Vai trò của luật sư trong hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 66

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THÙY DƯƠNG

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THÙY DƯƠNG

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Thắng


5

THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.

Sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự

5

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của luật sư và nghề luật sư

5

1.1.2. Khái luận về tố tụng dân sự

11

1.1.3. Sự cần thiết tham gia và vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự

13

1.2.

Khái luận về chứng cứ trong tố tụng dân sự

17

1.2.1. Khái niệm và các thuộc tính của chứng cứ



34

trong tố tụng dân sự
2.1.1. Các quy định chung về hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư

34

2.1.2. Hoạt động thu thập chứng cứ trước khi Tòa án thụ lý yêu cầu

36

2.1.3. Hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

42

2.1.4. Hoạt động thu thập chứng cứ tại tòa án

47


2.2.

Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về vai trò của luật

49

sư trong thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam
hiện nay
2.3.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

77


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Tổng hợp kinh phí Công ty TH đã bỏ ra khắc phục thiệt

56

bảng
2.1

hại do cơn bão số 1 năm 2016 gây ra


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu
Trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, cải cách tư pháp
luôn là vấn đề cấp thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong
những giai đoạn gần đây, khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế càng đẩy mạnh
thì cải cách tư pháp là nhu cầu khách quan để đáp ứng yêu cầu trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự đang ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như
tính chất phức tạp của từng loại vụ việc. Trong đó việc tăng cường vai trò của

trong trường hợp đương sự không tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ và
có đơn yêu cầu tòa án. Điều này đã giảm tải cho tòa án các công việc phải tiến
hành khi giải quyết vụ việc dân sự, trả lại đúng bản chất dân sự và đảm bảo
quyền định đoạt cho đương sự khi quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
thuộc về đương sự.
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 đã cho thấy nhiều mặt hạn chế, khiến cho hoạt động thu
thập chứng cứ của đương sự, luật sư không đạt được hiệu quả như mong
muốn, cần thiết phải tiếp tục sửa đổi bổ sung cho phù hợp, kịp thời điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Đứng trước những yêu cầu cần thay đổi phù hợp với sự
phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hội nhập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chứng cứ, vai trò của luật sư trong hoạt
động thu thập chứng cứ, thực tiễn áp dụng các quy định để làm sáng tỏ về mặt
khoa học và đưa ra những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả trong áp
dụng các quy định của pháp luật là rất cần thiết, không chỉ có ý nghĩa lý luận,
thực tiễn mà còn có ý nghĩa pháp lý quan trọng.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích:
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
cũng như các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về

2


vai trò của luật sư trong hoạt động thu thập chứng cứ khi giải quyết vụ việc
dân sự, tác giả cũng phân tích các quy định của pháp luật nhằm hiểu rõ hơn
các quy định đó. Từ đó, tác giả nhận thức được vấn đề thu thập chứng cứ của
đương sự, luật sư đồng thời chỉ ra những thiếu sót, những điểm chưa hợp lý
của pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn nhằm đề ra những kiến nghị và giải

xem xét vấn đề một cách toàn diện; phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, nghiên cứu chuyên
sâu các vấn đề dưới góc độ pháp luật như phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh… Nhờ vậy, những vấn đề về chứng cứ, hoạt động thu thập chứng cứ
và vai trò của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng cứ được xem xét, đánh
giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện, xác thực và có
tính hệ thống.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhận thức về vai trò của luật sư trong việc thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về vai trò của luật sư trong
thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của
luật sư trong thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự.

4


Chương 1
NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG VIỆC THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của luật sư và nghề luật sư
1.1.1.1. Khái niệm luật sư, nghề luật sư
Ngày nay trong xu thế hội nhập và không ngừng phát triển, thuật ngữ
luật sư đã trở nên quen thuộc, đội ngũ luật sư ngày càng đóng vai trò quan

còn có rất nhiều bộ phận khác như thẩm phán, kiểm sát viên, chuyên gia pháp
chế, các giảng viên luật, các cử nhân luật, các chuyên viên tư vấn pháp luật…
Luật sư ở Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài bắt đầu
từ thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công,
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã có các quy định về luật sư và tổ
chức đoàn thể luật sư. Pháp lệnh tổ chức Luật sư năm 1987 ra đời nhưng
không đưa ra định nghĩa về luật sư mà chỉ quy định muốn làm luật sư thì phải
có đủ các điều kiện theo quy định và gia nhập một Đoàn Luật sư. Đến Pháp
lệnh Luật sư năm 2001 khái niệm luật sư mới được đặt ra, theo đó luật sư là
người có đủ điều kiện hành nghề luật sư: "Luật sư là người có đủ điều kiện
hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng,
thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác nhau theo yêu cầu của cá
nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của
pháp luật" [39, Điều 1]. Người muốn hành nghề luật sư phải gia nhập Đoàn Luật
sư và có Chứng chỉ hành nghề Luật sư "Người muốn được hành nghề luật sư
phải gia nhập một Đoàn luật sư và có Chứng chỉ hành nghề luật sư" [39, Điều 7].
Tuy nhiên quy định về tiêu chuẩn hành nghề luật sư trong Pháp lệnh Luật sư
năm 2001 chủ yếu đưa ra cách hiểu thuật ngữ chứ không khái quát thành khái
niệm. Đến Luật Luật sư năm 2006, khái niệm luật sư được hoàn thiện hơn,
"Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của
Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ

6


chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" [20, Điều 2]. Quy định tiêu chuẩn
luật sư là một điểm mới trong khái niệm luật sư của Luật Luật sư năm 2006,
"Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề
Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khỏe bảo đảm

dịch vụ nhưng là một ngành dịch vụ đặc biệt bởi đặc trưng của nó là ngành
nghề "kinh doanh chất xám", giúp chống bất công xã hội, tạo niềm tin vào
công lý, pháp luật. Luật sư bằng kiến thức pháp luật, kinh nghiệm tích lũy của
mình cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng và quy định
của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, góp phần bảo
vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.1.2. Đặc điểm của luật sư và nghề luật sư
- Tiêu chuẩn luật sư
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của
cá nhân luật sư. Nói cách khác phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là
yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Người muốn hành nghề luật sư phải
được công nhận là luật sư. Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012
quy định về tiêu chuẩn để được công nhận luật sư và được cấp chứng chỉ
hành nghề bao gồm:
Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc,
Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật,
Có phẩm chất đạo đức tốt,
Có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian
tập sự hành nghề luật sư,
Có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư.
- Khóa đào tạo nghề luật sư
Để nâng cao chất lượng của luật sư, đảm bảo năng lực pháp lý, ngoài
tiêu chuẩn về bằng cử nhân luật còn phải qua một khóa đào tạo nghề luật sư.
Thời gian của khóa đào tạo nghề luật sư theo quy định của các nước là không
giống nhau. Singapore quy định thời gian đào tạo là 5 tháng, trong khi đó
Pháp quy định thời gian của khóa đào tạo nghề luật sư là 12 tháng, còn Nhật
quy định thời gian của khóa đào tạo là 18 tháng và Đức là 2 năm [38, tr. 11].

9


10


- Kỳ thi công nhận luật sư
Kỳ thi công nhận luật sư tập trung vào kiểm tra về đạo đức nghề
nghiệp và kỹ năng hành nghề của luật sư, đây là điều kiện bắt buộc để đánh
giá khả năng hành nghề của một luật sư. Khi đã hoàn thành thời gian tập sự
theo quy định, người tập sự hành nghề luật sư được tham dự kiểm tra kết quả
tập sự hành nghề luật sư, khi đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề
luật sư sẽ được Hội đồng kiểm tra cấp Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập
sự hành nghề luật sư. Sau đó, người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành
nghề luật sư có hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư gửi Ban chủ
nhiệm Đoàn luật sư.
- Hành nghề luật sư
Sau khi có Chứng chỉ hành nghề luật sư, cấp Thẻ Luật sư và gia nhập
một Đoàn luật sư, luật sư có thể lựa chọn một hình thức hành nghề được pháp
luật quy định. Trên thế giới hiện nay chủ yếu có hai hình thức tổ chức hành
nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật hợp danh để đảm bảo tính
chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của nghề luật sư. Tại Việt Nam,
hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn vẫn được chấp nhận. Ngoài ra luật
sư có thể làm thuê cho khách hàng không chuyên môn hay còn gọi là luật sư
nội bộ, tức là người chủ thuê luật sư cũng đồng thời là khách hàng duy nhất
của luật sư đó, luật sư không có khách hàng riêng nào khác.
1.1.2. Khái luận về tố tụng dân sự
Tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, các
vụ án dân sự tại tòa án; trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Hoạt động tố tụng
dân sự được thực hiện bởi hai loại chủ thể khác nhau, đó là người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng. Nếu thiếu một trong hai loại chủ thể nêu trên
thì sẽ không hình thành quan hệ tố tụng.
Luật tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp

tranh chấp các đương sự tự quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án giải
quyết vụ việc. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân
sự, các đương sự vẫn có thể thương lượng, dàn xếp, thỏa thuận giải quyết

12


những vấn đề tranh chấp, rút yêu cầu, rút đơn khởi kiện, tự thi hành án hay
không yêu cầu thi hành án nữa.
1.1.3. Sự cần thiết tham gia và vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự
Luật sư và nghề luật sư đã ra đời và phát triển từ rất lâu khoảng thế
kỷ XII tại Đức, Pháp, tuy nhiên ở những nước mà mối quan hệ giữa con
người với con người bị chi phối, ảnh hưởng nhiều bởi tâm linh thì nghề luật
sư chậm phát triển hơn. Ví dụ như ở các nước Hồi giáo nghề luật sư ít phát
triển, thậm chí không có nghề luật sư bởi người Hồi giáo phục tùng ý chí của
đấng Allah, người duy nhất có quyền phán xử điều đúng, sai. Đạo Hồi chính
là những lời răn dạy, những giáo lý về đạo đức cũng như những quy tắc của
cuộc sống mà con người phải theo.
Nghề luật sư được coi trọng và phát triển tại các nước dân chủ, phát
triển. Để đảm bảo công lý các bên khi tham gia tố tụng đều có sự giúp đỡ từ
phía những nhà chuyên nghiệp là luật sư, thậm chí, yêu cầu có luật sư còn là
điều kiện tiên quyết khi các bên tham gia tố tụng. Theo quan điểm của luật sư
phương Tây thì luật sư khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, cho cá
nhân, phải đặt quyền lợi của cá nhân cao hơn hoặc bằng quyền lợi của cộng
đồng xã hội.
Nhiệm vụ của luật sư là góp phần bảo vệ pháp quyền bằng việc hướng
dẫn cho khách hàng hiểu đúng quy định và tinh thần của pháp luật, thi hành,
phục vụ công lý, bảo vệ những quyền và lợi ích của công dân đã được Hiến
pháp và pháp luật bảo vệ. Hoạt động nghề nghiệp của luật sư với tư cách là
người có kiến thức sâu rộng về pháp luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích

hóa của dân tộc; biết cách tìm kiếm, thu thập và sử dụng chứng cứ để trước
hết tự mình thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình trước pháp luật.
Thứ ba, tính chất phản biện: tính chất phản biện trong hoạt động của
luật sư là dựa trên sự hiểu biết sâu rộng về pháp lý và đạo lý để đưa ra những
biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác. Luật sư
giúp khách hàng nhìn nhận vấn đề theo nhiều góc độ để bảo vệ công lý và lợi

14


ích của khách hàng. Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực
để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ đúng sai… từ đó đề
xuất những biện pháp, quan điểm phù hợp bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý.
Theo quy định tại Điều 22 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi bổ sung
năm 2012 của pháp luật thì nội dung của nghề Luật sư bao gồm:
Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.
Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy
định của pháp luật.
Thực hiện tư vấn pháp luật.
Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có
liên quan đến pháp luật.
Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật này.
Nhìn chung, luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề

tố tụng nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng: Luật sư là chuyên gia
pháp luật, bên cạnh việc trực tiếp tham gia tranh tụng luật sư còn đóng vai trò
tư vấn pháp luật cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức để họ nhận thức và thực
hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật hay khi
tham gia tố tụng. Thậm chí luật sư còn được coi là người bạn đồng hành cùng
doanh nghiệp. Theo đó luật sư cùng doanh nghiệp tham gia vào "sân chơi"
kinh tế chung, để doanh nghiệp nắm vững các quy định của pháp luật tránh
vướng mắc đồng thời thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của mình cũng như bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp trước các chủ thể khác. Cụ thể, luật sư tư
vấn, giải đáp cho đương sự các vấn đề khúc mắc có liên quan đến vụ việc trên
cơ sở đối chiếu các quy định của pháp luật, soạn thảo các văn bản liên quan.
Việc tư vấn pháp luật của luật sư cũng góp phần giảm thiểu được những tranh

16


chấp trong xã hội, hạn chế được những vi phạm do sự thiếu hiểu biết pháp
luật của người dân gây ra.
- Vai trò của luật sư trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật là khâu đầu tiên, quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống. Trong
điều kiện pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, điều chỉnh đa dạng các
quan hệ xã hội phục vụ tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hoạt động phổ
biến, giáo dục pháp luật tuy đã được thực hiện nhiều năm nhưng chưa thực sự
đáp ứng yêu cầu bức thiết của tình hình mới. Là người có kiến thức pháp luật
sâu rộng, luật sư góp phần quan trọng trong việc tuyền truyền phổ biến giáo
dục pháp luật trong cộng đồng và xã hội, xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật bằng việc phát hiện những hạn chế, thiếu sót của pháp luật trong
quá trình luật sư tham gia tố tụng.
Có thể thấy rằng, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích

quy định như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương
sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa
án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn
cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định
yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp [27].
Việc cung cấp chứng cứ có thể được tiến hành ngay từ khi khởi kiện
và trong cả quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Luật sư khi tham gia tố
tụng dân sự với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
cũng có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015. Còn với tư cách là người đại diện của đương sự luật sư có
trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chứng cứ đóng vai trò quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc dân
sự nhưng là phạm trù pháp lý khá phức tạp. Tuy vậy, cũng như các sự vật, sự
việc khác con người vẫn có thể nhận thức được chứng cứ thông qua các thuộc

18


tính của nó. Các thuộc tính của chứng cứ bao gồm: tính khách quan, tính liên
quan và tính hợp pháp.
Chứng cứ có tính khách quan bởi chứng cứ là cơ sở để nhận thức vụ
việc dân sự. Theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ nhận thức đúng bản
chất của sự vật, sự việc khi nó được phản ánh lại một cách khách quan.
Những cái có được là do sự tưởng tượng, hư cấu sẽ không bao giờ nói lên
được bản chất sự vật, sự việc và không thể làm cơ sở của nhận thức.
Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là cái có
thật, tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người. Chứng cứ có thể là sản phẩm
của ý chí con người nhưng từ thời điểm ra đời, tính khách quan của chứng cứ đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status