PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
KINH DOANH TẠI CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI.
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI.
1. Quá trình hình thành và phát triển .
Công ty Da giầy Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước, là thành viên của
Tổng công ty Việt Nam, trực thuộc Bộ công nghiệp. Công ty là một đơn vị kinh
doanh hoạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về mặt tổ chức, công ty là một pháp
nhân kinh doanh.
Hiện nay công ty có trụ sở tại số 409 đường Nguyễn Tam Trinh, Quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đây là địa chỉ giao dịch, đồng thời là cơ sở sản xuất
chính hiện nay của công ty.
Công ty da giầy Hà Nội trải qua một quá trình phát triển lâu dài, trải qua
nhiều giai đoạn, gắn liền với các giai đoạn lịch sử và quá trình phát triển của
đất nước. Quá trình đó có thể phân thành các giai đoạn sau:
- Giai đoạn một: Từ 1912-1954.
Năm 1912, là một nhà tư sản người Pháp đã đầu tư vào ngành da giầy và
thành lập nên "công ty thuộc da Đông Dương” tiền thân của Da giầy Hà Nội
ngày nay.
Trong giai đoạn 1912-1954 công ty hoạt động dưới cơ chế quản lý TBCN,
công ty chủ yếu:
Hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận và sản xuất phục vụ nhu cầu quân đội
Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương, máy móc lúc này
được đưa từ Pháp sang, hoạt động sản xuất sử dụng lao động thủ công là chủ
yếu, quy mô sản xuất nhỏ. Sản lượng của công ty thời kỳ này chỉ đạt 200000-
300000 chiếc /năm.
- Giai đoạn hai: 1954-1960
Năm 1954, sau ngày thủ đô giải phóng, công ty thuộc da Đông Dương thuộc
quyền quản lý của Việt Nam. Giai đoạn này công ty hoạt động dưới hình thức
hợp doanh, tên công ty đổi thành “Công ty thuộc da Đông Dương “Quy mô sản
xuất được mở rộng, sản lượng tăng từ 20%-30% so với năm trước.
- Giai đoạn ba : 1980-1987.
(Ha Noi leather and foootwwear company)
Tháng 6 năm 1996, công ty Da giầy Hà Nội trở thành thành viên của công ty
da giầy Việt Nam. Giai đoạn này là một thời kỳ khó khăn và có sự chuyển đổi
một cách cơ bản về mặt hàng sản phẩm, phương hướng của công ty Da giầy
Hà Nội. Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 hệ thống các nước XHCN ở Đông
Âu sụp đổ, công ty mất đi thị trường rộng lớn, doanh thu liên tục giảm sút, đến
năn 1992 công ty chỉ còn 1,1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, hầu hết các trang thiết bị, máy móc được trang bị từ thời Pháp
thuộc hoặc từ những năm 50, 60. Tới thời kỳ này, thiết bị đã được khấu hao
hết và rơi vào tình trạng lạc hậu nhưng vẫn được sử dụng để sản xuất. Do vậy,
sản phẩm của công ty bị hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Để đáp ứng
nhu cầu sản xuất, năm 1994 công ty đã nhập một dây chuyền sản xuất từ Italia
và thực hiện chuyển giao công nghệ bằng nguồn vốn ODA của Italia. Song do
có sự thay đổi về mặt chính trị, tổ chức về phía đối tác, hợp đồng chuyển giao
công nghệ trên không được thực hiện hoàn chỉnh. Đến nay, toàn bộ dây chuyền
của công ty Da giầy Hà Nội đã được chuyển giao cho nhà máy da giầy Vinh.
Công ty Da giầy Hà Nội thực hiện chuyển đổi mặt hàng sản xuất. Hiện nay, sản
phẩm chính của công ty là giầy da, giầy vải.
2. Chức năng nhiệm vụ của công ty.
Theo điều lệ thành lập công ty, công ty Da giầy Hà Nội có các chức năng
nhiệm vụ chính sau :
- Sản xuất các loại da và thiết bị ngành da phục vụ nhu cầu trong nước và
xuất khẩu, công ty sản xuất hai loại da chính là: Da cứng dùng cho chế biến
dụng cụ và các thiết bị ngành da phục vụ chủ yếu cho cho công nghiệp, da mền
chủ yếu phục vụ cho quân trang quân dụng và các hàng tiêu dùng khác phục vụ
cho nhu cầu đời sống nhân dân.
Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị hoá chất thuộc ngành
da. Sản xuất da công nghệ:
-Sản xuất giầy vải xuất khẩu.
Trong thời gian qua công ty đã lỗ lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ sản
đông, khi rơi vào tình trạng khủng khoảng, vấn đề đặt ra đối với ban lãnh đạo
là giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động. Nhân thức được xu thế
phát triển. Năm 1980 được sự đồng ý của Tổng công ty da giầy Việt Nam, công
ty Da giầy Hà Nội đã chuyển giao dây chuyền công nghệ sản xuất da cho nhà
máy da Vinh. Đồng thời nhập hai dây chuyền sản xuất giầy vải và một dây
chuyền giầy da từ Đài Loan. Việc vận hành dây chuyền sản xuất mới này đã thu
hút hơn 500 lao động. Vì vậy vấn đề công ăn việc làm trong công ty đã được
giải quyết, thu nhập tuy chưa cao nhưng cũng đảm bảo đời sống anh chị em
công nhân.
Biểu 1: Tình hình sử dụng lao động ở công ty da giầy Việt Nam.
Chỉ tiêu Năm 2001
Tổng lao động (người).
Trong đó:
-Lao động trược tiếp.
-Lao động gián tiếp.
+Trên đại học.
+ Đại học, cao đẳng.
+Trung cấp.
+công nhân kỹ thuật.
815
695
120
4
90
10
16
Nguồn: Phòng tổ chức.
Định mức sử dụng lao động cũng được áp dụng tại công ty Da giầy Hà Nội
đối với công nhân trực tiếp sản xuất. Chẳng hạn, đối với xí nghiệp giầy vải,
định mức sản xuất cho từng dây chuyền với 300 công nhân là 2000 sản phẩm
mua nguyên vật liệu, bảo quản hợp lý hạ giá thành nâng cao chất lượng sản
phẩm, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hiện nay, theo cơ chế quản lý của công ty, hàng năm phòng kế hoạch - Vật tư
lập kế hoạch tập chung cho toàn công ty về vấn đề cung cấp nguyên vật liệu.
Song do tính chất hoạch toán độc lập của các xí nghiệp thành viên, mỗi xí
nghiệp có quyền lựa chọn nguyên vật liệu trong phạm vi xí nghiệp mình. Việc
thu hút mua, tìm nguồn cung ứng nguyên vật liệu của công ty hiện nay hoàn
toàn do công ty tự tìm kiếm, thoả thuận giá cả và điều kiện mua. Công ty không
còn được Nhà nước ưu đãi cũng như điều động về nguồn nguyên liệu như
trước đây.
Trong điều kiện hiện nay, một số loại nguyên vật liệu do công ty sử dụng vẫn
chưa được sản xuất ở nước ta. Vì thế, bên cạnh việc sử dụng nguồn nguyên liệu
trong nước như : Vải, cao xu và các loại da... Công ty còn sử dụng một số loại
nguyên liệu nhập từ nước ngoài như: Hoá chất (hoàn toàn được nhập từ nước
ngoài), một số loại da cao cấp... việc phải nhập nguyên vật liệu từ nước ngoài
làm cho công ty gặp rất nhiều bất lợi: Về tỷ giá hối đoái, không chủ động, chi
phí nhập khẩu và giao dịch cao.
Hiện nay để đảm bảo tiết kiệm nguyên vật liệu hạ thấp giá thành sản phẩm
công ty đã đề ra định mức tiêu dùng đối với một số loại nguyên vật liệu chủ yếu
như sau:
Biểu 3: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu Lượng tiêu hao nguyên vật liệu Lượng sản phẩm
1. Vải 1.m khổ 90 inch 6 đôi giầy vải
2. Cao xu 0.3 kg 1 đôi giầy vải
3. Da 2 bia (30cm x 30cm ) 1 đôi giầy vải
Nguồn: phòng kế hoạch.
Việc quy định định mức tiêu dùng nguyên vật liệu đã làm giảm lãng phí do
lượng phế thải gây ra, tiết kiệm chi phí nâng cao trách nhiệm tới từng người
lao động.
3.5 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
K
Ỹ
T
H
U
Ậ
T
T
Ổ
N
G
C
Ô
N
G
T
Y
D
A
G
I
Ầ
Y
H
s
h
o
e
s
X
N
C
A
O
S
U
P
H
Ò
N
G
T
Ổ
C
H
G
Ò
R
Á
P
P
H
Ò
N
G
T
À
I
C
H
Í
N
H
K
Ế
T
O
Á
N
Đ
Ố
C
S
Ơ
Đ
Ồ
B
Ộ
M
Á
Y
T
Ổ
C
H
Ứ
C
C
Ô
N
G
X
U
Ấ
T
N
H
Ậ
P
K
H
Ẩ
U
P
G
Đ
S
Ả
N
X
U
Ấ
T
T
R
U
N
G
T
H
Ò
N
G
C
Ô
N
G
T
Y
P
G
Đ
K
I
N
H
D
O
A
N
H
P
H
Ò
N
G
Ò
N
G
K
I
N
H
D
O
A
N
H
3.1. Giám đốc:
Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất công ty, chỉ đạo mọi hoạt
động sản xuất, kinh doanh của toàn công ty, từ việc xây dựng chiến lược, tổ
chức thực hiện đến việc kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và lựa chọn các phương
án và huy động các nguồn lực để tổ chức thực hiện.
Giám đốc chịu trách nhiệm về hoạt động quản lý và các cán bộ do giám đốc
ký bổ nhiệm và đề nghị bổ nhiệm, bao gồm: các phó giám đốc, các trưởng - phó
phòng ban công ty, Chánh phó giám đốc các xí nghiệp, chánh phó giám đốc các
xí nghiệp, chánh phó quản đốc phân xưởng.
Giám đốc là đại diện cao nhất cho pháp nhân của Công ty, là người đại diện
chủ sở hữu, chủ tài khoản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Tổng công ty
da giầy Hà Nội về các kết quả kinh doanh của công ty.
Giám đốc được sử dụng phương thức và các kết quả kinh doanh của Công ty
cấp cho các cấp, các cá nhân. Giám đốc chịu trách nhiệm cuối cùng về các hoạt
động đã uỷ quyền.
Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các bộ phận sau:
- 3 phó giám đốc
- Phòng Tài chính - Kế toán