PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẠI CÔNG TY GIẦY YÊN VIÊN - Pdf 66

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH
DOANH TẠI CÔNG TY GIẦY YÊN
VIÊN
1
I. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP
I.1. Môi trường vĩ mô
I.1.1.Nhóm các yếu tố kinh tế
Tình hình kinh tế năm 2001 của các quốc gia trên thế giới gặp nhiều khó
khăn hơn so với những năm trước, so với năm 2000 tốc độ tăng trưởng kinh tế
toàn cầu đạt gần 5% cao nhất trong hơn 15 năm qua. Hai cường quốc kinh tế lớn
là Mĩ và Nhật (chiếm 46% tổng sản phẩm toàn cầu) đang vào giai đoạn suy giảm
và nhất là sự kiện khủng hoảng thị trường chứng khoán. Nền kinh tế nhiều quốc
gia lại đang trong tình trạng suy thoái đặc biệt là Achentina, Thổ nhĩ kỳ, Hàn
Quốc, thị trường chứng khoán trên thế giới cũng chao đảo. Nhất là sau sự kiện
trung tâm thương mại quốc tế tại Mỹ (11/ 9) đã làm ảnh hưởng trầm trọng hơn
đối với sự suy giảm kinh tế toàn cầu ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêu dùng. Bên
cạnh đó việc sản xuất giầy dép ở Châu âu, Nam và Bắc Mỹ và các nước ở châu đại
dương tiếp tục giảm.
Vượt lên mọi khó khăn, có thể nói trong năm qua kinh tế nước ta đã đạt
được kết quả ngoạn mục và đáng phấn khởi: Tốc độ GDP 1996 – 2001 tăng gần
6.7%/năm. GDP bình quân đầu người đến năm 2000 gấp hơn 1,8 lần so với năm
1990. Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng 4,9%; giá trị sản xuất công
nghiệp tăng 15,5%; các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 6% và kim ngạch
xuất khẩu tăng 21,3%. Chỉ tiêu bội chi ngân sách so với tổng sản phẩm quốc nội
(GDP ) đã không chế ở mức 4,9% (dưới trần cho phép). Nếu không kể chỉ tiêu về
trượt giá (mốc tính cả năm chỉ tăng 1% so với chỉ tiêu 6% ) có thể nói, tất cả các
chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế, xã hội năm 2001 đều vượt kế hoạch đặt ra. Lạm
phát được kiểm soát, các chính sách kinh tế vĩ mô được vận hành ngày càng có
hiệu quả nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sự hoạt động ổn định của thị
trường chứng khoán từ năm 2000, như thêm một tín hiệu tốt lành trên bước
đường chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường của đất nước. Chỉ số chứng

nước công nghiệp phát triển, mở rộng quan hệ với các nước ở tất cả các khu
vực, duy trì và phát triển mối quan hệ với các nước vốn có quan hệ truyền
thống, chúng ta đã bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ
quốc tế, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, nhất là các tổ chức chuyên
môn thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, tích cực tham gia các diễm đàn hợp tác khu
vực, diễn đàn đa phương trước hết là Liên Hợp Quốc và tham gia vào việc giải
quyết các vấn đề toàn cầu. Với cố gắng liên tục đến nay ta đã có quan hệ ngoại
3
giao với hơn 160 nước ở khắp năm châu, hoạt động quan hệ thương mại với
hơn 100 nước với kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân mỗi năm 20%, quan hệ
đầu tư với hơn 50 nước và lãnh thổ với tổng giá trị khoảng 19 tỉ USD, tranh thủ
được gần 4 tỉ USD viện trợ phát triển (ODA) của các nước và các tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế. Điều không kém phần quan trọng là lần đầu tiên nước ta
có quan hệ chính thức với tất cả các nước lớn và các trung tâm kinh tế chính trị
hàng đầu thế giới.
Trong ba liên tiếp (2000-2002), nước ta tổ chức tiếp đón ba vị nguyên thủ
quốc gia lớn. Đó là tổng thống Mĩ W.J Clinton ( ngày 18 tháng 11 năm 2000) và
tổng thống Nga Putin ( ngày 1/3/2001) và gần đây nhất là lễ đón chủ tịch, tổng
bí thư nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân(3/2002) và nhiều
chuyến thăm của các vị lãnh đạo, các quan chức của hơn 60 đoàn đại biểu của
các quốc gia khác nhau tới thăm việt nam. Đây là bước tiến lớn trong quan hệ
ngoại giao nước ta.
Có thể nói năm 2001 là năm thành công trong việc khởi đầu tốt đẹp các
quan hệ ngoại giao của nước ta, Việt Nam lần đầu tiên với tư cách điều phối viên
Châu á của diễn đàn á - âu (ASEM) đã tổ chức thành công một hội nghị quan
trọng. Và vào ngày 28,29/3/2001, Việt Nam tham dự diễn đàn Đông á - Mĩ La
tinh lần đầu tiên tại thủ đô Santiago, Chilê. Thêm một lần nữa, nước ta khẳng
định vị thế của mình đầy tự tin và chắc chắn trên trường quốc tế.
Ngoại giao đi trước một bước luôn là tiền đề cho các ngành kinh tế phát
triển, đặc biệt là đối với ngành công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, công nghiệp chế

kiện cho các doanh nghiệp sản xuất giầy dép xuất khẩu nói chung và Công ty Giầy
Yên Viên nói riêng kinh doanh có hiệu quả hơn.
I.1.3. Nhóm các yếu tố kĩ thuật- công nghệ
Trước ngưỡng cửa thế kỉ 21, chúng ta đang chứng kiến những biến đổi hết
sức lớn lao trong những lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và còn thấm rộng trong
các lĩnh vực triết lí, văn hoá, gia đình, đoàn thể. Những biến đổi này có tầm rộng
lớn về số lượng và sâu sắc về chất lượng mang tính chất khuynh đảo, định hình
lại nét mặt của xã hội con người. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của
những biến đổi này là sự tác động tiến bộ khoa học công nghệ. Một môi trường
khoa học công nghệ tốt là một định hướng hết sức quan trọng và cần thiết để
tạo mọi điều kiện cho sự phát triển, tạo ra năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp. Môi trường khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay đang có sự biến đổi
mạnh mẽ xu hướng chuyển giao công nghệ mới từ nước ngoài về là phổ biến, có
5
nhiều lĩnh vực công nghệ có ảnh hưởng lớn đến ngành kinh doanh của doanh
nghiệp .
Kĩ thuật công nghệ thế giới luôn ở trạng thái động, các doanh nghiệp nói
chung và doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất giầy dép nói riêng
cần phải có giải pháp mua và thực hiện vận hành và sử dụng nó để đảm bảo phát
triển kinh tế cùng việc bảo vệ môi trường sinh thái để tạo ra sự cam kết lâu dài
cho hoạt động sản xuất kinh doanh bền vững.
I.1.4. Nhóm các nhân tố về văn hoá - xã hội
Văn hóa, xã hội cũng là một nhân tố quan trọng tác động mạnh đến tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp. Các giá trị văn hóa truyền thống có tính bền vững
qua các thế hệ có tác động mạnh mẽ tới thái độ, hành vi mua và tiêu dùng hàng
hóa của từng cá nhân, từng nhóm người. Đây là một đặc điểm có tính ổn định,
giúp cho hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp có thể luôn duy trì được mảng thị
trường truyền thống này. Tuy vậy, khi có sự xâm nhập của những lối sống mới
được du nhập từ nước ngoài, toàn cầu hóa đời sống kinh tế, xã hội của mỗi quốc
gia thì các doanh nghiệp buộc phải từng bước thích ứng theo các nhu cầu mới

của người dân cao vì dân số của họ hàng năm phát triển với tốc độ vừa phải, thậm
chí rất thấp, thu nhập cao, trình độ nhận thức cao, do vậy họ luôn có nhu cầu chăm
sóc bản thân, cho nên thị trường hàng tiêu dùng có phần phát triển mạnh hơn, theo
điều tra cho thấy "nhu cầu giày dép của người dân Mỹ là 5-6 đôi/ năm trong khi ở
nước ta con số này là 1-2 đôi/năm." Thống kế cho thấy hàng năm lượng Giầy dép
nhập khẩu vào thị trường Mỹ 1.4tỷ USD Như vậy Mỹ hiện đang là thị trường đầy
tiềm năng về mặt hàng này.
I.1.5. Nhóm các yếu tố tự nhiên
Nước nằm ở vị trí thuận lợi cho các giao dịch thông thương với các quốc gia
khác, hệ thống giao thông thuỷ bộ đều thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá,
nhập khẩu nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất. Hệ thống giao thông vận
tải thuận tiện cho vận chuyển hàng hoá xuất khẩu sang thị trường tiêu thụ.
Môi trường tự nhiên là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí đầu vào
của doanh nghiệp. Đặc biệt nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến các doanh nghiệp sản
xuất có tính chất mùa vụ và các doanh nghiệp khai thác sử dụng nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Tính chất mùa vụ có tác động mạnh mẽ đến việc đề ra các
giải pháp hỗ trợ thực hiện chiến lược kinh doanh, nó sẽ tác động tích cực khi
doanh nghiệp sản xuất theo đúng mùa vụ và sẽ gây cản trở khi trái mùa. Tài
7
nguyên thiên nhiên là một yếu tố đầu vào quan trọng của các doanh nghiệp khai
thác, vì vậy trữ lượng, quy mô, cách phân bố tài nguyên sẽ ảnh hưởng tích cực
hay tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp .
I.2. Môi trường tác nghiệp ( môi trường kinh doanh ngành)
I.2.1. Khách hàng
Khách hàng là một phần của công ty, khách hàng trung thành là một lợi thế
lớn của công ty và sự trung thàh đó chỉ có thể được tạo dựng bằng cách thảo
mãn tối đa nhu cầu mong muốn của khách.
Công ty Giầy Yên Viên đã tạo dựng được một số khách hàng lâu dài nhưng
số lượng còn chưa nhiều, trong đó hãng SHEIDEL của Đức, hãng KEELYWU của

không nhỏ tới các chiến lược kinh doanh của Công ty
I.2.4. Các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào
Các nhà cung ứng là các đối tác cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố đầu vào có tác động mạnh đến
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì ở công ty Giầy Yên Viên các
yếu tố nguyên vật liệu đầu vào chiếm tỉ trọng khá cao 70-75% tổng giá thành sản
phẩm cho nên khi số lượng các nhà cung cấp nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra
sản phẩm của doanh nghiệp ít, thì khi các nhà cung cấp tăng giá các yếu tố đầu
vào sẽ dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên và làm giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp. Ngoài ra, tiến độ cung ứng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ
sản xuất, nếu các nhà cung cấp giao hàng đúng tiến độ thì hoạt động sản xuất diễn
ra thuận lợi, doanh nghiệp sẽ giao hàng đúng thời điểm cho khách hàng hoặc
ngược lại. Nguyên nhiên vật liệu dùng vào sản xuất của Công ty hiện nay được
cung cấp theo hai nguồn :
Nguồn nước ngoài :
Hiện nay, các loại nguyên liệu như da, vải đặc biệt (vải trong nước không
sản xuất được), phụ kiện trang trí giầy, khoá dây và các sản phẩm hoá chất chủ
yếu do Công ty nhập từ nước ngoài. Đối với các sản phẩm da, vải đặc biệt, phụ
9
kiện trang trí giầy và khoá dây thì Công ty chủ yếu nhập từ Hàn Quốc, Đài Loan
và Trung Quốc hiện là 3 cường quốc sản xuất giầy dép:
- Các sản phẩm được cung ứng từ Hàn Quốc có ưu điểm là chất lượng tốt, thời
gian giao hàng đúng tiến độ quy định, nhưng giá cao, thái độ người cung ứng không
tốt.
- Các sản phẩm được cung ứng từ Đài Loan thì có chất lượng tốt, người cung
ứng có thái độ tốt nhưng tiến độ giao hàng thường chậm hơn so với nhập từ Hàn
Quốc.
- Các sản phẩm nhập từ Trung Quốc có ưu điểm là giá rẻ, chủng loại phong
phú nhưng chất lượng không đồng đều. Nhà cung ứng không đảm bảo tính chuyên
nghiệp như ở Đài Loan và Hàn Quốc thời gian giao hàng thường lâu do phải đợi

HTX Đình Bảng Đế cao su, đế giầy nữ
I.2.5. Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế trong các ngành hàng sản xuất tiêu dùng ngày càng đa
dạng và phong phú nhưng đối với công ty Giầy Yên Viên nói riêng và ngành sản
xuất giày dép nói chung sản phẩm thay thế không phải là một trở ngại quá lớn đối
với công ty vì hiện nay do đặc trưng riêng có của loại hình sản phẩm giầy dép nên
các sản phẩm này chưa có sản phẩm thay thế, mặt khác hiện nay công ty đang cố
gắng tích cực hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức, nâng cao chất lượng sản phẩm
cải tiến các máy móc hiện có của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng
trang thiết bị với đội ngũ thợ máy lành nghề do vậy trong suốt thới gian hoạt động
công ty chưa để xảy ra một tình trạng đáng tiếc hay sự cố kỹ thuật. Về thị trường
nội địa có thể nói rằng nhu cầu về giầy dép da hiện nay thực sự phát triển hơn bao
gì hết cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống của những người dân được
nâng cao xã hội phát triển nhu cầu về giao tiếp tăng nên thì giầy dép ngày càng
được coi trong. Nó nhằm phục vụ đòi hỏi thiết yếu và tôn vinh sự sang trọng lịch
thiếp trong giao tiếp.
Nhìn chung các doanh nghiệp trong và ngoài ngành đều gặp phải những
vấn đề trong tiêu thụ sản phẩm, là các sản phẩm giầy dép da Trung quốc chất
lượng thấp, giá cả thấp nhưng bù lại thì kiểu dáng phong phú cũng được một
bộ phận nhân dân có thu nhập thấp tiêu dùng. Tất cả những điều này đã ảnh
11
hưởng không nhỏ đến thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp tham
gia ngành sản xuất mặt hàng giầy dép.
II. TỔNG HỢP PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ NGOẠI VI (MA TRẬN EFE)
Sau khi xem xét, đánh giá tầm ảnh hưởng các tác lực ngoại vị thuộc hai lĩnh
vực vĩ mô và vi mô đối với các hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta xây dựng
ma trận đánh giá các yếu tố ngoại vi của doanh nghiệp:
Biểu III.2 Ma trận đánh giá các yếu tố ngoại vi (EFE)
Các yếu tố bên ngoài Mức quan
trọng

Số điểm = mức độ quan trọng x hệ số. Mức trung bình của số điểm quan
trọng là (1+4 )/2 = 2,5. Cao nhất là 4 và 1 là khá yếu.
Như vậy, yếu tố “cạnh tranh gay gắt” có mức độ quan trọng cao nhất trong
ngành sản xuất giầy dép xuất khẩu mà công ty Giầy Yên Viên phải đối diện và
trọng số này bằng 3 cho thấy Công ty ứng phó có hiệu quả đối với các yếu tố trên.
Yếu tố "Tăng giá điện của chính phủ" có mức độ quan trọng thấp (0,01)
trong lĩnh vực sản xuất và đáp lại yếu tố tác động này là mức phân loại là 1 cho
thấy Công ty hầu như không có phản ứng hay phản ứng không hiệu quả với yếu
tố này.
Cuối cùng, tổng số điểm trên danh mục các yếu tố ngoại vi của Công ty
Giầy Yên Viên đạt 2,41 dưới mức trung bình cho thấy Công ty chưa đạt mức
trung bình trong việc nỗ lực theo đuổi chiến lược nhằm tận dụng cơ hội nhằm đối
phó với các mối tác động và những hiểm hoạ từ bên ngoài.
III. PHÂN TÍCH NGUỒN LỰC BÊN TRONG CÔNG TY.
III.1. Đặc điểm nguồn nhân lực
Tính đến năm 2001, tổng số cán bộ công nhân viên của công ty là 1108
người với đủ các phòng ban tham mưu giúp giám đốc trong việc ra quyết định
hoạt động kinh doanh và quản lí nhân sự. Trong bộ phận lao động quản lý
không trực tiếp sản xuất 55% lao động có bằng đại học, 25% có bằng trung học,
15% là trình độ sơ cấp. Như vậy, đội ngũ quản lí công ty có trình độ học vấn cao
và luôn được bồi dưỡng đào tạo để nâng cao trình độ. Tuy nhiên, họ vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong tư duy và phong cách
làm việc còn hạn chế. Giám đốc công ty ra quyết định theo cách dân chủ, quyết
định được đưa ra trên cơ sở sự nhất trí của các phòng ban tham mưu trong
công ty do vậy đem lại nhiều sự sáng tạo hơn và do đó hiệu quả của quyết định
cao hơn. Ban lãnh đạo công ty rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng đào tạo
thông qua việc ban hành hàng loạt các chương trình bồi dưỡng đào tạo và điều
13
lệ sát hạch như các cuộc thi nâng bậc lương, cứ ba năm thì các công nhân trong
công ty phải dự thi sát hạch, thi nâng bậc một lần, tổ chức cho nhân viên tham

bộ phận của công ty khi điều kiện kinh doanh có sự thay đổi. Các bộ phận quản lí
kinh doanh trong công ty có quan hệ chặt chẽ với nhau trong các phòng ban
tham mưu và giữa các bộ phận phòng ban chức năng trong công.
Cơ cấu tổ chức Đảng bao gồm các chi bộ có các điểm tương đồng, quan hệ
công việc gắn bó nhau do đó khi học tập thảo luận có tiếng nói chung dễ phát huy
các hoạt động liên quan tới tổ chức Đảng từ đó phát huy vai trò, tác dụng xoay
quanh công tác trung tâm của công ty. Tổ chức Đảng trong công ty khắc phục
tình trạng “ chờ người đến”, áp dụng chế độ “đến với người” để phát triển ảnh
hưởng của tổ chức Đảng bằng cách liên hệ với các đối tượng tích cực, từ dó dẫn
dắt toàn thể cán bộ công nhân viên cống hiến sức lực vào hoạt động kinh doanh
của công ty góp phần vào công cuộc hiện đại hoá đất nước. Bộ phận công đoàn
trong công ty là trợ thủ đắc lực của tổ chức Đảng và bộ phận quản lí của công ty,
giáo dục cán bộ công nhân viên tuân thủ các qui chế, điều lệ trong công ty, tổ
chức động viên cán bộ công nhân viên tch cực tham gia hoạt động kinh doanh
của công ty, bảo vệ quyền lợi cho cán bộ công nhân viên, phối hợp với cá phòng
ban chức năng tiến hành bồi dưỡng, đào tạo kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và
kĩ năng thao tác cho cán bộ công nhân viên, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay
nghề cho cán bộ công nhân viên.
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức quản lí, tổ chức Đảng uỷ, tổ chức công đoàn
trong công ty là hợp lí, có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo điều kiện tốt cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Điều lệ lao động trong công ty, chế độ phúc
lợi, các qui tắc trực thuộc trong công ty cũng như qui định về xử lý kỉ luật, khen
thưởng đều được ban lãnh đạo công ty bàn bạc thảo luận trên cơ sở tình hình
thực tế sản xuất đề ra đầy đủ, rõ ràng, hợp lý, không có sự chồng chéo trong hệ
thống nội qui. Ngoài ra, trong từng bộ phận còn có các qui chế, trình tự thao tác,
tiêu chuẩn phục vụ rõ ràng giúp nhân viên có thể thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao. Qui chế của công ty rõ ràng, hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kinh
doanh trong công ty.
15
III.3. Khả năng tài chính doanh nghiệp

2.866
16.314
395.895
23.450
1.984.197
3.956
21.747
471.561
1.36
1.07
1.48
1.33
1.26
Tỉ lệ tăng doanh thu(%)
100
107
(Nguồn Phòng kế toán)
Căn cứ vào các số liệu tài chính trong 2 năm 1999 đến năm 2000 của công
ty ta có các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của công ty:
Biểu III.4: Chỉ tiêu khái quát tình hình hoạt động kinh doanh trong công ty
Chỉ tiêu
Năm
1999
Năm
2000
1. Bố trí cơ cấu vốn
16
- Tài sản cố định/ Tổng tài sản (%)
- Tài sản lưu động/ Tổng tài sản (%)
57.06

a. Hệ thống máy móc, thiết bị sản xuất chính:
Công ty Giầy Yên Viên chuyển hướng sang sản xuất giầy vải và giầy da từ
năm 1991, các thiết bị máy móc đều được nhập mới từ năm 1991 cho đến nay.
Công ty đã hoàn thiện 2 dây chuyền sản xuất giầy da và giầy nữ với sản lượng 1.5
triệu đôi/ năm và 1 dây chuyền sản xuất giầy vải có sản lượng 400.000 đôi/ năm.
Các máy móc thiết bị của Công ty phần nhiều được nhập từ Đài Loan, Liên
Xô cũ và một số thiết bị của Tây Đức, hầu hết các thiết bị này được trang bị từ
những năm 1991, giá trị khâu hao thu hồi trong quá trình sử dụng máy móc
phần lớn chiếm tỷ lệ 50% nguyên giá. Tuy nhiên trong thời gian qua Công ty đã
rất chú trọng đến công tác sửa chữa dự phòng theo kế hoạch. Hàng tháng xưởng
Cơ điện đều tiến hành bảo dưỡng kiểm tra định kỳ toàn bộ máy móc thiết bị của
17
Xí nghiệp Giầy vải, Giầy Da. Nhờ vậy 3 năm qua chưa xảy ra sự cố máy móc nào
đáng tiếc gây ngưng trệ sản xuất, đảm bảo quá trình sản xuất được diễn ra liên
tục nhịp nhàng.
b. Công nghệ sản xuất giầy trong công ty :
Công nghệ sản xuất giầy ở Công ty Giầy Yên Viên hiện nay đang sử dụng là
công nghệ ép dán - là một trong 3 loại công nghệ sản xuất giầy hiện có ở Việt
Nam: công nghệ lưu hoá, công nghệ ép đùn, công nghệ ép dán. Trong đó công
nghệ lưu hoá và công nghệ ép dán là 2 loại công nghệ sản xuất giầy được các
doanh nghiệp Việt Nam sử dụng phổ biến hiện nay do giá rẻ và có mức độ hiện
đại vào loại trung bình của thế giới. Công nghệ ép dán mà Công ty đang sử dụng
là loại công nghệ mà các nước công nghiệp phát triển đã sử dụng vào những
năm cuối của thập kỷ 70, sau đó được chuyển giao cho Hàn Quốc, Đài Loan ...và
được chuyển giao cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Công nghệ
ép đùn là loại công nghệ sản xuất giầy tiên tiến của thế giới, chỉ có những công ty
sản xuất giầy có liên doanh với Hàn Quốc, hay những công ty sản xuất giầy hàng
đầu của Việt Nam như Hiệp Hưng, Thượng Đình, Phú Lâm... mới có
Bảng III.5 Danh mục một số thiết bị sản xuất chính của công ty:
STT Danh mục thiết bị Số lượng nơi sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status