Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam và công tác đào
tạo công nhân kỹ thuật.
I.Tổng quan về Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
1.Giới thiệu chung về Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty
Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam là một trong 17 Tổng công
ty lớn nhất của Nhà nước được thành lập tại Quyết định số 69/TTg ngày
31/1/1996, theo Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm
thành lập các tập đoàn kinh tế Nhà nước bao gồm các đơn vị đóng tàu, sửa
chữa tàu, dịch vị tàu thuỷ do Bộ Giao thông vận tải và một số địa phương quản
lý.
Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước
có quy mô lớn bao gồm các thành viên là các doanh nghiệp hạch toán độc lập,
doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp, có quan hệ gắn bó với
nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng tiêu thụ, dịch vụ, thông
tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị trong nghành công nghiệp tàu thuỷ, công trình
biển, dịch vụ hằng hải nhằm tăng cường tích tụ tập trung, phân công chuyên
môn hoá, hợp tác sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh & hiệu quả kinh
doanh của các đơn vị thành viên của toàn Tổng công ty nhằm thực hiện nhiệm
vụ Nhà nước giao cho, đáp ứng nhu cầu thị trường, nhu cầu của nền kinh tế.
Tại thời điểm thành lập toàn Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt
Nam có 23 đơn vị thành viên, sau hơn 8 năm xây dựng và phát triển Tổng
công ty đã có gần 70 đơn vị thành viên hoạt động trên phạm vi toàn quốc từ
Bắc vào Nam bao gồm 36 đơn vị hạch toán độc lập, 8 đơn vị hạch toán phụ
thuộc, 16 công ty cổ phần, 6 đơn vị liên doanh; Tổng công ty còn có 3 văn
phòng đại diện trong nước tại Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh,
7 văn phòng đại diện ở nước ngoài tại Nga, I Rắc, Đức, Ba lan, Úc, Mỹ , Hàn
Quốc, Tổng công ty cũng có một số trường đào tạo công nhân kỹ thuật cung
cấp nhân lực cho ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là:
VIỆT NAM SHIPBUILDING INDUSTRY CORPORATION viết tắt là
11. Nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị với Nhà nước về quy hoạch, kế hoạch, dự án
đầu tư, các cơ chế và chính sách phục vụ cho sự nghiệp phát triển công nghiệp
tàu thuỷ trong cả nước.
1.3. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty gồm có:
- Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;
- Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc;
- Các đơn vị thành viên Tổng công ty.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA TỔNG CÔNG TY
Trường CNKT I
Trường CNKT II
Trường CN
Bach Đằng
án sản xuất gia công liên doanh liên kết với các đối tác có tiềm lực mạnh về CNTT như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Ba Lan, Cộng hoà Liên bang Đức và các nước Bắc âu, Bắc Mỹ để nâng cao khả năng xuất khẩu sản phẩm mà
Việt Nam có thế mạnh như: Tàu container 1000 - 2000TEU, tàu chở sản phẩm dầu đến 100.000 tấn, tàu dánh
cá và chế biến công suất lớn, tàu hút bùn công suất lớn, tàu cao tốc, tàu bằng vật liệu composite… sang thị
trường khu vực Châu âu và Trung Đông.
d. Về định hướng sắp xếp lại tổ chức lại sản xuất trên quy mô toàn quốc:
Tổng công ty CNTT Việt Nam sẽ tích cực triển khai các nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, nghị quyết
Hội nghị trung ương 4, Chỉ thị số 01 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn và sắp xếp lại các DN nhà
nước tiến tới thành lập tập đoàn kinh tế mạnh, lấy đóng mới và sửa chữa tàu là khâu nòng cốt trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của tập đoàn, hình thành tập đoàn theo mô hình các công ty mẹ - công ty con kinh
doanh vốn qua công ty tài chính.
2.2. Mục tiêu phát triển giai đoạn 2001 -2010:
Mục tiêu tổng quát là: “Sau năm 2010 Việt Nam sẽ trở thành quốc gia có ngành công nghiệp đóng
tàu phát triển trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với tỷ lệ giá trị phần chế tạo sản xuất nội địa các phụ
kiện của các sản phẩm đóng mới trong nước đạt 60 -70% toàn giá trị con tàu, đáp ứng về cơ bản nhu cầu
phát triển đội tàu các loại trong nước và xuất khẩu đạt 500 triệu USD hàng năm.”
*Mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (2001 -2005):
Từ mục tiêu tổng quát 10 năm nêu trên, Tổng công ty xây dựng mục tiêu 5 năm tới (2001-2005) là:
"Tiếp tục phát huy nội lực, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển
nhanh, vững chắc các cơ sở đóng, sửa chữa tàu, các đơn vị khoa học công nghệ, tư vấn thiết kế, các cơ sở sản
xuất chế tạo máy móc trang thiết bị, vật liệu tàu thủy, vận tải, xây dựng và các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ khác. Đổi mới quản lý và điều hành trong toàn Tổng công ty nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng
cao sức cạnh tranh đáp ứng về cơ bản nhu cầu đóng mới và sửa chữa tàu trong nước và xuất khẩu được
nhiều tàu ra nước ngoài".
* Giai đoạn 2006 – 2010:
- Tiếp tục đầu tư mở rộng nhà máy đóng tàu thuộc Công ty CNTT Nam triệu để đóng và sửa chữa tàu
container đến 50.000 tấn.
- Tập trung xây dựng có trọng điểm một số nhà máy mới tại khu vực có tiềm năng như Dung Quất, Đồng Nai,
Cà Mau, trong đó tại Dung Quất để đóng và sửa chữa tàu đến 100.000DWT; tại Đồng Nai để đóng và sửa
chữa tàu hàng tổng hợp, tàu container đến 30.000DWT; tại Cà Mau để đóng tàu phục vụ khai thác kinh tế
2 -Xây dựng 92,5 331,4 358,3
3 -Vận tải 200,0 254,0 127,0
4 -Thương mại DVụ 1.157,4 1.749,5 151,2
II Doanh thu 3.179,5 3.690,7 116,1 146,7
Trong đó:
1 -Sản xuất C.nghiệp 2.143,2 2.317,2 108,1 135,1
2 -Xây dựng 82,5 260,6 315,9
3 -Vận tải 174,0 217,1 124,7
4 -Thương mại DVụ 779,8 895,8 114,9
(Nguồn:báo cáo tổng kết công tác năm 2003&nhiệm vụ KH năm 2004)
Tổng công ty đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đề ra:
- Giá trị tổng sản lượng 5.330,6 tỷ đồng; vượt 27,5% kế hoạch năm,
tăng 63,9% so với năm 2002.
- Giá trị doanh thu đạt 3.690,7 tỷ đồng; vượt 16,1% kế hoạch năm,
tăng 46,7% so với năm 2002
- Tổng giá trị xuất khẩu năm 2003 đạt giá trị gần 15 triệu USD
- Nộp ngân sách 112,589 tỷ đồng.
Năm 2003 Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã thực hiện được các
chỉ tiêu chủ yếu đặt ra cho mốc kế hoạch của năm 2005 (Theo đề án phát triển
Tổng công ty giai đoạn 2001- 2010 đã được Chính phủ phê duyệt).
*Khối sản xuất công nghiệp: đạt 109% kế hoạch năm 2003 về giá trị
sản lượng và 108,1% giá trị doanh thu; mặc dù gặp nhiều khó khăn về vốn cho
sản xuất kinh doanh, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng không ổn định, nhưng
Tổng công ty đã chủ động lo các nguồn vốn và tích cực thực hiện các hoạt
động xúc tiến bán hàng do đó đã hoàn thành nhiều sản phẩm lớn như tàu
hàng 6.500 tấn, 12.000 tấn, tầu container 1016 TEU hiện đại và lớn nhất từ
trước đến nay, tầu cao tốc…đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế được khách
hàng tin cậy, các đơn vị nhỏ tích cực thực hiện đóng mới các phương tiện vận
tải sông vận tải ven biển đáp ứng nhu cầu vận tải nội địa.
*Khối xây dựng: đạt 358,3% kế hoạch năm 2003 và đạt 315,9% giá trị
kiện thép tàu thuỷ cho các bạn hàng nước ngoài, như tại Nhà máy sửa chữa
tàu biển Phà Rừng, Nhà máy đóng tàu Bến Kiền, Nhà máy đóng tàu Bặch
Đằng…
Về sửa chữa:
Do đã được đầu tư về cơ sở vật chất hạ tầng, nên các đơn vị ngày càng
thu hút được nhiều tàu đến sửa chữa, hoạt động sửa chữa rất sôi động, hiệu
suất sử dụng dock của các nhà máy đạt rất cao từ 90- 100% như tại Nhà máy
sửa chữa tàu biển Phà Rừng, Nhà máy đóng tàu Bặch Đằng, Công ty đóng tàu
và công nghiệp hàng hải Sài Gòn. Nhiều tàu nước ngoài đã và đang được sửa
chữa tại các nhà máy Bặch Đằng, Phà Rừng, Công ty đóng tàu và CNHH Sài
Gòn, liên doanh Hyundai-Vinashin …mang lại những khoản ngoại tệ đáng kể
và góp phần làm tăng doanh thu thường xuyên trong năm. Doanh thu sửa
chữa tàu nước ngoài trong năm 2003 của các nhà máy đạt khoảng 2,47 triệu
USD.
b.Về nhập khẩu:
Để phục vụ sản xuất kinh doanh, theo kế hoạch đề ra năm 2003 Tổng
công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam phải nhập khẩu giá trị là 90 triệu USD
vật tư (sắt, thép …), máy móc thiết bị, tàu cũ (để phá dỡ)…
Thực hiện nhập khẩu trong năm 2003 của toàn Tổng công ty đạt 121.0
triệu USD.
*Trong đó :
- Vật tư, máy móc thiết bị : 117,5 triệu USD
- Tàu cũ (để phá dỡ): 3,5 triệu USD
Hiện tại Tổng công ty còn phải nhập khẩu một lượng nguyên vật liệu và
trang thiết bị tương đối lớn từ nước ngoài điều này làm giảm khả năng tự
chủ của ta trong việc sản xuất kinh doanh, làm tăng chi phí sản xuất.
3.3. Đầu tư phát triển
Năm 2003 Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã thực hiện được các dự án đầu tư xây
dựng với kết quả như sau:
+Tổng số vốn Ngân sách Nhà nước cấp : 71 tỷ đồng
Xác định khoa học kỹ thuật là động lực quan trọng để thúc đẩy sản xuất
phát triển, Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đặc biệt quan tâm,
đẩy mạnh các hoạt động khoa học kỹ thuật:
+ Công tác quản lý ở văn phòng Tổng công ty qua mạng VinashinNet
vẫn tiếp tục hoạt động tốt và là một công cụ thực sự không thể thiếu trong
mọi hoạt động quản lý, công tác của công ty.
+ Hoàn thiện và đưa các mạng máy tính nội bộ tại các nhà máy đóng tàu
Bạch Đằng, Hạ Long, Bến Kiền vào hoạt động.
+ Trung tâm tin học kết hợp với các nhà máy đóng tàu Bạch Đằng , Hạ
Long đã nghiên cứu ứng dụng thành công bộ phần mềm thiết kế thi công
ShipContructor. Hiện nay, các thiết kế thi công tàu 13.500 tấn tại Bạch Đằng,
tàu 12.500 tấn tại Hạ Long đang được hoàn thành băng bộ phần mềm này.
+Hầu hết các nhà máy được trang bị đồng bộ các máy cắt điều khiển
bằng chương trình đem lại năng suất và chất lượng cao,
+Các đơn vị thiết kế đẩy mạnh việc ứng dụng các phần mềm vào quá
trình thiết kế, rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng sản phẩm.
+Bể thử mô hình tàu thuỷ sau khi hoàn thiện giai đoạn một đã đưa vào
thực nghiệm phục vụ quá trình thiết kế, đồng thời tiếp tục thực hiện nâng cấp
giai đoạn hai nhằm đưa bể thử mô hình trở thành Phòng thí nghiệm trọng
điểm Quốc gia.
+ Cơ quan Tổng công ty và các đơn vị thành viên xây dựng và áp dụng
HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000; đến nay đã có 8 doanh ngiệp và cơ
quan Tổng công ty được cấp chứng nhận ISO.
+ Các đơn vị trong Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam cũng đã
thực hiện nhiều đề tài chuyển giao công nghệ đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt:
đề tài chế tạo vỏ bằng vật liệu composit; chuyển giao công nghệ đóng tàu
container, chuyển giao công nghệ sản xuất que hàn tàu thuỷ chất lượng cao…
Thông qua việc thực hiện các đề tài khoa học kỹ thuật, các đề án thực
nghiệm, chuyển giao công nghệ, trình độ kỹ thuật, công nghệ và năng lực sản
xuất của nhiều đơn vị nâng lên rõ rệt, đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng
về ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác.
d. Công nhân kỹ thuật
Trong những năm gần đây từ đũi hỏi của thực tiễn vươn lên đóng tàu cỡ
lớn, yêu cầu chất lượng cao thúc đẩy trỡnh độ và sự vươn lên của đội ngũ công
nhân kỹ thuật, do đó tay nghề của công nhân có tiến bộ vượt bậc so với những
năm 2000 trở về trước. Tuy nhiên đội ngũ công nhân kỹ thuật của Tổng công
ty chưa đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới đũi hỏi ngày càng cao cả về số lượng
và chất lượng.
5. Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Để chuẩn bị nguồn nhân lực cho các đơn vị phục vụ kế hoạch sản xuất
kinh doanh những năm trước mắt và lâu dài, Tổng công ty đã triển khai công
tác đào tạo đội ngũ lao động như sau:
- Tăng cường tiến hành tuyển dụng lao động mới tốt nghiệp ở các trường Đại
học chuyên ngành,các trường Cao đẳng, Trường trung học và các trường Công
nhân kỹ thuật vào làm việc;
- Duy trì các lớp Đại học tại chức chuyên ngành tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Cần
Thơ, mở thêm lớp ở Thành phố Hồ Chí Minh, duy trì lớp học công nghệ đóng
tàu văn bằng hai tại Hà Nội, khai giẩng lớp học đại học bằng hai tại Đà Nẵng;
- Mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật tại nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Dung
Quất, Trường công nhân kỹ thuật nghiệp vụ tàu thuỷ II ở Thành phố Hồ Chí
Minh và đang thúc đẩy tiến độ xây dựng đưa vào hoạt động trường công nhân
kỹ thuật nghiệp vụ công nghiệp tàu thuỷ I ở Hải Phòng.
- Tổ chức thăm quan thực tập giữa các nhà máy trong Tổng công ty.
- Tổ chức đưa cán vộ kỹ thuật đi đào tạo và thực hiện chuyển giao công nghệ ở
nước ngoài.
Việc tăng cường và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo đã giúp cho
Tổng công ty có được một lực lượng lao động có trình độ cao hơn, chất lượng
hơn về mọi mặt có thể đáp ứng được những đòi hỏi trong chiến lược phát triển
của Tổng công ty trong cạnh tranh và hội nhập.
Tuy vậy, với tốc độ phát triển vô cùng nhanh chóng của toàn Tổng Công
phần hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng. Tuy nhiên trước yêu cầu phát
triển với tốc độ cao vấn đề nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ công nhân kỹ thuật đang là một nhu
cầu cấp bách của Tổng công ty.
II. Nhu cầu công nhân kỹ thuật của Tổng công ty từ nay tới năm
2010.
Sau hơn 8 năm xây dựng và phát triển Tổng Công ty đã được sự quan
tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ, các Bộ, Ban ngành của TW và địa
phương có liên quan và sự nỗ lực vượt bậc của đội ngũ cán bộ công nhân
viên chức toàn Tổng công ty, những năm qua Tổng công ty đó cú những
bước tiến quan trọng trong tổ chức xây dựng đội ngũ lao động, sản xuất