BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG KIM
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐỔI MỚI
CÁ NHÂN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ: NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT
TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG KIM
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐỔI MỚI
CÁ NHÂN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ: NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT
TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.6. Kết cấu của nghiên cứu ........................................................................................ 5
Chương 2. Cơ sở lý thuyết ........................................................................................ 6
2.1. Các khái niệm ....................................................................................................... 6
2.1.1. Phong cách lãnh đạo chuyển dạng.............................................................. 6
2.1.1.1. Phong cách lãnh đạo ....................................................................... 6
2.1.1.2. Các lý thuyết về phong cách lãnh đạo ............................................ 6
2.1.1.3. Phong cách lãnh đạo chuyển dạng .................................................. 8
2.1.2. Sự tự tin .................................................................................................... 13
2.1.3. Sự gắn kết với công việc .......................................................................... 14
2.1.4. Hành vi đổi mới cá nhân ........................................................................... 15
2.1.4.1. Đổi mới ......................................................................................... 15
2.1.4.2. Hành vi đổi mới cá nhân ............................................................... 16
2.2. Các nghiên cứu trước ......................................................................................... 18
2.3. Lập luận giả thuyết và mô hình nghiên cứu ....................................................... 19
2.3.1. Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng và hành vi đổi mới
cá nhân ....................................................................................................... 19
2.3.2. Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng và sự tự tin ........... 20
2.3.3. Mối quan hệ giữa sự tự tin và sự gắn kết với công việc ........................... 21
2.3.4. Mối quan hệ giữa sự gắn kết với công việc và hành vi đổi mới cá nhân . 21
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu..................................................................... 24
3.1. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................ 24
3.2. Mẫu nghiên cứu .................................................................................................. 24
3.2.1. Phương pháp xác định kích thước mẫu .................................................... 24
3.2.2. Phương pháp chọn mẫu ............................................................................ 24
3.3. Quy trình nghiên cứu ......................................................................................... 25
3.4. Các thang đo ....................................................................................................... 28
3.4.1. Thang đo phong cách lãnh đạo chuyển dạng............................................ 28
3.4.2. Thang đo sự tự tin ..................................................................................... 29
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CFA:
Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis)
CFI:
Chỉ số thích hợp so sánh (Comparative Fit Index)
EFA:
Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
GFI:
Chỉ số phù hợp tốt (Goodness of Fit Index)
KMO:
Hệ số kiểm định độ phù hợp của EFA (Kaiser – Meyer – Olkin)
RMSEA:
Căn bậc hai của trung bình các bình phương sai số (Root Mean Square
Error of Approximation)
Sig.:
Mức ý nghĩa của phép kiểm định (Significance of Testing)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Hình 4.1: Kết quả phân tích CFA mô hình tới hạn (chuẩn hóa)
Hình 4.2: Kết quả phân tích SEM mô hình nghiên cứu (chuẩn hóa)
Hình 4.3: Mô hình nghiên cứu sau cùng
1
Chƣơng 1
GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Từ năm 2015 ngành y tế bắt đầu triển khai đề án “Đổi mới phong cách, thái
độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”. Bên cạnh những
nội dung như tăng cường công tác quản lý các dịch vụ, xây dựng cơ sở y tế xanh –
sạch – đẹp thì đổi mới toàn diện phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế là
một trong những nhiệm vụ quan trọng mà ngành y tế đặt trọng tâm thực hiện. Các
nhà nghiên cứu (Scott và Bruce, 1994; Woodman và cộng sự, 1993) cho rằng hành
vi đổi mới của nhân viên có ý nghĩa lớn đối với hiệu quả và sự tồn tại của tổ chức.
Hành vi đổi mới của nhân viên không chỉ phụ thuộc vào cách họ nhận thức, vào tâm
lý, động lực bên trong mà còn phụ thuộc vào những kích thích có hiệu quả từ môi
trường bên ngoài, đặc biệt là phong cách lãnh đạo (Mumford và cộng sự, 2002).
Người lãnh đạo có thể thúc đẩy hành vi đổi mới của nhân viên thông qua sự động
viên trực tiếp hoặc thiết lập các mục tiêu đổi mới cho họ (Wang và Hong, 2010),
qua đó có thể nhanh chóng nắm bắt những thông tin của cấp dưới nhằm đánh giá và
khen ngợi để cho thấy sự ủng hộ của họ đối với sự đổi mới của nhân viên (Li và
Zheng, 2014).
Bên cạnh những tìm hiểu về hành vi đổi mới cá nhân, các nhà nghiên cứu
còn quan tâm đến những gì đã tạo động lực cho phép cá nhân thực hiện hành vi đổi
mới và kết quả của những hành vi đó (Aryee và cộng sự, 2012). Ở mức độ vi mô,
tế: Nghiên cứu trường hợp Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Thành phố Hồ
Chí Minh” được thực hiện nhằm kiểm định bản chất của các mối quan hệ này trong
môi trường nghiên cứu tại đây cũng như đóng góp một cơ sở khoa học cho những
nhà lãnh đạo đơn vị này trong cách thức quản trị nhằm tạo động lực để nhân viên
thực hiện đổi mới, qua đó không chỉ nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh mà còn
góp phần gìn giữ hình ảnh của người thầy thuốc và niềm tin của người bệnh đối với
cơ sở y tế công lập nói chung và bệnh viện nói riêng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ một số nội dung cụ thể như sau:
- Khảo sát mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng và hành vi đổi mới
cá nhân của nhân viên y tế.
3
- Khảo sát mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng và sự tự tin của
nhân viên y tế.
- Khảo sát mối quan hệ giữa sự tự tin và sự gắn kết với công việc của nhân viên y
tế.
- Khảo sát mối quan hệ giữa sự gắn kết với công việc và hành vi đổi mới cá nhân
của nhân viên y tế.
Từ đó nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi sau:
- Phong cách lãnh đạo chuyển dạng có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi đổi mới
cá nhân của nhân viên y tế ?
- Phong cách lãnh đạo chuyển dạng có ảnh hưởng như thế nào đến sự tự tin của
nhân viên y tế ?
- Sự tự tin có ảnh hưởng như thế nào đến sự gắn kết với công việc của nhân viên y
tế ?
- Sự gắn kết với công việc có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi đổi mới cá nhân
của nhân viên y tế ?
Modelling) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm và ước
lượng bootstrap dùng để kiểm định độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình.
1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu
Trong bối cảnh các đơn vị y tế công lập đang thực hiện đổi mới nhằm nâng
cao chất lượng phục vụ, nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản trị tại Bệnh viện Răng
Hàm Mặt Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn và có cách nhìn toàn
diện hơn về phong cách lãnh đạo cũng như cách thức để làm nâng cao hành vi đổi
mới của nhân viên, trên cơ sở đó, bệnh viện sẽ có thể thực hiện những cải tiến
không chỉ về vật chất mà cả tinh thần của người bệnh, từng bước tạo nên niềm tin
cho người bệnh để góp phần cải thiện hình ảnh của ngành y tế cả nước. Ngoài ra,
nghiên cứu cũng sẽ bổ sung như một tài liệu tham khảo về phong cách lãnh đạo
chuyển dạng và cơ chế tác động dẫn đến hành vi đổi mới cá nhân, góp một phần vào
cơ sở lý luận cho các nhà nghiên cứu khác tại Việt Nam và trên thế giới trong lĩnh
vực này.
5
1.6. Kết cấu của nghiên cứu
Nghiên cứu gồm năm chương, nội dung chính của các chương cụ thể như
sau:
Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu, đặt vấn đề, lý do chọn đề tài, mục tiêu
nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết trình bày các lý thuyết về phong cách lãnh đạo
chuyển dạng, sự tự tin, sự gắn kết với công việc và hành vi đổi mới cá nhân, các
nghiên cứu trước, lập luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên
cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu giới thiệu thiết kế nghiên cứu, phương
pháp chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, phương pháp thực hiện, kết quả nghiên
đến người dưới quyền, làm cho họ hiểu và đồng thuận với những điều cần được
thực hiện và cách thực hiện những điều đó như thế nào để đạt được hiệu quả, đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi nhằm đạt được những mục tiêu tổ chức đặt ra.
2.1.1.2. Các lý thuyết về phong cách lãnh đạo (Leadership Theories)
Thuyết người vĩ đại (“Great Man” Theory): thuyết người vĩ đại phát triển
vào giữa thế kỷ 19 từ sự nghiên cứu những anh hùng có ảnh hưởng trong lịch sử.
Thuyết quan điểm rằng những nhà lãnh đạo trở nên vĩ đại chỉ đơn giản khi họ sinh
ra đã có những đặc trưng nội tại như sự cuốn hút, sự tự tin, trí tuệ và các kỹ năng xã
hội cần thiết khiến họ trở thành lãnh đạo một cách tự nhiên. Thuyết người vĩ đại cho
7
rằng năng lực lãnh đạo là vốn có khi những nhà lãnh đạo được sinh ra chứ không
cần phải được tạo ra, qua đó mô tả các nhà lãnh đạo vĩ đại như những huyền thoại
và được định hướng để trở thành lãnh đạo khi cần thiết. Thuật ngữ “Người đàn ông
vĩ đại” được sử dụng vì lúc này lãnh đạo được coi là phẩm chất của nam giới, đặc
biệt về lãnh đạo quân sự. Tuy nhiên, năm 1860, nhà triết học người Anh Herbert
Spencer (1820 – 1903) đã bác bỏ thuyết người vĩ đại bằng cách khẳng định rằng
những lãnh đạo này chỉ đơn giản là sản phẩm của thời đại họ và hành động của họ
là kết quả của các điều kiện xã hội. Ưu điểm của thuyết này là điểm khởi đầu cho sự
hiểu biết về những đặc điểm của con người có thể làm nên những nhà lãnh đạo vĩ
đại, điểm hạn chế là phong cách lãnh đạo bị giới hạn trong một cộng đồng và lý
thuyết không có giá trị khoa học.
Thuyết tính cách (Trait Theory): xuất hiện vào thập niên 1930 - 1940, giống
như thuyết người vĩ đại, thuyết tính cách cho rằng con người thừa hưởng một số
phẩm chất và đặc điểm nhất định phù hợp với vai trò lãnh đạo. Thuyết tập trung vào
việc phân tích các đặc tính tinh thần, thể chất và xã hội để hiểu rõ về sự kết hợp đặc
tính của các nhà lãnh đạo, xác định một số nhân cách đặc biệt hoặc đặc điểm hành
vi có chung ở các nhà lãnh đạo. Những phẩm chất nhất định như trí tuệ, ý thức về
thức và kinh nghiệm nhất, họ sẽ thể hiện phong cách lãnh đạo độc đoán, ngược lại,
trong trường hợp khi thành viên trong nhóm là những chuyên gia thì phong cách
lãnh đạo dân chủ sẽ hiệu quả hơn.
2.1.1.3. Phong cách lãnh đạo chuyển dạng (Transformational Leadership)
Burns (1978) mô tả phong cách lãnh đạo chuyển dạng xuất hiện khi một
hoặc nhiều người cam kết với những người khác về cách mà người lãnh đạo và
người dưới quyền nâng đỡ lẫn nhau để đạt đến mức độ cao hơn về động lực và đạo
đức. Theo Burns, đặc điểm chính của phong cách lãnh đạo chuyển dạng dựa trên
tiến trình mà nhà lãnh đạo tạo động lực cho nhân viên cấp dưới hoặc cách thức mà
nhà lãnh đạo khơi dậy những giá trị và tình cảm của nhân viên. Nói cách khác,
phong cách lãnh đạo chuyển dạng thúc đẩy nhân viên làm được nhiều hơn những gì
họ được mong đợi và thậm chí nhiều hơn những gì họ có thể nghĩ vì lợi ích chung.
Bass (1985) nhận thấy nhà lãnh đạo chuyển dạng luôn nỗ lực trong việc nâng
cao nhận thức của đồng nghiệp, cấp dưới, khách hàng về kết quả của các vấn đề.
Mức độ nhận thức cao này đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có tầm nhìn, sự tự tin và nội
9
lực để tranh đấu thành công cho những gì mà họ thấy là đúng và tốt chứ không phải
cho những gì đã quen thuộc hoặc được chấp nhận theo thời gian.
Koehler và Pankowski (1997) định nghĩa phong cách lãnh đạo chuyển dạng
là một quá trình tạo nên sự thay đổi và làm cho người dưới quyền có khả năng đạt
được mức độ cao hơn nhằm cải thiện chính họ và tiến trình của tổ chức.
Pawar và Eastman (1997) cho rằng nhà lãnh đạo chuyển dạng tạo ra một tầm
nhìn năng động cho tổ chức, đòi hỏi sự thay đổi trong các giá trị văn hóa để phản
ánh một sự đổi mới lớn hơn. Người lãnh đạo với phong cách lãnh đạo chuyển dạng
tìm kiếm một mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và tập thể, qua đó cho phép người
dưới quyền làm việc vì những mục tiêu cao hơn. Theo đó, hiệu quả của một nhà
lãnh đạo chuyển dạng là kết quả của ba yếu tố: vị trí của tổ chức trong sự mở liên
tích cực thì những người dưới quyền cũng sẽ được tạo động lực. Nhà lãnh
đạo sẽ thử thách người dưới quyền bằng những tiêu chuẩn cao hơn, trao đổi
tích cực về các mục tiêu trong tương lai và truyền tải ý nghĩa của những
nhiệm vụ đang thực hiện, qua đó, người dưới quyền sẽ có ý thức mạnh mẽ về
mục đích nếu họ được tạo động lực để thực hiện. Mục đích và ý nghĩa của
nhiệm vụ sẽ tiếp tục thúc đẩy mọi người tiến về phía trước. Đồng thời, các kỹ
năng giao tiếp cũng hỗ trợ tầm nhìn của nhà lãnh đạo, làm cho tầm nhìn đó
có thể dễ dàng hiểu rõ, chính xác và hấp dẫn, qua đó làm cho những người
dưới quyền sẵn lòng đầu tư nhiều hơn vào công việc của họ. Họ được khuyến
khích, cảm thấy lạc quan về tương lai và tin tưởng vào khả năng của mình.
Kích thích trí tuệ (Intellectual Stimulation) là sự thử thách của nhà lãnh đạo
đối với niềm tin của người dưới quyền, đối với sự phân tích của họ về vấn đề
mà họ phải đối mặt và giải pháp mà họ đưa ra. Nhà lãnh đạo chấp nhận rủi ro
để khơi gợi ý tưởng mới của người dưới quyền, kích thích và khuyến khích
họ, qua đó phát triển họ thành những người có thể suy nghĩ độc lập. Đối với
những nhà lãnh đạo như vậy, học tập được xem là một giá trị trong khi
những tình huống không mong đợi được xem là một cơ hội để học tập, khi
đó những người dưới quyền sẽ tự đặt ra câu hỏi, cân nhắc mọi khả năng và
tìm ra cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ.
Quan tâm cá nhân (Individualized Consideration) được định nghĩa là sự quan
tâm đến nhu cầu của từng cá nhân và phát triển những thế mạnh cá nhân của
11
người dưới quyền. Tùy thuộc vào mức độ nhu cầu của mỗi người, nhà lãnh
đạo sẽ đóng vai trò là người hướng dẫn hoặc người cố vấn, lắng nghe những
mối quan tâm của người dưới quyền, nhà lãnh đạo sẽ tạo sự đồng cảm, duy
trì không khí giao tiếp cởi mở. Bên cạnh đó, quan tâm cá nhân phải bao gồm
cả sự tôn trọng sự đóng góp của từng người dưới quyền cho tập thể. Ngược
Trao quyền cũng liên quan đến việc tạo ra không khí tin tưởng, tôn trọng, cởi
mở và cùng phối hợp, hoà mình vào không khí đó.
Suy nghĩ đổi mới (Innovative Thinking): Nhà lãnh đạo hiệu quả sẽ sử dụng
sự đổi mới để đạt được mục tiêu phát triển của tổ chức. Những nhà lãnh đạo
như vậy sẵn lòng đối diện với nguy cơ cao, tìm kiếm cơ hội trong thách thức
để thực hiện tầm nhìn của mình. Tương tự bản thân họ, nhà lãnh đạo sẽ
khuyến khích người dưới quyền có những suy nghĩ đổi mới và thường xuyên
giao cho họ những nhiệm vụ thử thách. Cùng với sự đổi mới, nhà lãnh đạo sẽ
chấp nhận những sai sót của nhân viên và xem đó như là cơ hội để họ học
hỏi.
Dẫn dắt bằng hình mẫu (Lead by Example): Nhà lãnh đạo sẽ thể hiện sự nhất
quán giữa quan điểm và hành vi của họ. Dẫn dắt bằng hình mẫu còn được gọi
là vai trò làm gương. Nhà lãnh đạo bày tỏ sự tự tin cá nhân và chuẩn mực
những thái độ và giá trị mà họ tán thành, qua đó cung cấp một điểm tham
chiếu tập trung vào người dưới quyền để họ phấn đấu và học hỏi theo người
khác.
Lãnh đạo lôi cuốn (Charismatic Leadership): Bass (1985) cho rằng phẩm
chất quan trọng nhất của nhà lãnh đạo chuyển dạng là sự lôi cuốn. Những
nhà lãnh đạo lôi cuốn được coi là đáng tin cậy, có năng lực và xứng đáng với
sự tôn trọng. Thông qua thuật lãnh đạo lôi cuốn, người dưới quyền sẽ được
truyền cảm hứng cao độ về động lực và hành động hiệu quả trong việc đóng
góp vào các mục tiêu của tổ chức.
Các thành phần do Carless và cộng sự đề xuất chứa đựng đầy đủ các bình
diện của phong cách lãnh đạo chuyển dạng mà Bass (1999) đã đưa ra nhưng ở mức
độ chi tiết hơn, theo đó, bình diện ảnh hưởng lý tưởng được thể hiện qua tầm nhìn,
kích thích trí tuệ được nhấn mạnh qua thành phần suy nghĩ đổi mới, truyền cảm
hứng được bao hàm bởi thuật lãnh đạo lôi cuốn, không chỉ vậy mà còn là dẫn dắt
13
14
căng thẳng, sợ hãi, lo lắng, phiền muộn cả trong và ngoài công việc. Cá nhân
sẽ cảm thấy tự tin nếu họ không trải qua những sự chống đối mạnh mẽ. Vì
vậy, các kỹ thuật trao quyền, hỗ trợ cảm xúc cho nhân viên có thể hiệu quả
để củng cố sự tự tin, tuy nhiên đây được nhận định là yếu tố ít quan trọng
nhất trong bốn yếu tố có ảnh hưởng đến sự tự tin.
Heuven và cộng sự (2006) nhận thấy những nhân viên tự tin cao có niềm tin
mạnh mẽ vào năng lực của họ để thực hiện thành công các tình huống mà công việc
đặt ra, tự thiết lập các mục tiêu thách thức hơn cho bản thân, đầu tư nhiều hơn, kiên
trì lâu hơn và giải quyết tốt hơn những việc chưa thành công hơn những người ít tự
tin.
Trong bối cảnh công việc, sự tự tin thường được đo lường là sự tự đánh giá
khả năng của một người để giải quyết những nhu cầu công việc với nguồn lực mà
họ sở hữu (Bandura, 1997). Những người có sự tự tin cao sẽ chủ động tiếp cận khi
đối mặt với những tình huống căng thẳng trong công việc và tiếp nhận một trách
nhiệm vai trò lớn hơn so với những người ít tự tin (Jex và cộng sự, 2001). Ngoài ra,
sự tự tin cao được chứng minh là có liên quan đến sự thỏa mãn công việc cao hơn
và ý định bỏ việc thấp hơn ở những điều dưỡng (Zellar và cộng sự, 2001)
Schwarzer và Jerusalem (1995) định nghĩa sự tự tin đề cập đến một trạng thái
vững vàng và sâu rộng của năng lực cá nhân nhằm xử lý hiệu quả những tình huống
căng thẳng, đa dạng và phức tạp. Romppel và cộng sự (2013) đã dựa trên thang đo
sự tự tin GSE gồm mười biến quan sát của Schwarzer và Jerusalem (1995) để đề
xuất phiên bản thang đo sự tự tin GSE-6 gồm sáu biến quan sát. Kết quả kiểm định
cho thấy thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy với Cronbach’Alpha là 0,88.
2.1.3. Sự gắn kết với công việc (Work Engagement)
Kahn (1990) định nghĩa sự gắn kết là việc đồng thời có công việc và sự yêu
thích của một người trong các hành vi công việc của mình, qua đó thúc đẩy sự kết
cho những đơn vị có liên quan nhằm mang lại lợi ích đáng kể cho cá nhân, nhóm, tổ
chức hoặc cho xã hội rộng lớn hơn. West và Farr (1990) cho rằng thuật ngữ “sự
sáng tạo” và “sự đổi mới” thường được các nhà nghiên cứu dùng hoán đổi cho
nhau, mặc dù có liên quan nhưng hai thuật ngữ này tồn tại một số điểm khác biệt.
Mumford và Gustafson (1988) định nghĩa sự sáng tạo là sự tạo ra những ý tưởng
mới và hữu ích, thêm vào đó, Woodman và cộng sự (1993) cho rằng khi sử dụng
16
thuật ngữ “sự sáng tạo”, các nhà nghiên cứu thường nói đến những gì được thực
hiện lần đầu tiên ở bất cứ nơi đâu hoặc sự tạo ra một kiến thức mới. Ngược lại, theo
Janssen và cộng sự (2004) thì sự đổi mới là một quá trình phức hợp, nó liên quan
đến những hành động nhằm mục đích phát triển, tiến hành, kiểm tra và điều chỉnh ý
tưởng, nhấn mạnh rằng sự đổi mới không chỉ là những hành động chủ ý tạo ra ý
tưởng mới mà còn là việc giới thiệu, áp dụng ý tưởng mới nhằm nâng cao hiệu suất
hoạt động của cá nhân và tổ chức.
2.1.4.2. Hành vi đổi mới cá nhân (Individual Innovative Behavior)
Theo Janssen (2000) thì hành vi đổi mới cá nhân là một hành vi công việc
phức hợp bao gồm sự sáng tạo, tiếp thị và áp dụng những ý tưởng mới trong vai trò
đối với công việc, nhóm hoặc tổ chức nhằm mục đích nâng cao hiệu quả tổ chức.
Hành vi đổi mới cá nhân được định nghĩa bởi De Jong (2006) là hành vi cá
nhân trực tiếp hướng tới việc khởi đầu và chủ động đưa ra những ý tưởng, thủ tục,
sản phẩm hoặc những quy trình mới, hữu ích đối với vai trò của cá nhân trong công
việc, nhóm hoặc tổ chức.
De Jong và Den Hartog (2007) cho rằng hành vi đổi mới cá nhân bao gồm
những suy nghĩ của cá nhân về các vấn đề còn tồn tại trong phương pháp làm việc,
những yêu cầu chưa được đáp ứng hoặc những dấu hiệu cho thấy có thể thay đổi
được, qua đó đề xuất các giải pháp mới, chia sẻ kiến thức với người khác và giải
quyết các vấn đề theo cách mới. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng