Thực trạng hoạt động SXKD và quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh
ở công ty 20
I - Giới thiệu khái quát về Công ty 20 - TCHC - BQP.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 20.
Công ty 20 - Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng là một trong những
doanh nghiệp ra đời sớm nhất của Ngành Hậu cần quân đội. Quá trình xây
dựng và trưởng thành của công ty gắn liền với sự phát triển của Ngành
hậu cần nói riêng và nền Công nghiệp quốc phòng của đất nước ta nói
chung.
Công ty được thành lập theo quyết định số 467/QĐ-QP ngày
04/8/1993 và quyết định số 119/ĐM-DN ngày 13/3/1996 của Văn phòng
Chính phủ.
Nhiệm vụ chính của công ty là:
- Sản xuất các sản phẩm quốc phòng, chủ yếu là hàng dệt, may theo
kế hoạch hàng năm và dài hạn của TCHC - BQP.
- Sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dệt, may phục vụ cho nhu cầu
tiêu thụ trong nước và tham gia xuất khẩu.
- Xuất nhập khẩu các sản phẩm, vật tư, thiết bị phục vụ
cho sản xuất các mặt hàng thuộc ngành may và dệt của công
ty.
Quá trình phát triển của công ty từ khi thành lập tới
nay có thể khái quát thành 5 giai đoạn sau đây:
Giai đoạn từ năm 1957 - 1964
Công ty 20 được thành lập ngày 18/02/1957 tại phòng làm việc của
tên chủ nhà máy da Thụy Khuê thuộc quận Ba Đình - Thành phố Hà Nội với
tên " Xưởng may đo hàng kỹ " gọi tắt là X20.
Nhiệm vụ của xưởng khi mới thành lập là đo may phục vụ cán bộ
trung - cao cấp trong toàn quân, tham gia nghiên cứu chế thử và sản xuất
thử nghiệm các kiểu quân trang, quân phục cho bộ đội.
Biên chế ban đầu X20 có 36 người. Cơ sở vật chất kỹ thuật rất nghèo
nàn, mô hình sản xuất chỉ giống như một tổ hợp sản xuất.
Cũng như nhiều đơn vị sản xuất trong và ngoài quân đội, xí nghiệp
may 20 đứng trước hai thử thách lớn: bảo đảm cho sản xuất tiếp tục phát
triển và bảo đảm ổn định đời sống cho cán bộ, công nhân viên.
Để hoàn thành nhiệm vụ, xí nghiệp đã tiến hành một loạt các biện
pháp như: tổ chức lại sản xuất, kiện toàn bộ máy quản lý, tăng cường quản
lý vật tư, đẩy mạnh sản xuất. Chuẩn bị tốt cho việc đi sâu vào hạch toán
kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Năm 1985, quân đội có sự thay đổi lớn trong việc tinh giảm biên chế,
dẫn tới khối lượng quân trang sản xuất giảm nhiều. Được sự đồng ý của
TCHC, sự giúp đỡ của bộ Công nghiệp nhẹ và Liên hiệp các xí nghiệp gia
công hàng xuất khẩu may mặc Việt Nam. Xí nghiệp đã lập luận chứng kinh
tế kỹ thuật, vay 20.000 USD để mua sắm trang thiết bị chuyên dùng, đổi
mới dây chuyền công nghệ, tham gia may gia công hàng xuất khẩu.
Năm 1988, xí nghiệp được chấp nhận là thành viên của
Confectimex và tham gia chương trình 19/5 về làm hàng gia
công xuất khẩu cho bạn hàng Liên Xô.
Giai đoạn từ năm 1988 - 1992.
Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế
thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đã mở ra những triển vọng,
những thuận lợi mới cho các doanh nghiệp. Đồng thời cũng nảy sinh không
ít khó khăn do bản thân cơ chế thị trường gây ra. Trong bối cảnh đó, xí
nghiệp may 20 cũng chịu sự tác động to lớn.
Trước tình hình đó, xí nghiệp may 20 đã mạnh dạn chuyển hướng
sang sản xuất hàng gia công xuất khẩu cho các nước khu vực 2 như: Hồng
Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Nhật bản. Việc tiếp cận thị trường mới
gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi xí nghiệp phải có những chuyển biến về công
tác kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Đảng bộ xí nghiệp đã tìm ra con đường riêng. Dựa vào đặc thù của xí
nghiệp, của ngành sản xuất kinh doanh để nhanh chóng đổi mới cơ cấu tổ
chức, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, trình độ quản lý, tận dụng
triển thêm ngành dệt vải. Có thể nói đây là những bước đi đầu tiên đầy khó
khăn gian khổ để cho ra đời một ngành sản xuất mới của công ty.
Ngày 19/02/1998, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết định số
199/QĐ-QP cho phép thành lập xí nghiệp dệt vải trực thuộc Công ty may 20
(địa điểm đóng tại thành phố Nam Định).
Ngày 17/3/1998, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết
định số 319/QĐ -QP cho phép Công ty may 20 đổi tên thành
Công ty 20.
Năm 1999 và năm 2000 Công ty 20 được Bộ thương
mại cấp bằng vì đã có thành tích trong lĩnh vực kinh doanh
xuất – nhập khẩu. Năm 2000 Công ty 20 đã được nhận cờ
của chính phủ tăng “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm
2000”
Ngày 27/09/2001, Tổ chức kiểm định chất lượng quốc
tế BVQI (Vương quốc Anh) đã cấp chứng chỉ số 88023 công
nhận đạt chuẩn chất lượng quốc tế về quản lý ISO 9001 cho
cơ quan công ty 20 và Xí nghiệp may 3 thuộc Công ty 20.
Mô hình tổ chức của Công ty 20 hiện nay bao gồm: Ban giám đốc
công ty 6 phòng nghiệp vụ; 11 đơn vị thành viên trong đó có 2 xí nghiệp
dệt, 5 xí nghiệp may, 1 trung tâm thương mai dịch vụ, 1 chi nhánh tại phía
Nam, 1 trường Mẫu giáo Mầm non, 1 trung tâm huấn luyện. Tổng quân số
của công ty hiện nay lên đến hơn 3000 người.
Với chặng đường bốn mươi bốn năm xây dựng và
trưởng thành từ “Xưởng may đo hàng kỹ" đến Công ty 20 là
một quá trình phát triển phù hợp với tiến trình lịch sử của
đất nước, của quân đội . Đó là quá trình phát triển từ không
đến có, từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ đến hiện đại, từ sản xuất
thủ công đến bán cơ khí rồi cơ khí toàn bộ, từ quản lý theo
chế độ bao cấp đến hạch toán từng phần rồi hạch toán toàn
phần, tiến tới hòa nhập với thị trường trong nước, khu vực
doanh, có uy tín trên thị trường, bảo đảm đứng vững trong cạnh tranh và
phát triển trong điều kiện hiện nay. Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng
chức năng đã đáp ứng nhiệm vụ chỉ đạo và kiểm tra mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của toàn công ty.
Giám đốc công ty: Là người đại diện có tư cách pháp nhân cao nhất
tại Công ty, là sĩ quan QĐ NDVN do cấp trên bổ nhiệm, chịu trách nhiệm
trước TCHC - BQP, trước pháp luật và cấp ủy về điều hành hoạt động của
Công ty. Có nhiệm vụ lãnh đạo, điều hành và quyết định mọi hoạt động của
Công ty
Xn 4
xn 3Xn 1 xn 2
Xn 5 Xn 6
Tr ngườ
m m nonầ
Xn
dệt vải
Trung tâm
hu n luy nấ ệ
Công ty theo đúng kế hoạch được cấp trên phê duyệt và nghị quyết Đại hội
CNVC hàng năm.
Các phó giám đốc công ty: Có nhiệm vụ giúp giám đốc điều hành
các lĩnh vực, phần việc được phân công. Được quyền chủ động điều hành,
giải quyết các lĩnh vực công việc được giám đốc phân công và uỷ quyền.
Chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty, trước pháp luật về mọi hoạt
động của mình.
- Phó giám đốc kinh doanh: Giúp giám đốc điều hành về các hoạt
động kinh doanh của đơn vị. Hiện nay đang kiêm nhiệm chức giám đốc xí
nghiệp dệt vải, trực tiếp chỉ đạo phòng Tài chính - Kế toán và phòng Kinh
doanh - xuất nhập khẩu.
- Phó giám đốc sản xuất: Giúp giám đốc điều hành trong công tác
công ty, cơ quan tài chính cấp trên và pháp luật về thực hiện các nghiệp vụ
tài chính kế toán của công ty.
- Lập kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn để đảm bảo mọi nhu cầu
về vốn phục vụ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
- Thực hiện chế độ ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, trung
thực, kịp thời, liên tục và có hệ thống số liệu kế toán về tình hình luân
chuyển, sử dụng vốn, tài sản cũng như kết quả hoạt động, sản xuất của
Công ty.
- Tổ chức theo dõi công tác hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm định
kỳ tổng hợp báo cáo chi phí sản xuất và giá thành thực tế sản phẩm.
- Kiểm tra giám sát tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của toàn
Công ty, chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra nhiệm vụ hạch toán, quản lý tài chính
ở các xí nghiệp thành viên.
Phòng Kinh doanh - Xuất nhập khẩu:
Phòng kinh doanh - xuất nhập khẩu là cơ quan tham mưu giúp Giám
đốc Công ty xác định phương hướng, mục tiêu KD - XNK và dịch vụ, giúp
Giám đốc Công ty xây dựng các kế hoạch KD - XNK và dịch vụ theo định kỳ
dài hạn và hàng năm. Phòng còn là nơi nghiên cứu chiến lược kinh doanh,
xuất nhập khẩu trên các lĩnh vực: thị trường sản phẩm, khách hàng... trực
tiếp tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ về kinh doanh và
dịch vụ theo kế hoạch. Phòng cũng là cơ quan tham mưu cho Giám đốc
Công ty trong công tác giao dịch, đối ngoại nhằm mở rộng thị trường, tìm
nguồn hàng và khách hàng; nghiên cứu và thực hiện các văn bản pháp
luật, quy định của Nhà nước và Bộ quốc phòng.
Phòng chính trị:
Là cơ quan đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính
trị ở công ty. Có nhiệm vụ giúp giám đốc công ty thực hiện
công tác tuyên huấn, công tác tổ chức xây dựng Đảng, công
tác cán bộ chính sách, và các công tác đoàn thể như công
đoàn, phụ nữ, thanh niên trong đơn vị....
Trong mô hình tổ chức biên chế năm 2000 một số Xí nghiệp lớn như
xí nghiệp 1, 2, 3... các Ban nghiệp vụ như TCSX, Kỹ thuật đều được nâng cấp
lên phòng nâng cao cả về quy mô và chất lượng giúp việc cho các Giám đốc
XN thực hiện tốt hơn nhiệm vụ SXKD của mình.
sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Giám đốc công ty
Phó giám đốc
kinh doanh
Phó giám đốc
sản xuất
Phó giám đốc
Chính trị
Phòng
Kỹ thuật
Chất lượng
Phòng
Hành
chính
quản trị
Phòng
Chính trị
Phòng
Kế hoạch
Tổ chức
Sản xuất
Phòng
Kinh doanh
Xuất nhập
khẩu