Truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng nghiên cứu thực nghiệm ở việt nam - Pdf 19

Mã số: …………….

TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
QUA KÊNH TÍN DỤNG: NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM Ở VIỆT NAM 35
i

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài:
Chính sách tiền tệ là chính sách vĩ mô quan trọng trong điều hành kinh tế của bất kỳ quốc

khác (sản lượng công nghiệp, CPI, xuất khẩu, nhập khẩu và dự trữ ngoại hối) nhằm mục
đích trả lời các câu hỏi sau:
Tồn tại những kênh truyền dẫn nào trong cơ chế truyền dẫn CSTT đến các biến vĩ mô, đặc
biệt là kênh tín dụng?
Nếu có tồn tại kênh tín dụng, thì sự truyền dẫn của nó là mạnh hay yếu?
Tác động của CSTT Việt Nam đến khoản vay cho các lĩnh vực khác nhau có khác nhau
hay không và nếu có, kênh cho vay trong lĩnh vực nào truyền dẫn tác động của CSTT đến
nền kinh tế mạnh mẽ và hiệu quả nhất?
CSTT Việt Nam có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Việt Nam (xuất khẩu, nhập khẩu
và dự trữ ngoại hối) không?
Giữa các biến số đại diện cho CSTT, các biến BCĐKT ngân hàng và các biến vĩ mô khác
có tồn tại mối quan hệ dài hạn nào không?
3. Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên một bài nghiên cứu tương tự của nhóm tác giả ở Trung Quốc chúng tôi tiến hành
bài nghiên cứu này với các mục tiêu như đã đề cập ở trên.
Đầu tiên, về mặt định tính, chúng tôi tiến hành phân tích lý thuyết nền tảng về cơ chế truyền
dẫn CSTT thông qua kênh tín dụng ngân hàng.
Sau đó, về mặt định lượng, chúng tôi đã xác định và nghiên cứu sự tồn tại của các kênh
truyền dẫn của CSTT ở Việt Nam, chú ý đặc biệt đến kênh tín dụng và mối tương quan dài
hạn giữa các biến vĩ mô và các tham số CSTT bằng cách dùng mô hình VAR/ VECM với
kiểm định đồng liên kết Trace Johansen.
Thứ tự các bước nghiên cứu định lượng như sau:
Bước 1: Điều chỉnh yếu tố mùa vụ với chuỗi đã lấy logarit
Bước 2: Tiến hành kiểm định tính dừng ADF và kiểm định đồng liên kết Trace Johansen
Bước 3: Lựa chọn độ trễ trong VAR
Bước 4: Kiểm định tính phù hợp và ổn định của mô hình VAR đã hồi qui
iii

Bước 5: Thực hiện hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai
Bước 6: Hồi qui mô hình VECM

chế của kênh này.
Cuối cùng, chương 5: kết luận sẽ tổng kết lại các kết quả thu được thì những phân tích trên.
Trình bày những giải pháp để tăng hiệu quả hoạt động của kênh tín dụng cũng như những
hạn chế và hướng phát triển cho đề tài sau.
5. Đóng góp của đề tài:
Trước hết, chúng ta có thể hiểu phần nào về cơ chế truyền dẫn CSTT đến nền kinh tế thông
qua kênh tín dụng về mặt lý thuyết.
Thứ hai, việc phát hiện ra sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng hàm ý rằng CSTT ở VN
có thể tác động đến các hoạt động vĩ mô bằng cách hạn chế hoặc tăng việc cho vay thông
qua kênh tín dụng ngân hàng. Hơn nữa, do thị trường vốn của VN có qui mô còn nhỏ và
chưa trưởng thành, trong đó, huy động vốn trực tiếp thì khó khăn và hạn chế, kênh tín dụng
ngân hàng đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thi hành CSTT của VN để đạt
được các mục tiêu của mình. Việc xác nhận kênh giá cả tài sản trong cơ chế truyền dẫn
CSTT ở VN có thể đóng góp đáng kể đến việc phát triển thị trường tài chính VN.
Thứ ba, sự đa dạng trong phản ứng của các khoản vay ngân hàng cho các lĩnh vực kinh tế
khác nhau trước các cú sốc CSTT mở rộng cho thấy CSTT VN đóng vai trò trong việc
phân phối nguồn vốn, tăng trưởng và ổn định kinh tế.
Thứ tư, xác định rằng CSTT có tác động đến xuất khẩu và nhập khẩu, do đó, nó đã ảnh
hưởng đến dự trữ ngoại hối và sản lượng.
Thứ năm, cho thấy mối tương quan dài hạn giữa các chỉ số của CSTT VN, các biến trên
BCĐKT và các biến kinh tế thực, khẳng định vai trò đáng kể của tín dụng ngân hàng trong
nền kinh tế VN.
6. Hướng phát triển của đề tài:
Hạn chế lớn nhất của bài nghiên cứu này là do vấn đề công bố thông tin còn hạn chế nên
việc thu thập dữ liệu về BCĐKT ngân hàng và các khoản vay phân loại theo lĩnh vực kinh
tế khá khó khăn. Việc chuyển dữ liệu BCĐKT ngân hàng từ quý và năm sang tháng; và nội
suy tỷ lệ phần trăm các khoản vay theo lĩnh vực kinh tế chiếm bao nhiêu trong tổng các
khoản vay ở những thời điểm NHNN không công bố có thể đã làm cho dữ liệu có sai số
v


4.1. Kết quả hồi qui mô hình vector tự hồi qui VAR 26
4.1.1. Kết quả cho nhóm ngân hàng tổng hợp (nhóm tổng khoản vay) 26
4.1.2. Các kết quả cho nhóm dữ liệu ngân hàng tách biệt (nhóm các loại ngân hàng) 31
4.1.3. Các kết quả cho nhóm các khách hàng vay khác nhau (khoản vay cho các lĩnh vực kinh tế
khác nhau) 35
4.1.4. Các kết quả nghiên cứu về tác động của CSTT VN đến thương mại quốc tế VN: 39
4.2. Kết quả hồi qui mô hình ước lượng vector hiệu chỉnh sai số VECM 43
4.3. Bằng chứng về truyền dẫn CSTT đến nền kinh tế qua kênh tín dụng 46
5. KẾT LUẬN 48
5.1. Các kết quả nghiên cứu 48
5.2. Đề xuất nâng cao hiệu quả truyền dẫn CSTT thông qua kênh tín dụng 49
5.3. Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 2
Phụ lục 1. Kết quả kiểm định đồng liên kết. 2
Phụ lục 2. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với phần dư của các mô hình 5
Phụ lục 3. Kết quả kiểm định AR Roots Graphs. 13
Phụ lục 4. Đổi mới về mặt cấu trúc của CIBR và tốc độ tăng M2: 14

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCĐKT: Bảng cân đối kế toán
CSTK: Chính sách tài khóa
CSTT: Chính sách tiền tệ
IFS: Thống kê tài chính quốc tế
NK: Nhập khẩu
NH: Ngân hàng
NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
NHTM: Ngân hàng thương mại

Hình 2. Phân tích yếu tố mùa vụ của các biến số. Nguồn: Tự vẽ (excel và eviews 6.0) 19
Hình 3. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm tổng các khoản vay trước cú sốc CIBR. Nguồn: eviews 6.0 28
Hình 4. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm tổng các khoản vay trước cú sốc M2. Nguồn: eviews 6.0 30
Hình 5. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm các loại ngân hàng trước cú sốc CIBR. Nguồn: Eviews 6.0 33
Hình 6. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm các loại ngân hàng trước cú sốc M2. Nguồn: Eviews 6.0 34
Hình 7. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm các loại khoản vay trước cú sốc CIBR. Nguồn: Eviews 6.0 36
Hình 8. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm các loại khoản vay trước cú sốc M2. Nguồn: Eviews 6.0 37
Hình 9. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm thương mại quốc tế trước cú sốc CIBR. Nguồn: Eviews 6.0 41
Hình 10. Hàm phản ứng đẩy cho nhóm thương mại quốc tế trước cú sốc M2. Nguồn: Eviews 6.0 42
Hình 11. Đồ thị đồng liên kết cho nhóm tổng khoản vay khi CIBR là một chỉ số CSTT. Nguồn: eviews
6.0 44
Hình 12. Đồ thị đồng liên kết cho nhóm tổng khoản vay khi M2 là một chỉ số CSTT. Nguồn: eviews
6.0 45
Hình 13: Tốc độ tăng cung tiền và tiền gửi ngân hàng. Nguồn: NHNN 46
Hình 14: Tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng và tín dụng. Nguồn: NHNN 47
Hình 15: Tốc độ tăng của một số chỉ tiêu. Nguồn: NHNN 47

1

1. GIỚI THIỆU
Chính sách tiền tệ là chính sách vĩ mô quan trọng trong điều hành kinh tế của bất kỳ quốc gia
nào với những mục tiêu như duy trì giá cả ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn
việc làm và ổn định thị trường tài chính…Bên cạnh việc xác định mục tiêu ưu tiên và sử dụng
những công cụ phù hợp trong từng thời kỳ thì quá trình truyền tải CSTT tới nền kinh tế đóng
vai trò quyết định nhằm đạt được những mục tiêu trên.
Cơ chế truyền dẫn tiền tệ (MTM) là một tiến trình thông qua CSTT (những thay đổi trong
lượng tiền trong lưu thông hay mức lãi suất ngắn hạn danh nghĩa) gây nên những thay đổi
trong các biến vĩ mô bằng các kênh truyền dẫn nào đó như kênh lãi suất, kênh tỷ giá, giá tài
sản, kênh tín dụng, kênh tiền tệ…(xem Mishkin, 2010). “Money view” – kênh tiền tệ hoạt
động bằng cách tác động lên lãi suất và tỷ giá. Kênh giá tài sản hoạt động thông qua các hiệu

tín dụng, bởi vì các nghiên cứu gần đây (e.g.,Kashyap & Stein, 1995; Ford et al., 2003) chỉ ra
rằng các kết quả từ dữ liệu ngân hàng tách biệt có thể phản ánh một lý thuyết dựa trên kênh
tín dụng ngân hàng đã được phát triển, đó là thông tin bất cân xứng và khả năng có các rào
cản tài chính trong thị trường vay vốn.
Thứ ba, chúng tôi nghiên cứu tác động của CSTT đến các khu vực kinh tế khác nhau và tốc
độ truyền dẫn CSTT qua các kênh cho vay khác nhau bằng việc phân tách tổng các khoản vay
thành các khoản vay riêng biệt cho từng khu vực kinh tế như: công nghiệp, thương mại và xây
dựng.
Thứ tư, chúng tôi nghiên cứu tác động của CSTT đến thương mại quốc tế Việt Nam (xuất
khẩu, nhập khẩu và dự trữ ngoại hối).
Cuối cùng, chúng tôi xác định vector đồng liên kết giữa các biến và thiết lập mô hình VECM
để khám phá mối tương quan dài hạn giữa các biến đại diện cho CSTT, các biến số liên quan
đến BCĐKT của ngân hàng và các biến vĩ mô khác ở Việt Nam.
Và chúng ta có thể thấy được rằng, tồn tại kênh tín dụng trong cơ chế truyền dẫn CSTT đến
nền kinh tế Việt Nam, tác động thì khác nhau giữa các ngân hàng lớn nhỏ, giữa các khách
hàng vay khác nhau cũng có sự khác biệt nhỏ trong cách CSTT tác động đến nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ cũng có tác động đến thương mại quốc tế Việt Nam. Và cuối cùng, mối
3

tương quan dài hạn giữa các biến số được thiết lập. Kết quả cụ thể sẽ được trình bày ở phần 4
kết quả thực nghiệm.
Phần còn lại của bài bao gồm: phần 2 nói về các nghiên cứu trước đây, phần 3 phân tích dữ
liệu và phương pháp nghiên cứu, phần 4 là kết quả thực nghiệm, phần 5 phân tích thực trạng
truyền dẫn CSTT thông qua kênh tín dụng và cuối cùng, phần 6 sẽ là kết luận của bài.
2. LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TRUYỀN
DẪN TÍN DỤNG
2.1. Cơ sở lý thuyết
Như chúng ta đã biết, vấn đề mà tất cả các NHTW trên thế giới quan tâm để đảm bảo thực thi
CSTT đạt mục tiêu mong muốn, đó là cách thức CSTT tác động đến nền kinh tế, hay kênh
truyền tải CSTT như thế nào là nhanh nhất, hiệu quả nhất. Hiện nay giữa các nhà kinh tế còn

Stiglitz và Weiss (1981), lãi suất giảm xuống có thể tác động thuận chiều làm giảm lợi nhuận
kỳ vọng của ngân hàng, nhưng đồng thời cũng có thể tác động nghịch chiều làm gia tăng khả
năng thành công dự án, tức là giảm thiểu rủi ro của các dự án (rủi ro thấp thường đi kèm với
sinh lợi nhỏ và ngược lại). Ta có công thức:
Lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng = Lãi suất cho vay * Xác suất thành công của dự án. (Giả
định chi phí hoạt động của ngân hàng bằng không)
Sơ đồ: Tác động của kênh tín dụng tới tổng cầu và sản lượng
Lãi suất
Cung tiền
Tiền gửi ngân hàng
Hạn mức tín dụng
Giá cổ phiếu
Lựa chọn nghiệp vụ
có rủi ro thấp
Tín dụng ngân hàng
Giá cả, sản lượng
Đầu tư
5 Thường thì, các ngân hàng sẽ ấn định mức lãi suất cho vay đem lại lợi nhuận kỳ vọng cho
ngân hàng là cao nhất. Tuy nhiên, trong điều kiện thông tin không cân xứng thì việc tăng lãi
suất cho vay chỉ thu hút được các dự án có độ rủi ro cao, do đó làm giảm lợi nhuận kỳ vọng.
Nếu NHNN quy định trần lãi suất cho vay thì các ngân hàng lại sử dụng các công cụ phi lãi
suất (như hạn mức tín dụng) để lựa chọn khách hàng và làm cho kênh truyền dẫn này hiệu quả
hơn. Và ngược lại, nếu lãi suất giảm do CSTT mở rộng của NHNN sẽ làm cho lượng tín dụng
NHTM cấp cho nền kinh tế tăng làm tăng đầu tư và tăng tổng cầu.
Về mặt lượng, công cụ hạn mức tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tiền cung ứng
do đó ảnh hưởng đến đầu tư của xã hội. Khi NHNN thực thi CSTT nới lỏng làm tăng lượng
tiền gửi ngân hàng. Để giải quyết vấn đề mất cân đối giữa cung cầu tín dụng, ngân hàng thương

ro lãi suất cho doanh nghiệp, tình trạng tài chính của doanh nghiệp được cải thiện, các doanh
nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng dễ dàng hơn và do đó lượng tín dụng gia tăng
sẽ làm tăng tổng cầu.
3, Ảnh hưởng qua mức giá cả chung của nền kinh tế: CSTT mở rộng làm cho mức giá cả
chung nền kinh tế tăng lên (không dự tính trước được), làm giảm gánh nặng nợ nần của doanh
nghiệp, giá trị tài sản ròng trên bảng cân đối tài sản do đó mà tăng lên, rủi ro đạo đức và lựa
chọn đối nghịch của ngân hàng giảm xuống, khả năng mở rộng tín dụng gia tăng dẫn đến tăng
sản lượng, tổng cầu.
M↑→P↑→ Giá trị tài sản ròng ↑→Lựa chọn đối nghịch ↓→ Cho vay↑→I ↑→Y ↑.
4, Tình trạng đồng tiền của doanh nghiệp. Các dòng tiền vào (các khoản thu vào) là nguồn trả
nợ chủ yếu cho ngân hàng. Với CSTT mở rộng, lãi suất giảm xuống làm tăng tính thanh khoản
cho bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp, luồng tiền vào dễ dàng hơn. Mức độ tín nhiệm
của doanh nghiệp tăng lên, khả năng trả nợ tăng lên. Ngân hàng có thể mở rộng cho vay, do
đó tăng đầu tư và sản lượng.
M↑→ ↑Dòng tiền vào → ↓lựa chọn đối nghịch và ↓rủi ro đạo đức cho vay →I↑ →Y↑.
7

Kênh tín dụng cũng tác động tới tiêu dùng của hộ gia đình với cơ chế chuyển tải tương tự như
trường hợp các doanh nghiệp. Lãi suất thị trường giảm xuống cũng có tác dụng làm tăng giá
trị tài sản trên bảng cân đối của các hộ gia đình, vì thế khả năng cho vay của ngân hàng đối
với hộ gia đình tăng lên, tổng cầu tăng lên nhờ hệ quả tất yếu của sự tăng tiêu dùng.
Tuy nhiên, hiệu quả tác động của kênh tín dụng phụ thuộc vào các điều kiện sau:
−Nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp. Ảnh hưởng của lãi suất đến nhu cầu đầu tư
doanh nghiệp trong điều kiện thông tin bất cân xứng là kém hiệu quả nếu thị trường tài chính
phát triển, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều nguồn vốn khác nhau trên thị trường một
cách dễ dàng (phát hành trái phiếu, cổ phiếu, tín dụng thương mại…) hoặc tỷ trọng vốn tín
dụng ngân hàng trong tổng nhu cầu của doanh nghiệp ít. Như đã nói ở trên, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ tỏ ra phản ứng với biến động lãi suất qua kênh tín dụng mạnh hơn, vì khả năng
tiếp cận vốn trên thị trường tài chính trực tiếp bị hạn chế.
−Sự phát triển của thị trường các công cụ tài chính phái sinh. Khi lãi suất thay đổi sẽ làm giảm

quyết định tiêu dùng của họ và ảnh hưởng đến mức độ hoạt động kinh tế. Thứ hai, cho vay
ngân hàng bị hạn chế bởi CSTT, chính sách thắt chặt có thể ảnh hưởng đến kinh tế thông qua
kênh tín dụng. Những thay đổi về mặt cấu trúc trong vai trò của ngân hàng đối với hệ thống
tài chính có thể phản ánh CSTT bằng việc thay đổi kênh tín dụng đó.
Một điển hình tiếp theo là bài “Bank loans and the effects of monetary policy in China:
VAR/VECM approach” của nhóm tác giả Lixin Sun, J. L. Ford, David G. Dickinson (China
Economic Review, 2009). Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu các tác động khác
nhau của cú sốc CSTT Trung Quốc đến các biến trên BCĐKT ngân hàng (tiền gửi, khoản vay
và chứng khoán) thông qua các danh mục ngân hàng (ngân hàng tổng hợp, ngân hàng nhà
nước và ngân hàng ngoài quốc doanh) và đến các biến số vĩ mô Trung Quốc (sản lượng, chỉ
số giá tiêu dùng, xuất khẩu, nhập khẩu và dự trữ ngoại hối) bằng các hồi qui các mô hình
VAR/ VECM. Với dữ liệu hơn 10 năm, từ tháng 1/1996 đến 12/2006, bài nghiên cứu đã xác
nhận sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng, kênh lãi suất và kênh giá cả tài sản trong cơ chế
truyền dẫn CSTT ở Trung Quốc ở cả CSTT mở rộng và thắt chặt. Hơn nữa, cú sốc CSTT dẫn
đến các hành vi khác nhau của ngân hàng, tùy theo loại ngân hàng và khoản vay. Các hành vi
khác nhau theo loại ngân hàng và loại khoản vay (khách hàng vay) phản ánh thông tin bất cân
xứng và các rào cản trong thị trường tín dụng. Tác giả cũng tìm thấy rằng, CSTT Trung Quốc
9

có tác động đến xuất khẩu và nhập khẩu, do đó, nó đã ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và sản
lượng bằng cách tác động đến thành phần thương mại trước 2005, khi Trung Quốc duy trì hệ
thống tỷ giá cố định. Cuối cùng, việc xác định mối quan hệ đồng liên kết và các mô hình VEC
cho thấy mối tương quan dài hạn giữa các chỉ số của CSTT Trung Quốc, các biến trên BCĐKT
và các biến kinh tế thực, nó xác nhận một lần nữa rằng khoản vay ngân hàng đóng vai trong
đáng kể trong cơ chế truyền dẫn tác động của CSTT đến nền kinh tế của Trung Quốc.
Tác giả Chu Khánh Lân ở Việt Nam cũng có một bài “Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn
CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam”. Với số liệu được thu thập theo quý từ quý 2 năm 2000
đến quý 4 năm 2011 từ Tổng cục Thống kê và IFS, tác giả sử mô hình VAR để đánh giá vai
trò của kênh tín dụng trong truyền tải CSTT tới nền kinh tế thông qua đo lường mối quan hệ
giữa sản lượng, lạm phát, lãi suất, cung tiền và tín dụng của nền kinh tế Việt Nam. Thông qua

of Monetary Policy: Evidence from the Housing Market” nhằm kiểm định sự tồn tại của kênh
tín dụng trong cơ chế truyền dẫn CSTT ở thị trường nhà đất trong giai đoạn từ quý 2 năm 1974
đến quý 4 năm 1999. Tác giả tranh luận rằng sự phù hợp của kênh tín dụng phụ thuộc vào đặc
điểm cấu trúc của hệ thống tài chính nhà đất. Tác giả dùng phương pháp VAR để phân tích
vấn đề này ở bốn thị trường nhà đất (Đức, Phần Lan, Na Uy và Anh). Kết quả hỗ trợ sự tồn
tại của kênh tín dụng và kênh cho vay ngân hàng. Quan trọng hơn, những phát hiện cho thấy,
ở các nước, có mối quan hệ rõ ràng giữa sự hiện diện của kênh tín dụng, hiệu quả của tài chính
nhà đất và loại hình tổ chức hoạt động trong việc cung cấp thế chấp.
Cuối cùng, với “The bank lending channel of monetary transmission in Brazil: A VECM
approach”, Luiz de Mello and Mauro Pisu kiểm định sự tồn tại của kênh cho vay ngân hàng
trong cơ chế truyền dẫn CSTT ở Brazil bằng cách sử dụng dữ liệu tổng hợp hàng tháng trong
giai đoạn từ tháng 12/1995 đến tháng 6/2008. Kiểm định này được tiến hành bằng mô hình
VECM, cho phép xem xét mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến số quan tâm. Tác giả tìm
thấy bằng chứng về 2 vector đồng liên kết, tác giả xác định nó như hàm cung và cầu khoản
vay ngân hàng bằng việc kiểm tra các hạn chế loại trừ và các yếu tố ngẫu nhiên trong mối
quan hệ đồng liên kết. Cung khoản vay thì tương quan âm với lãi suất chứng chỉ tiền gửi liên
ngân hàng trong dài hạn, điều này xác nhận sự tồn tại của kênh cho vay trong cơ chế truyền
dẫn CSTT. Bằng chứng cũng chỉ ra rằng những thay đổi trong tổng tín dụng thì dự báo kém
cho lạm phát. Mô hình VECM động ngắn hạn cho thấy cầu khoản vay thì cân bằng hiệu chỉnh.
11

Nhưng trạng thái không cân bằng trong cung khoản vay ở ngắn hạn được điều chỉnh thông
qua những thay đổi trong lãi suất chứng chỉ tiền gửi liên ngân hàng, đề xuất rằng CSTT đóng
vai trò khôi phục lại trạng thái cân bằng trong thị trường tín dụng bằng cách tác động đến lãi
suất vay ngân hàng mà phải đối mặt để huy động vốn không ký quỹ.
3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là xem xét sự tồn tại của các kênh truyền dẫn của CSTT đến
nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là kênh tín dụng, do đó các biến số cần thiết được lấy từ báo
cáo tài chính của các ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề tìm kiếm dữ liệu về báo cáo tài chính ở

ngột trong tiền tệ cơ sở thông qua nghiệp vụ thị trường mở của NHNN có thể gây ra những
điều chỉnh trong tốc độ tăng trưởng M2 và CIBR; và những thay đổi đột ngột trong tỷ lệ dự
trữ bắt buộc cũng có thể mở đầu cho những thay đổi trong CIBR và tốc độ tăng trưởng M2.
Để ước tính những thành phần bất ngờ trong M0 và RRR, chúng tôi sử dụng kỹ thuật “Hodrick
Prescott Filter” (eviews 6.0) để ước lượng thành phần giá trị kỳ vọng (xu hướng) của M0
t
*

RRR
t
*

Giả định rằng:
MB
t
= MB
t
*
+ 


RR
t
= RR
t
*
+ 


Trong đó: M0

-6E+13
-4E+13
-2E+13
0E+00
2E+13
4E+13
6E+13
8E+13
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
RESID_M0
04
03
02
01
.00
.01
.02
.03
.04
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
RESID_RRR
13

với R
2
lần lượt cho mỗi phương trình là 13.19% đối với nhóm khoản vay, 12.75% đối với
nhóm các loại ngân hàng, 10.73% cho nhóm các loại khoản vốn vay, 14.33% cho nhóm thương
mại quốc tế. Khi tốc độ tăng cung tiền được xem như một chỉ số, có bằng chứng về sự phù
hợp mạnh hơn, với mức độ lần lượt là 25.59%, 25.47%, 25.30% và 20.35%.
Trên cơ sở các kết quả và thảo luận ở trên, chúng tôi kết luận lại rằng, những đổi mới về cơ

được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng ở Việt Nam, và các báo cáo này thu được
từ website của các ngân hàng; như đã đề cập ở trên, do vấn đề thời gian công bố báo cáo tài
chính, để đảm bảo được độ tin cậy của kết quả hồi qui, chúng tôi đã chọn 11 ngân hàng có
công bố báo cáo tài chính từ 2005 đến 2013, những ngân hàng khác hoặc có năm báo cáo trễ
hơn, hoặc chưa kịp công bố báo cáo tài chính của năm 2013 sẽ bị loại ra khỏi mẫu; cuối cùng
các ngân hàng được chọn bao gồm: ngân hàng TMCP Á Châu, ngân hàng TMCP Nam Việt,
ngân hàng TMCP Việt Nam – Thịnh Vượng, ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, ngân
hàng TMCP Ngoại thương, ngân hàng Công thương Việt Nam, ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thương Tín, ngân hàng TMCP Quân đội, ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, ngân
hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, ngân hàng TMCP Đông Á. Thứ nhất, với biến tổng tiền
gửi, chúng tôi lấy giá trị của khoản mục III, Tiền gửi của khách hàng ở BCĐKT ngân hàng.
Với tổng tiền cho vay, chúng tôi lấy giá trị của khoản mục VI, Cho vay khách hàng từ BCĐKT
ngân hàng. Tổng giá trị của hai khoản mục IV, Chứng khoán kinh doanh và VII, Chứng khoán
đầu tư sẽ đại diện cho biến số chứng khoán ngân hàng. Tuy nhiên, một khó khăn gặp phải đó
là, dữ liệu liên quan đến báo cáo tài chính là những dữ liệu được thu thập theo quý hoặc năm,
nếu chúng tôi sử dụng chuỗi số liệu đó thì số quan sát khá nhỏ, chỉ khoảng 27 quan sát ( quý
1/2005 đến quý 3/2013), do đó, chúng tôi sử dụng kỹ thuật Quadratic-match average (eviews
6.0) để chuyển dữ liệu từ quý, năm sang dữ liệu theo tháng nhằm tăng số quan sát để đảm bảo
độ tin cậy cho kết quả thực nghiệm.
Đối với việc phân loại khoản vay theo qui mô ngân hàng, chúng tôi phân loại dựa trên vốn
điều lệ của chúng, những ngân hàng có vốn điều lệ từ 10.000 tỷ VNĐ trở lên được xếp vào
nhóm ngân hàng lớn, còn lại là ngân hàng nhỏ, và dữ liệu của biến số khoản vay của nhóm
ngân hàng lớn được tính bằng cách lấy khoản vay của năm ngân hàng lớn là Công thương,
Ngoại thương, Xuất Nhập khẩu, Sài Gòn Thương Tín và Quân đội; và tổng khoản vay của sáu
ngân hàng còn lại sẽ là giá trị của biến khoản vay của nhóm ngân hàng nhỏ.
Một khó khăn nữa trong quá trình thu thập dữ liệu của chúng tôi là phân loại khoản vay theo
lĩnh vực kinh tế: do các ngân hàng không thống kê các khoản vay theo lĩnh vực kinh tế, trong
khi NHNN chỉ thống kê khoản cho vay theo các lĩnh vực kinh tế từ giai đoạn 4/2012 đến
10/2013 (bảng 1), do đó, chúng tôi dựa trên chuỗi số liệu này, áp dụng một số kĩ thuật trong
15

608,818
143,928
678,219
2,833,918
Thg5-12
255,122
900,788
255,495
605,248
149,477
689,314
2,855,444
Thg6-12
254,432
917,622
257,560
605,968
148,239
703,876
2,887,697
Thg7-12
257,829
894,013
266,621
610,184
147,426
703,989
2,880,062
Thg8-12
267,169

Thg12-12
297,862
904,928
287,781
603,882
132,315
864,136
3,090,904
Thg1-13
303,379
903,305
293,053
586,567
135,463
857,642
3,079,409
Thg2-13
301,571
909,772
285,729
580,103
130,813
881,286
3,089,274
Thg3-13
307,145
920,816
285,894
589,907
135,536

608,760
133,239
923,073
3,256,543
Thg8-13
343,405
956,034
306,771
626,243
131,971
925,575
3,289,999
Thg9-13
347,755
959,259
313,259
622,498
131,298
929,182
3,303,251
Thg10-13
349,164
944,442
321,585
625,864
130,862
943,849
3,315,766
Bảng 1. Thống kê các khoản vay theo từng lĩnh vực kinh tế đơn vị, tỷ VNĐ. Nguồn www.sbv.gov.vn


Tổng cho vay khách hàng
của các ngân hàng
Total loans
11/2005 –
5/2013
BCĐKT của ngân hàng
5
Chứng khoán ngân hàng
Securities
11/2005 –
5/2013
BCĐKT của ngân hàng
6
Khoản cho vay khách hàng
của các ngân hàng lớn
Big bank
loans
11/2005 –
5/2013
BCĐKT của ngân hàng
và tự tính bằng excel
7
Khoản cho vay khách hàng
của các ngân hàng nhỏ
Small bank
loans
11/2005 –
5/2013
BCĐKT của ngân hàng
và tự tính bằng excel

5/2013
www.cophieu68.vn
12
Giá trị hàng hóa xuất khẩu
Export
11/2005 –
5/2013
IFS-IMF
13
Gía trị hàng hóa nhập khẩu
Import
11/2005 –
5/2013
IFS-IMF

Trích đoạn xuất nâng cao hiệu quả truyền dẫn CSTT thông qua kênh tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status