KINH DOANH HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 66

KINH DOANH HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I/ KINH DOANH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI
I.1. Mục tiêu của kinh doanh thương mại
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Kinh doanh thương mại là một dạng của lĩnh vực đầu tư để thực hiện
dịch vụ lưu thông hàng hoá trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Mục đích lợi nhuận là mục đích trước mắt, lâu dài và thường xuyên
của hoạt động kinh doanh và nó cũng là nguồn động lực của kinh doanh.
Muốn có lợi nhuận thì doanh thu bán hàng và dịch vụ phải lớn hơn chi phí
kinh doanh. Muốn có doanh thu bán hàng và dịch vụ lớn thì phải chiếm
được khách hàng, phải bán được nhanh chóng hàng hoá và giảm các
khoản chi phí kinh doanh có thể và không cần thiết. Trong điều kiện cạnh
tranh trên thị trường, việc thu hút được khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp
phải kinh doanh loại hàng hoá phù hợp với nhu cầu của khách hàng, được
khách hàng chấp nhận. Mức độ đạt được và kỳ vọng về lợi nhuận phụ
thuộc vào các loại hàng hoá và chất lượng của chúng, khối lượng và giá cả
của hàng hoá bán được, cung cầu hàng hoá trên thị trường, chi phí kinh
doanh và tốc độ tăng giảm của chi phí kinh doanh v.v... Kinh doanh chịu tác
động của vô vàn các nhân tố chủ quan, khách quan rủi ro trong kinh doanh
là thường xuyên, do vậy an toàn là mục tiêu thứ hai của các nhà kinh
doanh. Trong thị trường cạnh tranh đầy biến động, có nhiều rủi ro, trong
hoạt động kinh doanh vấn đề bảo toàn vốn và phát triển vốn để kinh doanh
liên tục phát triển đòi hỏi phải đặt ra mục tiêu an toàn trong kinh doanh
theo nguyên tắc "Trứng không bỏ hết vào một giỏ", phải có chi phí bảo
hiểm kinh doanh mặc dù các quyết định đưa ra phải rất nhanh, nhạy, dám
chịu mạo hiểm nhưng việc cân nhắc mặt lợi và mặt hại, tầm nhìn xa trông
rộng và bản lĩnh rủi ro thiệt hại có thể xảy ra.

+ Quy luật hàng hoá vận động từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao.
Nếu đi đúng đường này chúng ta có lời, nếu đi ngược dòng thì lỗ.
+ Quy luật mua rẻ bán đăt. Thuận thì có chênh lệch được gọi là lợi
nhuận, ngược thì phải bù lỗ, diễn ra liên tục mua đắt bán rẻ thì phá sản.
+ Quy luật mua của người chán bán cho người cần. Hàng hoá người
bánđã chán thì muốn bán cho nhanh, bán rẻ. Hàng của người mua cần thì
thường trả giá cao.
I.2. Nội dung cơ bản cua kinh doanh thương mại trong nền
kinh tế thị trường
Để hoạt động kinh doanh mọi người, mọi doanh nghiệp đều phải dự
trên những yếu tố, những điều kiện nhất định kinh doanh thương mại có
những đặc điểm và nội dung riêng của nó.
a) Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ
để lựa chọn kinh doanh
Đối tượng của kinh doanh thương mại là hàng hoá và các dịch vụ
trong buôn bán hàng hoá. Có thể kinh doanh một loại hàng hoá (chuyên
doanh) hoặc một nhóm hàng hoá (tổng hợp). Nhưng trước khi tiến hành
hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thương mại phải nghiên cứu và xác
định nhu cầu thị trường về loại hàng hoá đó. Mỗi loại hàng hoá có đặc
điểm cơ, lý, hoá và trạng thái khác nhau: Cho sản xuất hoặc tiêu dùng.
Doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu của khách hàng và tự đáp ứng
cho các nhu cầu hiện nay. Nguồn cung ứng (sản xuất hoặc nhập khẩu)
hàng hoá đó cũng có thể doanh nghiệp kinh doanh những hàng hoá chưa
hề có trên thị trường nhưng chưa qua nghiên cứu tin chắc rằng nhu cầu
của khách hàng sẽ có và ngày càng tăng lên. Nghiên cứu và xác định nhu
cầu của thị trường và doanh nghiệp sẽ đáp ứng, đồng thời doanh nghiệp
thương mại phải nghiên cứu và xác định khả năng của nguồn hàng, khả
năng có thể khai thác, đặt hàng và thu mua để đáp ứng cho nhu cầu của
khách hàng. Từ đó doanh nghiệp lựa chọn để đi vào kinh doanh. Việc
nghiên cứu và xác định nhu cầu của thị trường về loại hàng hoá để lựa

nhận, thanh toán với người mua hàng, người bán hàng v.v... Trong hoạt
động kinh doanh phải thực hiện hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng. Chỉ
có thực hiện các hoạt động dịch vụ mới có thể thu hút được khách hàng.
d) Quản trị vốn, phí, hàng hoá và nhân sự trong hoạt động kinh doanh
Quản trị kinh doanh thương mại phải quản trị vốn, kinh doanh chi phí,
hàng hoá và nhân sự.
Quản trị vốn là thực hiện sử dụng vốn trong kinh doanh và theo dõi
được kết quả sử dụng vốn là có lãi hay lỗ. Phải quản lý được các khoản chi
và phải chi đúng mục đích. Đúng kế hoạch và đúng hướng. Quản trị chi phí
là phải có kế hoạch chi, phải theo dõi và tính toán đúng đắn các khoản chi
phí, tiết kiệm chi phí.
Quản trị hàng hoá phải nắm được quy trình, quy phạm bảo quản loại
hàng hoá và không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ của các
cán bộ công nhân viên có liên quan. Quản trị nhân sự là lựa chọn, bố trí,
sắp xếp, phân công việc nào người nấy phù hợp để hoàn thành tốt mọi
chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp. Quản trị nhân sự cũng như quản trị
các hoạt động kinh doanh phải thực hiện các chức năng hoạch định, tổ
chức, cán bộ, chỉ huy và kiểm tra.
I.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
I.3.1. Doanh nghiệp thương mại và vai trò của doanh nghiệp
thương mại trong nền kinh tế quốc dân
a) Doanh nghiệp thương mại và chức năng của nó
+ Doanh nghiệp thương mại:
Phân công lao động xã hội và chế sở hữu về tư liễu đã làm nảy sinh ra
nền sản xuất hàng hoá. Quá trình tái sản xuất bao gồm: sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng. Tiền tệ ra đời đã làm cho quá trình trao đổi sản
phẩm mang hình thái mới là lưu thông hàng hoá với hai thái cực đối lập là
mua và bán. Thực hiện hai thái cưc này dần dần trở thành các chức năng
hoạt động của một loại người (chuyên môn hoá) đó là thương nhân. Như
vậy, thương mại trở thành lĩnh vực kinh doanh. Quy luật chi phối hoạt

được thì mới mua. Khi mua hàng hoá, các doanh nghiệp thương mại đã
làm chức năng tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất.
Mục đích hoạt động của doanh nghiệp thương mại là nhằm thu được
lợi nhuận. Muốn thu được lợi nhuận thì phải bán được hàng hoá. Giá bán
phải cao hơn giá mua và cộng thêm chi phí. Nếu không bán được hàng hoá
hoặc bán được hàng hoá hoặc bán với giá thấp hơn giá vốn thì doanh
nghiệp sẽ bị thua lỗ và có nguy cơ bị phá sản. Do vậy, bán khó hơn mua. Khi
bán hàng hoá, các doanh nghiệp thương mại đã làm chức năng bảo đảm
vật tư cho sản xuất và hàng tiêu dùng cho dân cư.
Thứ tư là chức năng tổ chức sản xuất. Doanh nghiệp kinh doanh hàng
hoá không phải chỉ tác động trong lưu thông. Qua hoạt động mua bán, các
doanh nghiệp thương mại còn có ảnh hưởng to lớn tới quá trình sản xuất,
thúc đẩy hoặc làm đình trệ sản xuất. Nó góp phần phân bố, tổ chức lãi xã
hội hình thành những quan hệ kinh tế mới. Điều đó thể hiện ở ba mặt sau:
+ Doanh nghiệp thương mại là người đại diện cho các doanh nghiệp
tiêu dùng để quan hệ với các doanh nghiệp sản xuất. ở đây, các doanh
nghiệp thương mại phải am hiểu nhu cầu tiêu dùng để đặt hàng với người
sản xuất, hướng dẫn sản xuất phù hợp với yêu cầu của thị trường, nắm
chắc khách hàng mua và sở thích của họ.
+ Doanh nghiệp thương mại đại diện được cho người sản xuất để
quan hệ với người tiêu dùng. Thực hiện chức năng này, các doanh nghiệp
phải điều tra nghiên cứu thị trường để giúp người sản xuất chiếm lĩnh
được thị trường, hướng dẫn các đơn vị tiêu dùng về sử dụng hợp lý, có hiệu
quả hàng hoá, làm dịch vụ thương mại, quảng cáo giới thiệu sản phẩm cho
các doanh nghiệp sản xuất. Nó phải giúp cho người sản xuất tiêu thụ được
nhanh hàng hoá.
+ Doanh nghiệp thương mại là trung gian giữa người sản xuất và
người tiêu dùng. Các doanh nghiệp thương mại đảm bảo sự cân đối cung
cầu hàng hoá ghép mối hợp lý và người tiêu dùng, tổ chức vận động hợp lý
của sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân. Nó là trung tâm thông

kinh doanh.
+ Vốn kinh doanh ít bị ứ đọng do mua nhanh, bán nhanh và đầu tư vốn
cho nhiều ngành hàng có khả năng quay vòng nhanh.
+ Có thị trường rộng, luôn có thị trường mới và bước đầu cạnh tranh
đã kích thích năng động sáng tạo và đòi hỏi sự hiểu biết nhiều của kinh
doanh.
* Nhược điểm của loại hình kinh doanh này là:
+ Khó trở thành độc quyền trên thị trường và ít có điều kiện tham gia
với các liên minh độc quyền.
+ Với mỗi ngành hàng luôn là ngành kinh doanh nhỏ, không ổn định.
Do vậy, không thể tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch.
+ Không bộc lộ được sở trường kinh doanh. Do không chuyên môn hoá
nên khó đào tạo, bồi dưỡng được các chuyên gia ngành hàng.
II/ NỘI DUNG CỦA ĐẨY MẠNH KINH DOANH Ở DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
II.1. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh ở doanh
nghiệp thương mại
a) Chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại
Nhà kinh doanh với những đức tính cần thiết và sự am hiểu kỹ năng
quản trị kinh doanh chưa thể đưa doanh nghiệp của mình để thành công
nếu chưa đề ra được kinh doanh năng động. Chiến lược đó thể hiện nội
dung hoạt động, mục tiêu và các giải pháp ứng xử của doanh nghiệp trên
thị trường. Chiến lược ấy bao gồm một số nội dung chủ yếu sau đây:
+ Chiến lược quy mô kinh doanh và tích luỹ phát triển tài sản vô hình.
Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp phải được xác định hợp lý trên
cơ sở dự đoán dung lượng thị trường, tiềm lực kinh doanh. Doanh nghiệp
phải xác định được điểm hoà vốn để tối ưu hoá quy mô kinh doanh. Chiến
lược về quy mô kinh doanh bao gồm lựa chọn quy mô sản xuất tối ưu để
tránh bị tồn kho ứ đọng và chiến lưọc thích nghi sản phẩm. Thích nghi sản
phẩm có một ý nghĩa quan trọng đối với việc tồn tại và phát triển doanh
nghiệp. Doanh nghiệp cần xây dựng chu trình chiến lược sản phẩm: sản

thay đổi trong nhu cầu kế hoạch và sử dụng tác động ảnh hưởng của khách
hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status