Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-----

-----

CHU KHÁNH LÂN

TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62.34.02.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2016


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TÔ NGỌC HƯNG
Học viện Ngân hàng
2. PGS.TS. ĐÀO VĂN HÙNG
Học viện Chính sách và phát triển


Đào tạo Ngân hàng, Số 140+141/2014.
9. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2014, Khung chính sách tiền tệ của Việt Nam
năm 2013 - Những điểm nhấn, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, Số 140 +141/2014.
10. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2014, Nghiên cứu tác động của lãi suất
tới tỷ giá tại Việt Nam theo mô hình giá cứng Dornbusch, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số
200/2014.
11. Chu Khánh Lân, 2015, Khung chính sách tiền tệ năm 2014 và những gợi ý chính
sách năm 2015, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 152+153/2015.
12. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2016, Những kết quả nổi bật trong điều
hành chính sách tiền tệ năm 2015, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số
164+165/2015.
13. Chu Khánh Lân và Hà Quốc Tuấn, 2016, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn
chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng,
Số 167/2015.


14. Đỗ Thị Kim Hảo, Chu Khánh Lân, Nguyễn Minh Phương, 2016, Hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, Kỷ yếu hội thảo Phát
triển hệ thống ngân hàng hiệu quả và bền vững trên nền tảng sử dụng khoa học – công nghệ,
đổi mới và sáng tạo, tháng 5/2016.
15. Chu Khánh Lân và Nguyễn Minh Phương, 2012, Điều hành chính sách tiền tệ tại
Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn – Thực trạng và giải pháp, Đề tài NCKH cấp
Học viện (chủ nhiệm)
16. Lê Thị Tuấn Nghĩa, 2013, Tác động của lãi suất đến tỷ giá – Lý thuyết và thực tế
Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).
17. Trương Quốc Cường, 2013, Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam: Thực trạng, hệ lụy và giải pháp, Đề tài NCKH cấp Ngành (thành viên).
18. Tô Ngọc Hưng, 2013, Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc các ngân hàng
thương mại Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thành viên).
19. Nguyễn Đức Trung, 2013, Giải pháp quản lý thị trường Vàng tại Việt Nam, Đề

ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch đại bởi những thay đổi
bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài. Độ lớn của phần thưởng nguồn
vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn dĩ gây
ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà
người đi vay phải trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của
NHTW sẽ kéo theo sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp
đó, sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí
lãi vay, nhu cầu và khả năng cấp tín dụng, rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của
nền kinh tế. Hai tác giả đã lý giải tại sao điều hành CSTT lại có tác động đến
phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị trường tín dụng thông qua hai kênh
truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay và khả năng cấp tín dụng
của hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu khởi đầu này của Bernanke và Blinder
(1995) đã mở ra hướng nghiên cứu mới về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng
và được nhiều nhà nghiên cứu phát triển thêm
Cùng với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác, CSTT thắt chặt trong
năm 2011 và nửa đầu năm 2012 nhằm đối phó với sự gia tăng của lạm phát
và bất ổn kinh tế vĩ mô đã khiến cho hệ thống ngân hàng NHTM và doanh
nghiệp suy yếu đi nhiều. Về phía doanh nghiệp, hàng hóa ứ đọng, dòng vốn
tắc nghẽn, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Về phía ngân hàng, căng thẳng
thanh khoản, nợ xấu gia tăng, mức sinh lời giảm sút là những biểu hiện yếu
kém phổ biến được bộc lộ rõ rệt. Trước tình hình này, Chính phủ đã nỗ lực
triển khai nhiều giải pháp nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy
thoái. Riêng đối với NHNN Việt Nam, công tác điều hành CSTT đã được
thực hiên linh hoạt, chủ động hơn nhằm hạ thấp mặt bằng lãi suất, triển khai


2

nhiều giải pháp hỗ trợ hệ thống NHTM và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tín
dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, những nỗ lực kể trên của

Đối tượng chính của luận án là thực trạng truyền tải CSTT qua kênh tín
dụng với hai kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng
cấp tín dụng của ngân hàng tại Việt Nam. Thực trạng truyền tải được thể hiện


3

sự biến động của tín dụng (bên tài sản có trên bảng cân đối tài sản của ngân
hàng và nguồn vốn vay ngân hàng trên bảng cân đối tài sản của người đi vay
là doanh nghiệp). Ngoài ra, đề tài cũng phân tích thực trạng điều hành CSTT
của NHNN và hoạt động của hệ thống NHTM.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn từ năm 2011 tới năm
2015. Đối với nghiên cứu định lượng, giai đoạn nghiên cứu kéo dài từ quý 1
năm 2000 đến quý 4 năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường
được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, luận án vận dụng các phương pháp
khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp, diễn dịch, quy nạp.
Ngoài các sơ đồ, bảng, đồ thị, đề tài sử dụng mô hình kinh tế lượng
SVAR để kiểm chứng sự tồn tại và đo lường mức độ khuếch đại CSTT của
kênh tín dụng thông qua hàm phản ứng. Thông qua phân rã quá khứ, đề tài
đánh giá tác động của tín dụng tới sự biến động của các biến số kinh tế vĩ mô
trong nền kinh tế.
Đề tài khai thác các nguồn dữ liệu báo cáo tài chính từ năm 2010 đến
năm 2015 của 201 doanh nghiệp niêm yết trong chỉ số VNINDEX; dữ liệu
báo cáo tài chính từ năm 2010 đến năm 2014 của 29 NHTM; dữ liệu tiền tệ,
ngân hàng từ Thống kê tài chính quốc tế của IMF; dữ liệu kinh tế vĩ mô từ
Tổng cục Thống kê; dữ liệu khảo sát 306 doanh nghiệp năm 2013 của nhóm
nghiên cứu thực hiện Báo cáo hoạt động ngân hàng năm 2013 và một số dự

khuếch tán thông qua sự thay đổi trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài
(external finance premium). Phần thưởng nguồn vốn bên ngoài là sự chênh
lệch giữa nguồn vốn huy động từ bên ngoài (từ phát hành trái phiếu, cổ
phiếu, vay ngân hàng) và nguồn vốn huy động từ bên trong (từ thu nhập giữ
lại). Mức độ chênh lệch này phản ánh sự không hoàn hảo của thị trường tín
dụng, tạo ra mức chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và
chi phí của người đi vay. Truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của các NHTM
là quá trình khuếch đại sự biến động của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài.
Do chịu ảnh hưởng từ đặc điểm của từng nền kinh tế, sự vận động
không ngừng của thị trường tài chính và các trung gian tài chính, mức độ
hiệu quả của các kênh truyền tải CSTT thay đổi theo thời gian. Dù vậy, tựu
chung lại, với các thị trường tài chính dựa vào thị trường chứng khoán
(market based) và mức độ thay thế giữa các tài sản cho nhau là cao thì vai trò
của kênh tín dụng bị giảm đi so với các kênh khác. Còn tại các nền kinh tế
mà nguồn vốn tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định trong hoạt động đầu
tư và các ngân hàng hàng nhỏ đóng góp một vai trò tương đối quan trọng
trong thị trường tài chính (bank based) thì rõ ràng các nhà điều hành chính


5

sách cần quan tâm hơn tới kênh truyền tải qua tín dụng ngân hàng.
1.2.1.1. Truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay
a/ Thông qua tác động tới rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch
M↓→i↑→Pequity↓→lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↑→tín
dụng↓→I↓→Y↓ trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, Pequity là giá trị tài sản
ròng, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
M↓→i↑→CF↓→ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↑→tín
dụng↓→I↓→Y↓ trong đó: CF là dòng tiền.
b/ Thông qua chuẩn mực đánh giá khách hàng của ngân hàng

1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG TRONG CÁC
NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỀN TẢI CSTT QUA KÊNH TÍN DỤNG
1.3.1. Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng
Các nghiên cứu định lượng về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng phần lớn
tập trung vào kiểm chứng sự tồn tại của kênh khả năng cấp tín dụng. Phương
pháp tiếp cận đầu tiên, và sau này được nhiều nghiên cứu lặp lại, tập trung vào
xem xét mối quan hệ giữa tiền tệ, tín dụng và sản lượng và đo lường mức độ
phản ứng của tiền tệ, tín dụng trước thay đổi điều hành CSTT của NHTW và
ngược lại. Các nghiên cứu này thường sử dụng mô hình VAR với các biến số đại
diện cho các yếu tố từ bên ngoài nền kinh tế, biến số đại diện cho các chỉ tiêu vĩ
mô bên trong nền kinh tế và các yếu tố tiền tệ như cung tiền, lãi suất, tỷ giá. Một
nhóm các nghiên cứu khác xem xét phản ứng của các nhóm ngân hàng có đặc
điểm khác nhau trước cú sốc tiền tệ thông qua việc kết hợp sử dụng dữ liệu vĩ mô
và dữ liệu vi mô các ngân hàng.
1.3.2. Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay
Tương tự như kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng, các nghiên cứu
về kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay cũng gồm hai nhóm nghiên cứu
sử dụng dữ liệu theo chuỗi thời gian và dữ liệu mảng. Thông qua việc sử dụng
các mô hình VAR, OLS, hồi quy hai bước…, các nghiên cứu kiểm chứng tác
động của CSTT truyền tải qua kênh tín dụng tới hoạt động của doanh nghiệp và
hộ gia đình, hoặc xem xét phản ứng về nguồn vốn trước CSTT của các doanh
nghiệp với đặc điểm khác nhau.
1.3.3. Kênh tín dụng ngân hàng
Để so sánh mức độ khuếch đại của kênh tín dụng so với trường hợp chỉ tồn
tại kênh truyền tải truyền thống, một vài nghiên cứu đã so sánh hàm phản ứng và
phân rã phương sai của mô hình VAR trong trường hợp biến tín dụng được đưa
vào trong mô hình VAR thứ nhất và bị đưa ra làm biến ngoại sinh trong mô hình
VAR thứ hai. Qua so sánh hàm phản ứng và mức độ giải thích của lãi suất đối
với sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, các tác giả đưa ra kết luận về vai
trò của kênh tín dụng trong truyền tải CSTT.

không còn là nguyên nhân từ phía bên ngoài mà nằm chủ yếu từ những yếu
kém, bất ổn bên trong nền kinh tế. Thực trạng này phản ánh những nỗ lực tái
cấu trúc nền kinh tế, tìm kiếm lại thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ như trước đây
chỉ có tác dụng trong ngắn hạn chứ chưa tạo ra những bước tiến có tính chất
đột phá.
2.1.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với điều hành CSTT
Thứ nhất, công tác điều hành CSTT của NHNN phải hướng tới mục
tiêu kiềm soát lạm phát ở mức hợp lý và ổn định, tạo dựng nền tảng quan
trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, cung tiền và tín dụng chưa hẳn là mục tiêu cần đạt được khi
muốn kiểm soát lạm phát. Khi diễn biến lạm phát đi vào ổn định, việc lựa
chọn lãi suất làm mục tiêu trung gian là một gợi ý cần được xem xét áp dụng.
Thứ ba, NHNN cần chủ động, linh hoạt, và kịp thời trong việc sử dụng,


8

phối hợp các công cụ CSTT, nhất là các lãi suất và lượng tiền cung ứng.
Thứ tư, NHNN cần triển khai chính sách nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ các
NHTM mở rộng tín dụng có hiệu quả, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhu cầu vốn tiêu dùng thiết yếu và bảo đảm an sinh xã hội.
Thứ năm, NHNN cần tập trung xử lý đồng bộ và triệt để bốn vấn đề lớn
nhằm bảo đảm hiệu quả cho việc sử dụng các công cụ CSTT:
Giảm quy mô thị trường nợ ngoại tệ, giảm thiểu tình trạng đô la hóa.
Tăng cường quản lý thị trường vàng, hướng đến mục tiêu giảm tình
trạng “vàng hóa” nền kinh tế.
Đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại và lành mạnh hóa hệ thống TCTD
nhằm hỗ trợ việc thực thi hiệu quả CSTT.
Giải quyết các vấn đề của TTLNH nhằm tăng cường khả năng truyền
tải những thay đổi trong điều hành CSTT của NHNN tới mặt bằng lãi suất và

biến thị trường tiền tệ, và thực trạng nền kinh tế.
NHNN điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở phù hợp với
cung cầu vốn trên thị trường; phối hợp hiệu quả với hoạt động can thiệp trên
thị trường ngoại tệ và vàng.
NHNN đã linh hoạt sử dụng công cụ tái cấp vốn để bảo đảm thanh
khoản cho các TCTD và định hướng tín dụng phục vụ các lĩnh vực NNNT.
NHNN giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND
nhằm ổn định thị trường tiền tệ.
NHNN kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm chất
lượng tín dụng, hướng tín dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh
vực ưu tiên của Nhà nước.
NHNN điều hành chính sách tỷ giá chủ động, dẫn dắt thị trường
nhằm mục tiêu duy trì tỷ giá ổn định, tạo niềm tin của công chúng vào giá trị
của đồng nội tệ.
2.1.2.2. Tạo dựng môi trường cho CSTT vận hành
Nhận thức được những bất ổn trong thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị
trường nợ ngoại tệ, nợ vàng và thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cũng như sự
yếu kém của hệ thống TCTD đã ảnh hưởng tới công tác ra quyết định điều
hành và làm giảm đi hiệu quả truyền tải CSTT, NHNN đã triển khai nhiều
giải pháp để tạo dựng một môi trường tốt cho điều hành và truyền tải CSTT.
Hệ thống các giải pháp được thực hiện trong giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm
xử lý tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế; giải quyết các vấn đề
bất cập của TTLNH; thực hiện tái cấu trúc hệ thống TCTD và xử lý nợ xấu,
hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ, ngân hàng, tăng cường tính minh
bạch và trách nhiệm giải trình trong điều hành CSTT…
2.1.3. Truyền tải CSTT tại Việt Nam qua nghiên cứu định lượng
Luận án sử dụng mô hình VAR để kiểm tra mức độ truyền tải CSTT
qua các kênh lãi suất, giá cổ phiếu, kênh tỷ giá, và kênh tín dụng đến nền
kinh tế Việt Nam. Kết quả hàm phản ứng cho thấy cho thấy nhìn chung, kênh


góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam. Hệ thống NHTM đã phát triển nhanh chóng về
loại hình, quy mô, hình thức sở hữu… phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế
đang chuyển đổi tồn tại nhiều thành phần kinh tế, đa ngành nghề, đa sở hữu.
Mạng lưới các NHTM không những bao phủ thị trường nội địa mà còn có
những bước tiến lớn trong việc phát triển mạng lưới tại một số thị trường
quốc tế. Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, làm trung gian thanh


11

toán và cung cấp các dịch vụ ngân hàng, hệ thống NHTM đã thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và góp phần quan trọng trong quá trình truyền tải CSTT của
NHNN đến nền kinh tế. Dù vậy, vẫn tồn tại những điểm quan ngại về sự lành
mạnh và phát triển bền vững của hệ thống NHTM.
Quy mô tín dụng tăng nhanh nhưng chất lượng tín dụng của hệ thống
NHTM không được bảo đảm. Nợ quá hạn, nợ xấu tăng nhanh trên cả thị
trường 1 và thị trường 2, cơ cấu tín dụng tập trung vào một số lĩnh vực có
mức độ rủi ro cao, mức độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng và
khách hàng có liên quan rất lớn. Trong khi đó, DPRR lại chưa được trích lập
tương xứng với mức độ rủi ro mà hệ thống đang phải đối mặt.
Tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM trong năm 2011 và nửa đầu
năm 2012 là khá nghiêm trọng do mất cân đối sâu sắc giữa huy động và cho
vay, giữa cơ cấu kỳ hạn huy động và cho vay, không chỉ bao gồm nội tệ mà
có cả ngoại tệ trong khi doanh số rút tiền gửi rút trước hạn tăng mạnh. Trong
khi đó, rủi ro trên thị trường 2 gia tăng mạnh, một số thời điểm diễn ra tình
trạng mất thanh khoản cục bộ, ảnh hưởng tới an toàn của hệ thống.
Khả năng sinh lời của hệ thống NHTM không chỉ giảm xuống mà còn
thể hiện ở cơ cấu thu nhập thiếu bền vững, chứa đựng nhiều rủi ro, khiến cho
lợi nhuận của toàn hệ thống sụt giảm mạnh khi nền kinh tế gặp khó khăn.

Mức độ truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản cho thấy CSTT
thắt chặt ban đầu đã được khuếch đại, làm giảm đi nhu cầu tín dụng và khả
năng được chấp thuận tín dụng của các chủ thể kinh tế. Những đặc điểm về
cơ cấu vốn, khả năng hấp thụ vốn cùng với đặc điểm về quan hệ tín dụng
giữa doanh nghiệp với ngân hàng có xu hướng làm cho những ảnh hưởng
tiêu cực từ việc thắt chặt CSTT trở nên mạnh mẽ hơn, khiến cho công tác
điều hành CSTT dẫn tới sự đánh đổi lớn giữa các mục tiêu. Đây là nguyên
nhân dẫn tới thực trạng nhu cầu tín dụng suy giảm mặc dù kể từ giữa năm
2012, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy tín dụng thông
qua nới lỏng CSTT mà chưa đem lại được hiệu quả như kỳ vọng.
b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò truyền tải CSTT qua kênh bảng
cân đối tài sản của các NHTM Việt Nam
Hệ thống doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng khi
tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
Khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam ở mức thấp và thể
hiện xu hướng giảm rõ rệt.
2.2.2.2. Thực trạng truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng của
các NHTM Việt Nam
a/ Truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng của các NHTM
Việt Nam
Dự trữ của hệ thống NHTM giảm, dẫn đến giảm lượng vốn sẵn có để
cấp các khoản tín dụng mới


13

Chất lượng tín dụng suy giảm khiến hệ thống NHTM ngần ngại cấp các
khoản tín dụng mới
Hệ thống NHTM sử dụng lượng tiền dự trữ để đầu tư vào trái phiếu
Chính phủ trong bối cảnh rủi ro tín dụng khó kiểm soát



14

trong một vài tháng đầu năm. Mặt bằng lãi suất sau khi bị đẩy lên cao trong
năm 2012 và 2013 đã giảm dần về mức của năm 2009, 2010 và thấp hơn cả
giai đoạn trước năm 2008 nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp hơn
nhiều so với giai đoạn trước đó.Thực trạng này phản ánh tín dụng bị thu hẹp
từ cả phía cầu (bao gồm cả khả năng và mong muốn vay vốn) lẫn phía cung
(khả năng và mong muốn cấp tín dụng). Với kênh lãi suất truyền thống, khi
mặt bằng lãi suất giảm về các mức thấp hơn nhiều trong quá khứ, kết hợp với
kỳ vọng lạm phát được duy trì ổn định, phản ứng của thị trường sẽ là đẩy
mạnh hoạt động vay vốn, tiêu dùng và đầu tư. Tuy nhiên, sự khuếch đại ảnh
hưởng của kênh lãi suất truyền thống thông qua vai trò của kênh tín dụng đã
cho thấy mức độ truyền tải CSTT là mạnh và dai dẳng hơn nhiều.
Diễn biến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy mục
tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã phải phần nào “hi sinh” để đổi lại mục
tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. NHNN và các NHTM đã triển
khai nhiều biện pháp từ giữa năm 2012 nhằm giảm mặt bằng lãi suất, thúc
đẩy tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, cho dù mặt bằng lãi suất đã về mức của
năm 2006 - 2007 nhưng tín dụng vẫn tăng trưởng khá chậm chạp, một bộ
phận lớn các doanh nghiệp vẫn không thể tiếp cận và hấp thụ được nguồn
vốn tín dụng. Lúc này, những biện pháp hỗ trợ nền kinh tế thông qua thúc
đẩy tăng trưởng tín dụng không còn phát huy được nhiều hiệu lực và hiệu
quả như trong điều kiện thông thường.
Sự sụt giảm tiêu dùng và đầu tư (hai cấu phần quan trọng trong tổng
sản phẩm quốc nội) khiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức thấp so
với giai đoạn trước. Tốc độ phục hồi tăng trưởng cũng sau giai đoạn khủng
hoảng tài chính cũng chậm chạp hơn so với các quốc gia trong khu vực.
Cùng với đó, tỷ lệ lạm phát giảm sâu trong năm 2014 và 2015 cho thấy tình

0
0
0
0
0
0
𝑢𝑡𝑜𝑖𝑙
𝜀𝑡𝑜𝑖𝑙
𝑔𝑑𝑝

𝑎21

1

0

0

0

0

0

𝜀𝑡

𝑐𝑝𝑖

𝑎31


𝑢𝑡𝑖𝑛𝑡

0

0

0

𝑎54

1

𝑎56

𝑎57

𝜀𝑡𝑖𝑛𝑡

𝑢𝑡𝑒𝑥𝑐

𝑎61

𝑎62

𝑎63

𝑎64

𝑎65


𝑐𝑝𝑖

1 ] ( 𝜀𝑡𝑐𝑟𝑒 )

2.3.1.1. Số liệu và kiểm định khuyết tật mô hình
2.3.2. Kết quả mô hinh
So sánh hàm phản ứng của tổng sản phẩm quốc nội trước cú sốc lãi
suất trong trường hợp có kênh tín dụng và không có kênh tín dụng cho thấy,
phản ứng của tổng sản phẩm quốc nội trước cú sốc lãi suất trong trường hợp
có kênh tín dụng mạnh và dai dẳng hơn (kéo dài tới 10 quý) so với trường
hợp không có kênh tín dụng (6 quý). Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng


16

trước cú sốc lãi suất cũng cho thấy kênh tín dụng phát huy ảnh hưởng rõ rệt
từ quý thứ 3 đến quý thứ 12. Kết quả hàm phản ứng của sản lượng và giá cả
trước cú sốc cung tiền cũng cho thấy kênh tín dụng có tác dụng khuếch đại
mạnh mẽ ảnh hưởng của việc mở rộng cung tiền.
Hàm phản ứng của GDP trước cú
Hàm phản ứng của CPI trước cú
sốc lãi suất khi có kênh tín dụng và sốc lãi suất khi có kênh tín dụng và
không có kênh tín dụng
không có kênh tín dụng
0.001

0.002
0.001

0.000

5

10

15

20

Nguồn: Tính toán của tác giả
Hàm phản ứng của CPI trước cú
sốc cung tiền khi có kênh tín dụng
và không có kênh tín dụng
0.010

0.002
0.005
0.001
0.000
0.000
-0.001
-0.002

-0.005
1

5

10

15

a/ Quan điểm về điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng
Trong thời gian tới, công tác điều hành CSTT của NHNN và hoạt động
của hệ thống NHTM phải tiếp tục bám sát những quan điểm chủ đạo sau:
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ chốt trong tổng thể hệ thống tài
chính, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế nhanh, bền vững
trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.
Hệ thống ngân hàng tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
theo hướng kết hợp hài hòa, đồng bộ và hợp lý giữa quy luật thị trường, cạnh
tranh bình đẳng, minh bạch và sự quản lý có tính hiệu lực và hiệu quả của
Nhà nước thông qua các công cụ điều tiết.
Hệ thống ngân hàng lấy ổn định tiền tệ và tài chính là điều kiện tiên
quyết để góp phần vào duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm sự phối hợp
đồng bộ giữa CSTT với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là CSTK;
giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động của doanh nghiệp, hộ gia đình; giữa
thị trường tiền tệ với thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm…
Hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh và ổn định; tăng cường phạm
vi và hiệu quả hoạt động, phục vụ nền kinh tế; tăng cường tính minh bạch,
trách nhiệm; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hướng tới áp dụng các thông lệ
quốc tế vào hoạt động kinh doanh ngân hàng.
b/ Mục tiêu tổng quát đối với điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng
Mục tiêu tổng quát đối với điều hành CSTT là điều hành chủ động, linh
hoạt, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm hoàn thành
các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô theo mục tiêu của Quốc hội, bảo đảm an toàn hoạt
động ngân hàng và thị trường tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ


18


và quốc tế có hiệu quả và an toàn.
3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CSTT
QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
Trái lại với sự tăng trưởng chậm chạp và vai trò tương đối mờ nhạt của
thị trường chứng khoán, tín dụng ngân hàng đã và vẫn đang là kênh dẫn vốn


19

chủ đạo cho hoạt động của nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian tới, khả
năng hệ thống tài chính Việt Nam sẽ phát triển đồng đều hơn với sự gia tăng
quy mô lẫn tỷ trọng của thị trường chứng khoán là không cao. Do vậy, tín
dụng ngân hàng và hệ thống NHTM chắc chắn vẫn tiếp tục thể hiện vai trò
cầu nối về vốn cho các chủ thể kinh tế đồng thời là kênh truyền tải quan
trọng của CSTT tới nền kinh tế.
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với NHNN Việt Nam
3.2.2.1. Định hướng hệ thống NHTM mở rộng tín dụng gắn với nâng cao
chất lượng tín dụng
NHNN và hệ thống NHTM cần xác định về mặt nguyên tắc việc quản lý
cơ cấu tín dụng ở tầm vĩ mô phải hướng tới giảm thiểu rủi ro thông qua đa
dạng hóa.
NHNN kiểm soát tăng trưởng tín dụng thông qua việc phân tích nhu cầu
vốn, khả năng cung ứng vốn và khả năng chấp nhận rủi ro của hệ thống
NHTM trong cả ngắn hạn lẫn trung, dài hạn.
Xác định và định hướng tín dụng vào các lĩnh vực phát triển ổn định và
có khả năng hấp thụ vốn tốt trong bối cảnh kinh tế chưa phục hồi bền vững.
Để khuyến khích tăng trưởng tín dụng từ phía cầu và giảm mức độ rủi ro
tín dụng ngay từ khi thẩm định, quyết định cho vay, ngành Ngân hàng có thể
nghiên cứu và triển khai các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù của từng
lĩnh vực

3.2.2.3. Dần hạn chế các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất,
hướng tới sử dụng các công cụ gián tiếp
Việc tự do hóa lãi suất phải được tiến hành đồng thời với công cuộc tái
cơ cấu hệ thống tài chính và tái cấu trúc nền kinh tế, qua đó tăng khả năng
truyền tải CSTT. Trình tự thực hiện đóng vai trò quan trọng trong việc quyết
định sự thành công của tự do hóa lãi suất. Lãi suất bán buôn sẽ được tự do
trước tiên, sau đó là đến lãi suất cho vay, và cuối cùng là lãi suất huy động do
trình tự này bảo đảm mức độ lợi nhuận cho hệ thống NHTM cũng như cho
phép các chủ thể trong nền kinh tế dần thích nghi với cơ chế lãi suất mới.
3.2.2.4. Củng cố và chấn chỉnh kỷ cương thị trường tiền tệ - tín dụng trên
cơ sở thực hiện hiệu quả công tác thanh tra – giám sát
NHNN cần xây dựng hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hiện đại
và hiệu quả trên cơ sở đáp ứng đầy đủ những thực tiễn phát triển nhanh
chóng của hệ thống NHTM, dần áp dụng và tiến tới thực hiện đầy đủ các
nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng.
Thứ nhất, hoàn thiện các điều kiện tiên quyết cho hệ thống thanh tra,
giám sát ngân hàng hiệu quả.
Xây dựng Luật thanh tra, giám sát ngân hàng để tạo cơ sở vững chắc và
rõ ràng cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.
Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy thanh tra theo chiều dọc từ NHTW tới
các chi nhánh, thực hiện đầy đủ các chức năng cấp phép, ban hành quy chế
an toàn hoạt động ngân hàng; giám sát từ xa (off-site); thanh tra tại chỗ (onsite); và xử lý vi phạm.


21

Bảo đảm Cơ quan thanh tra giám sát có đầy đủ quyền trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ bao gồm: yêu cầu báo cáo thông tin, thực hiện các nghiệp
vụ thanh tra, kiến nghị xử lý, và thực hiện xử lý độc lập và khách quan.
Thứ hai, đổi mới và nâng cao hiệu quả phương pháp thanh tra, giám sát




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status