BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ LAN ANH
TÁC ĐỘNG CỦA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH VÀ
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN
HÀNH VI TRÁNH THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ LAN ANH
TÁC ĐỘNG CỦA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH VÀ
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN
HÀNH VI TRÁNH THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.5. NÉT MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU ............................................................................. 4
1.6. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ............................................................................. 4
1.7. KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 4
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ........ 6
2.1. HÀNH VI TRÁNH THUẾ ..................................................................................................... 6
2.1.1.
Khái niệm hành vi tránh thuế .................................................................................. 6
2.1.2.
Các hành vi tránh thuế thường gặp ......................................................................... 8
2.2. KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH...................................................................................................... 17
2.2.1.
Định nghĩa kiệt quệ tài chính ................................................................................. 17
2.2.2.
Các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính.................................................................. 19
2.3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................................................... 25
2.3.1.
Lý thuyết lợi ích – chi phí (Benefit cost theory) .................................................... 25
2.3.2.
Lý thuyết chuyển đổi rủi ro (Risk-Shifting theory) .............................................. 25
Xác định mẫu nghiên cứu ....................................................................................... 42
3.3.2.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................... 43
3.3.3.
Cách trích xuất nguồn dữ liệu................................................................................ 45
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................................... 47
4.1.
THỐNG KÊ MÔ TẢ ............................................................................................... 47
4.2.
PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN SỐ ..................................................... 48
4.3.
KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY .......................................................................... 50
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 60
5.1. KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 60
5.2. KHUYẾN NGHỊ................................................................................................................... 61
5.2.1.
Đối với Tổng cục Thuế ................................................................................................. 61
CĐKT
:
Cân đối kế toán
CTCP
:
Công ty cổ phần
EAT
:
Earnings After Taxes – Thu nhập sau thuế
EBIT
:
Earnings Before Interest After Taxes – Thu nhập trước thuế và
lãi vay
HoSE
:
Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh
Bảng 3.2.
Bảng tóm tắt đo lường các biến số
Bảng 3.3.
Dữ liệu và nguồn thu thập dữ liệu các biến số
Bảng 4.1.
Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Bảng 4.2.
Ma trận hệ số tương quan các biến
Bảng 4.3.
Mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi
tránh thuế bằng phương pháp ước lượng FEM, REM
Bảng 4.4.
Mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, khủng hoảng tài chính và hành vi
tránh thuế bằng phương pháp ước lượng GLS
Bảng 4.5.
Tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt quệ tài
Phước, 2010). Tuy nhiên, hành vi tránh thuế của doanh nghiệp lại ngày một phổ biến,
phức tạp và tinh vi. Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả tập trung vào hành vi tránh
thuế của doanh nghiệp.
Về phía doanh nghiệp, tối đa hoá lợi ích, gia tăng lợi nhuận luôn là các mục tiêu được
hướng đến. Mục tiêu này được thực hiện thông qua tối đa hoá doanh thu và/hoặc tối
thiểu hoá chi phí. Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là khoản chi phí
luôn được doanh nghiệp cố gắng tối thiểu vì có tác động trực tiếp đến lợi nhuận thực
nhận của doanh nghiệp. Vì là hành vi không vi phạm pháp luật nên doanh nghiệp
2
luôn có động cơ để tối thiểu chi phí thuế TNDN thông qua hành vi tránh thuế. Điều
này càng được tận dụng triệt để nếu công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính vì
công ty không thể gia tăng doanh thu. Đặc biệt, khi khủng hoảng tài chính năm 2008
bùng nổ, số lượng công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính tại Việt Nam gia tăng
nhanh chóng, thì động cơ tránh thuế càng được thực hiện một cách mạnh mẽ.
Về phía nhà nước, thuế là một trong những nguồn thu ngân sách chính của Chính
phủ. Tại Viêt Nam, tỷ lệ tổng thu thuế/GDP hiện đang ở mức 22% (giai đoạn 2006 2012), cao hơn một số nước trong khu vực như Thái Lan (16,31%); Malaysia
(14.79%). Điều này chứng tỏ Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào nguồn thu từ thuế.
Về cơ cấu, thuế được chia thành hai phần: thuế trực thu và thuế gián thu, trong đó,
thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại hình của thuế trực thu. Theo xu thế phát triển,
tỷ lệ đóng góp thuế trực thu sẽ ngày càng tăng trong cơ cấu các nguồn thu ngân sách
Nhà nước; và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Xu thế này một lần nữa
càng thúc đẩy doanh nghiệp có động cơ để thực hiện hành vi tránh thuế.
Từ những vấn đề đặt ra, tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của kiệt quệ tài chính và
khủng hoảng tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp - Nghiên cứu
thực nghiệm tại Việt Nam” làm chủ đề cho luận văn thạc sĩ của mình. Tác giả kỳ
vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, các cơ
quan quản lý Nhà nước sẽ có thêm căn cứ để đưa ra các chính sách, biện pháp phù
Stata 12.0 để xem xét tác động của kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài chính đến
hành vi tránh thuế. Với dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng không cân bằng, phương
pháp nghiên cứu được sử dụng là mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model,
FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM). Để lựa chọn
mô hình hồi quy phù hợp, tác giả sử dụng kiểm định Hausman. Sau đó tác giả tiến
hành kiểm định các khuyết tật của mô hình như hiện tượng phương sai sai số thay đổi
và hiện tượng tự tương quan. Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát
(Generalized Least Squares Regression – GLS) được sử dụng để khắc phục các
khuyết tật (nếu có).
4
1.5. NÉT MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU
Nghiên cứu về hành vi tránh thuế đã được nhận được sự quan tâm của các học giả trên
thế giới và Việt Nam nhưng nghiên cứu hành vi tránh thuế thông qua tác động của kiệt
quệ tài chính và khủng hoảng tài chính vẫn chưa được quan tâm nhiều tại Việt Nam.
Đồng thời, việc xem xét tác động của khủng hoảng tài chính đến mối quan hệ giữa kiệt
quệ tài chính và hành vi tránh thuế cũng được xem là một nét mới của đề tài.
1.6. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Với mục tiêu nghiên cứu được xác định, đề tài kỳ vọng mang lại những ý nghĩa khoa
học và thực tiễn sau:
Về ý nghĩa khoa học
Bổ sung cho các kết quả nghiên cứu hiện có trên thế giới, cung cấp thêm bằng
chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và khủng hoảng tài
chính đến hành vi tránh thuế tại Việt Nam;
Là cơ sở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này tại Việt Nam.
Về ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách, Tổng cục Thuế và
cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra các chính sách, biện pháp nhằm hạn chế hành
sách, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính quan tâm. Cũng chính vì lý do đó, mà đến
nay đã có nhiều nghiên cứu về hành vi tránh thuế được thực hiện, cũng như tồn
tại nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau xoay quanh khái niệm này. Thuật
ngữ tránh thuế trong tiếng Anh cũng được thể hiện bằng các cụm từ khác nhau
như tax aggressiveness, tax avoidance, tax management, tax planning, tax
shelters. Nhiều tác giả xem các cụm từ trên là khác nhau nhưng đa phần các tác
giả đều xem các cụm từ này cùng có nghĩa là tránh thuế.
Theo Rego (2003), Chen & cộng sự (2010), hành vi tránh thuế là các hành vi
làm giảm thu nhập tính thuế thông qua hoạt động lập kế hoạch thuế. Hoạt động
lập kế hoạch thuế có thể là các hoạt động hợp pháp, không hợp pháp, hoặc cũng
có thể rơi vào vùng xám (vùng giao thoa giữa hợp pháp và không hợp pháp).
Hành vi tránh thuế cũng có thể là một chuỗi liên tục các hành vi rơi vào vùng
xám. Ngược lại, Frischmann, Shevlin & Wilson (2008) cho rằng hành vi tránh
thuế được thực hiện khi thuế đóng một vị trí quan trọng trong khi các biện pháp
quản lý lại lỏng lẻo. Cụ thể hơn, Lisowsky, Robinson & Schmidt (2010) chỉ ra
rằng hành vi tránh thuế là một tập hợp các hoạt động nhằm tránh bị đánh thuế
1
Như giảm được thuế phải đóng, tăng dòng tiền, duy trì xếp hạng tín dụng ở mức cao
2
Như chi phí kiểm toán và kiện tụng, các khoản phạt, thiệt hại danh tiếng
7
được thực hiện liên tục bắt nguồn từ việc lập kế hoạch thuế đúng với pháp luật,
thông qua việc sử dụng các công ty ở nước ngoài (các công ty vỏ bọc), hoặc ở
các thiên đường thuế3.
Trong thực tế, hành vi tránh thuế không chỉ được phát hiện trong thuế thu nhập
doanh nghiệp mà còn bắt gặp trong thuế thu nhập cá nhân, thuế nhập khẩu, thuế
trước bạ. Một số hành vi tránh thuế thường gặp tại Việt Nam như:
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN)
-
Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu
tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm,
hàng hóa, công trình xây lắp làm tăng chi phí trong kỳ.
-
Chọn đăng ký phương thức khấu hao (phương thức đường thẳng; theo số dư
giảm dần có điều chỉnh; hay theo số lượng, khối lượng sản phẩm) tùy theo
dự kiến doanh nghiệp sẽ có lãi hay bị lỗ.
-
Doanh nghiệp đi vay tiền chịu lãi để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
và đưa tiền lãi đó vào chi phí để giảm thu nhập chịu thuế thay vì yêu cầu cổ
đông, thành viên góp vốn tự đi vay tiền để góp vốn điều lệ.
Thuế thu nhập cá nhân
-
Chọn đối tượng nộp thuế là vợ hoặc chồng tùy theo thu nhập cao thấp của
từng người trong việc kê khai giảm trừ gia cảnh đối với số người phụ thuộc
trong gia đình nhằm mục đích giảm số thuế phải trả.
-
+ 2.26 * ROA + 1.62 * FOREIGN_INCOME + 1.56 * RD
Trong đó:
-
BTD (book-tax difference): chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách, được tính
bằng cách lấy hiệu số giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế chia cho
tổng tài sản;
-
LEV: tỷ số giữa nợ dài hạn và tổng tài sản;
-
SIZE: quy mô công ty, được tính bằng logarit của tổng tài sản;
-
ROA: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, được tính bằng thu nhập ròng chia
tổng tài sản;
-
FOREIGN_INCOME: biến giả, bằng 1 nếu công ty có thu nhập ở nước
ngoài, ngược lại bằng 0;
-
RD: tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) trên tổng tài sản.
BTG =
Thu nhập kế toán trước thuế − thu nhập tính thuế
Tổng tài sản đầu năm
11
Trong đó:
Thu nhập tính thuế =
Chi phí thuế TNDN hiện hành
Thuế suất theo quy định
Theo Manzon & Plesko (2002), BTG càng lớn sẽ thể hiện mức độ tránh thuế
càng cao.
2.1.3.3. Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên phần dư của khe hở thuế
theo sổ sách (BTG residual)
Đồng quan điểm với Manzon & Plesko (2002) về cách đo lường hành vi tránh
thuế dựa trên khe hở thuế theo sổ sách, Desai & Dharmapala (2006) đã xây dựng
cách đo lường hành vi tránh thuế dựa trên quan điểm khe hở thuế theo sổ sách
và tổng giá trị kế toán dồn tích.
Tổng giá trị kế toán dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận trên Bảng KQHĐKD
(lợi nhuận được ghi nhận trên cơ sở dồn tích4) và dòng tiền trên BCLCTT (dòng
tiền được ghi nhận trên cơ sở tiền5) (Nguyễn Thị Minh Trang, 2012). Ghi nhận
lợi nhuận cho phép nhà quản lý thực hiện điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ
quan nào đó, trong khi đó ghi nhận dòng tiền không cho phép nhà quản lý thực
hiện điều chỉnh. Theo các nhà nghiên cứu thì tổng giá trị kế toán dồn tích được
chia làm hai phần: phần không thể điều chỉnh và phần có thể điều chỉnh từ ban
giám đốc. Ví dụ như giảm khoản nợ phải thu do phải tăng dự phòng phải thu
BTG: khe hở thuế theo sổ sách
BTG =
Thu nhập kế toán trước thuế − thu nhập tính thuế
Tổng tài sản đầu năm
ToA: Tổng giá trị kế toán dồn tích
ToA =
Thu nhập kế toán sau thuế − Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
Tổng tài sản đầu năm
μ: phần dư.
: sai số.
Từ đó suy ra TA (Tax Aggressiveness - tránh thuế) = μ + ; TA càng lớn mức
độ tránh thuế càng lớn.
2.1.3.4. Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên chênh lệch vĩnh viễn
(Permanent book-tax differences - DTAX)
DTAX được Frank & cộng sự xây dựng năm 2009. DTAX được đo lường như
phần dư của mô hình hồi quy:
PERMDIFFit = α0 + α1INTANGit + α2UNCON1it+ α3MIit + α4OSit
+ α5TTEit + α6ΔNOLit + α7 PERMDIFFit-1 + it
13
Trong đó:
PERMDIFF: hiệu số giữa khe hở thuế theo sổ sách và chênh lệch tạm thời,
được tính toán bằng công thức.
PERMDIFFit = {BIit − [(CFTEit + CFORit) / CSTRit]} − (DTEit / CSTRit)
lệch vĩnh viễn. DTAX dựa trên ý tưởng đo lường hành vi tránh thuế dựa trên
chênh lệch vĩnh viễn này. Frank & cộng sự (2009) cho rằng một số sự kiện
không thể lập kế hoạch thuế từ trước, như tài sản cố định vô hình, các chi phí
thuế theo quy định Nhà nước, thay đổi trong vốn lưu động ròng và lợi ích cổ
đông thiểu số sẽ làm phát sinh chênh lệch tạm thời, từ đó phát sinh hành vi tránh
thuế. Theo Frank & cộng sự (2009) thì DTAX càng lớn thì mức độ tránh thuế
càng cao.
14
2.1.3.5. Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên thuế suất hiệu dụng
Ngoài ra, đo lường hành vi tránh thuế còn dựa trên thuế suất hiệu dụng (Cash
effective tax rate CASHETR), phản ánh kết quả của các hành vi tránh thuế
(Hanlon & Heitzman, 2010).
CASHETR =
Số tiền thuế thực trả
Lợi nhuận kế toán trước thuế
CASHETR dựa trên ý tưởng các nhà quản lý ý thức được rằng việc lập kế hoạch
thuế hiệu quả có khả năng làm giảm chi phí thuế phải nộp (Dyreng & cộng sự,
2008). Trong thực tế, cách đo lường bằng CASHETR lại phản ánh các chiến
lược tránh thuế, trì hoãn chi phí thuế phải nộp sang các giai đoạn sau, nhưng
không tác động đến chi phí thuế TNDN hiện hành trên báo cáo tài chính. Ngoài
ra, CASHETR cũng không bị tác động bởi sự thay đổi chính sách thuế bất ngờ
hoặc dự phòng, do đó cung cấp một cách ước lượng chính xác cho hành vi tránh
thuế ở cấp độ công ty (Dyreng & cộng sự, 2008). Tuy nhiên một hạn chế của
CASHETR là không thể hiện sự khác biệt giữa hoạt động thực sự được ưu đãi
về thuế và các hoạt động khác nhằm mục đích tránh thuế (Hanlon & Heitzman,
Mô tả
Nhà nghiên
cứu đại diện
Chỉ số SHELTER càng cao thì khả năng
công ty có hành vi tránh thuế càng lớn
Đo lường hành vi tránh thuế thông qua chênh
lệch giữa thu nhập kế toán trước thuế theo
Dựa trên khe
quan điểm của kế toán và quan điểm của
hở thuế theo
thuế, được đại diện bằng chỉ số BTG.
sổ sách
Chỉ số BTG càng cao thì khả năng công ty có
Manzon &
Plesko
(2002)
hành vi tránh thuế càng lớn
Đo lường hành vi tránh thuế thông qua khe
hở thuế theo sổ sách và tổng giá trị kế toán
Dựa trên phần dồn tích. Khe hở thuế theo sổ sách được phân
hoạch thuế từ trước làm phát sinh chênh lệch
(2009)
vĩnh viễn, từ đó làm phát sinh hành vi tránh
thuế, được đại diện bằng chỉ số DTAX.
16
Phương pháp
đo lường
Mô tả
Nhà nghiên
cứu đại diện
Chỉ số DTAX càng cao thì khả năng công ty
có hành vi tránh thuế càng lớn.
Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên ý tưởng
số tiền thuế thực trả trên thu nhập kế toán
trước thuế, thể hiện một chiến lược tránh
Dựa trên thuế
Hanlon &
thuế, trì hoãn thuế sang các giai đoạn khác,
phiếu ưu đãi. Các định nghĩa tương tự cũng có thể được tìm thấy ở các nghiên
cứu của Andrade & Kaplan (1998) và Opler & Titman (1994).
2.2.1.2. Kiệt quệ tài chính theo quá trình
Tiếp theo, định nghĩa kiệt quệ tài chính được phát triển theo hướng quá trình,
bằng nghiên cứu của Gordon (1971). Gordon (1971) nhấn mạnh rằng kiệt quệ
tài chính chỉ là một trạng thái của một quá trình, theo sau là phá sản và quá trình
tái cấu trúc. Một công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi khả năng tạo
ra thu nhập suy giảm và các khoản nợ đã vượt quá giá trị tài sản của công ty.
Kiệt quệ tài chính được mô tả khi tỷ suất sinh lợi từ trái phiếu của công ty thấp
hơn lãi suất phi rủi ro và công ty khó nhận được sự tài trợ từ bên ngoài.
Purnanandam (2008) xem xét kiệt quệ tài chính trong mối tương quan với khả
18
năng thanh toán các khoản nợ của công ty. Ông đã phát triển một mô hình về
quản trị rủi ro công ty, trong đó có sự hiện diện của kiệt quệ tài chính. Theo đó,
kiệt quệ tài chính được xem như một trạng thái trung gian giữa trạng thái có khả
năng thanh toán và mất khả năng thanh toán. Một công ty lâm vào tình trạng
kiệt quệ tài chính khi trễ hạn trả lãi các khoản vay hoặc vi phạm các khế ước
nhận nợ. Thời điểm chuyển từ trạng thái có khả năng thanh toán sang trạng thái
mất khả năng thanh toán khi giá trị tài sản của công ty thấp hơn giá trị gốc của
khoản nợ. Do đó, định nghĩa này khẳng định kiệt quệ tài chính không phải là
tình trạng vỡ nợ hay phá sản, theo đó, công ty có thể rơi vào tình trạng kiệt quệ
tài chính nhưng không dẫn đến vỡ nợ. Tuy nhiên việc công ty vỡ nợ hoặc phá
sản có thể được dự đoán từ các thời kỳ kiệt quệ tài chính trước đó. Ủng hộ quan
điểm trên còn có Gilbert & cộng sự (1990), Ward & Foster (1997) và Pindado
& Rodrigues (2005).
2.2.1.3. Kiệt quệ tài chính theo kỹ thuật
Nhóm cuối cùng trong việc định nghĩa kiệt quệ tài chính là dựa vào các tỷ số tài