phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương.
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, các chính
sách hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở
địa phương bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.

8


Thứ tư, phải có sự kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc
gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển
khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có
chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động
đóng góp của các tầng lớp dân cư.
Như vậy, xây dựng nông thôn mới chính là thực hiện chương trình phát
triển toàn diện, bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm nâng cao
đời sống người dân và ổn định xã hội. Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời
sống dân cư tại cộng đồng và xây dựng một xã hội nông thôn năng động, văn
hoá hiện đại nhưng vẫn bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống, đồng thời,
ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo.
Các nguyên tắc khi xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí quốc
gia được quy định tại quyết định số 800/QĐ - TTg ngày 04/6/2010 của thủ
tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới và quyết định số 1980/QĐ - TTg ngày 17/10/2016 của thủ tướng
chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn
2016 – 2020. Theo đó, trong xây dựng nông thôn mới, cần đảm bảo 5 nguyên
tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất, xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát

xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; (2) Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng ở nông thôn. Về cơ bản, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Đó cũng là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh
và bền vững. Xuất phát từ thực trạng kinh tế của nước ta cũng như yêu cầu đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới, đòi
hỏi phải không ngừng phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng nông
thôn làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; (3) Cần khuyến
khích hơn nữa các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây
dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông thôn. Đổi mới cơ chế, chính sách để
10


huy động mạnh nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng. Có chính sách phù hợp
thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn hỗ trợ cho xây dựng công trình
hạ tầng. Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm theo hướng Nhà
nước đầu tư vốn, người dân đóng góp thêm vốn hoặc nhân công. Khuyến khích,
vinh danh các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhiều đóng góp cho xây
dựng kết cấu hạ tầng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; (4) Quản lý các vấn
đề xã hội, an ninh và trật tự khu vực nông thôn trên các lĩnh vực: phát triển giáo
dục và đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng toàn diện, chú trọng công tác
chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, thực hiện các
tiêu chí về văn hóa xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng môi trường
nông thôn ổn định về chính trị, an toàn về trật tự xã hội, tạo thuận lợi cho kinh tế
- xã hội địa phương phát triển ổn định; (5) Huy động các nguồn lực cho xây
dựng nông thôn mới là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản
lý, qua đó nhằm huy động nguồn lực vật chất, tài chính và cả nguồn lực về tinh
thần toàn xã hội để xây dựng nông thôn mới, tạo bước chuyển biến đáng kể về
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của cư
dân nông thôn.

chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2010-2020 thì nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng
40% tổng nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
thôn mới, tiếp đến là vốn tín dụng (khoảng 30%), vốn từ các doanh nghiệp và
các tổ chức kinh tế khác (khoảng 20%) và huy động đóng góp của cộng đồng
dân cư (khoảng 10%). Từ yêu cầu trên đòi hỏi trong quản lý nhà nước về xây
dựng nông thôn mới phải có cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa
dạng hóa các nguồn vốn, thông qua: lồng ghép các nguồn vốn của các chương
trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn;
huy động tối đa nguồn lực của địa phương, kêu gọi sự đóng góp của nhân dân;
các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong
12


và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp
pháp khác.
Vấn đề huy động và quản lý các nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn
mới cần đảm bảo tính cân đối phù hợp, tính hiệu quả trong huy động nguồn lực
nói riêng và thu ngân sách ở địa phương nói chung. Vai trò của nhà nước ở đây
là tạo lập, huy động mọi nguồn vốn đầu tư, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng để
phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các quỹ phòng chống thiên tai, quỹ
xóa đói giảm nghèo để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn,
đáp ứng các tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, để huy động tối đa nguồn lực cho
chương trình, các địa phương cần tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành,
sự đóng góp của tổ chức, cá nhân, các nguồn vốn trong và ngoài nước; lồng
ghép các chương trình dự án; phát huy nội lực bằng các biện pháp như: tăng thu
từ đất, đấu giá quyền sử dụng đất; có giải pháp khuyến khích nhân dân cùng
tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội theo phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó xác định rõ cơ chế huy động vốn

ngoài có thời hạn theo hợp đồng. Nguồn lực tài chính để thực hiện vấn đề này
thường được thực hiện theo chủ trương “xã hội hoá”, có sự chung tay của nhà
nước, các doanh nghiệp và bản thân người lao động. Đồng thời, khi kinh tế phát
triển, người nông dân sẽ có nhu cầu nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, thông
qua các hoạt động về giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và các vấn đề khác. Các
hoạt động đó, vì thế, cũng sẽ được quan tâm đầu tư và phát triển.
Như vậy, vai trò của nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới:
(1) Là điều kiện cần thiết để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; (2)
Nguồn lực tài chính cung cấp vốn cho phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất
bằng nhiều hình thức khác nhau tùy vào dự án: cho vay với lãi suất ưu đãi thấp
hơn ngân hàng thương mại, hỗ trợ vốn ban đầu; (3) Việc phân phối các nguồn
lực tài chính là điều kiện khuyến khích, hỗ trợ tích cực cho chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa; (4) Nguồn lực tài
chính góp phần quan trọng trong việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát
triển văn hóa – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân;
14


(5) Nguồn lực tài chính là công cụ thúc đẩy nông thôn hội nhập kinh tế với các
vùng miền của cả nước và hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc làm đường,
xây cầu.
Muốn xác định được nguồn lực nào là nguồn lực tài chính thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới, cần xem xét trên các đặc điểm sau: (1)
Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được
huy động từ mọi đối tượng trong toàn xã hội. Ban đầu có sự hỗ trợ từ nguồn
ngân sách nhà nước, sau đó là có sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp,
các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức tín dụng, từ người dân và một số
nguồn ngoài ngân sách khác; (2) Các nguồn lực tài chính huy động để thực
hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được phân bổ và sử dụng một
cách công khai, minh bạch, chi tiết, cụ thể cho từng nội dung thực hiện; (3)

bộ 100% vốn. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể hỗ trợ đóng góp cho xây
dựng các công trình cụ thể của địa phương. Huy động hiệu quả nguồn vốn này
sẽ có tác động to lớn đến phát triển kinh tế; (4) Nguồn lực tài chính từ cộng
đồng dân cư gồm các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân
ở các địa phương cho từng dự án cụ thể và các ủng hộ, đóng góp của các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước, đồng thời, người dân đóng góp cho chương
trình với tư cách là chủ thể của chương trình, vừa là người tổ chức thực hiện
vừa là người thụ hưởng kết quả của chương trình. Họ có thể tự đầu tư bằng
cách nâng cấp nhà cửa hoặc tự nguyện đóng góp bằng nhiều hình thức cho
chương trình xây dựng nông thôn mới như: tiền, góp công và hiến đất.
Nếu phân loại nguồn lực tài chính theo xuất xứ: (1) Nguồn lực tài chính
trong nước bao gồm nguồn lực từ khu vực nhà nước và nguồn lực từ khu vực
tư nhân. Nguồn lực tài chính từ khu vực nhà nước gồm: nguồn vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước, từ các doanh nghiệp nhà nước, từ các tổ chức tài chính
trung gian của nhà nước. Nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân gồm: nguồn
lực từ các doanh nhiệp tư nhân, của các tổ chức tín dụng từ khu vực tư nhân,
nguồn vốn tiết kiệm của các hộ gia đình, cá nhân; (2) Nguồn lực tài chính từ
nước ngoài gồm: nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status