Cơ sở lý luận của cải thiện điều kiện lao động trong doanh
nghiệp
1. Vai trò của cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về điều kiện lao động
Lao động tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của con
người. Không những thế lao động còn là điều kiện cần thiết để con người khỏe mạnh.
Tuy nhiên, lao động phải dựa trên cơ sở có khoa học có nghĩa là trong quá trình lao
động, cơ thể phải thích ứng với tốt nhất với môi trường xung quanh cũng như điều kiện
lao động.
Khái niệm điều kiện lao động đã được nói đến nhiều trong các công trình khoa
học trong và ngoài nước với nhiều cách diễn giải khác nhau nhưng đều thống nhất ở
khái niệm : “Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tồn tại trong môi trường làm
việc bao gồm các yếu tố vệ sinh, tâm lý xã hội và thẩm mỹ có tác động lên trạng thái
chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá
trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như về
lâu dài.”
1.2. Các nhân tố của điều kiện lao động
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và bộ môn Tổ chức lao
động khoa học nói riêng, điều kiện lao động trong thực tế hiện nay rất phong phú và đa
dạng. Người ta phân các nhân tố của điều kiện lao động thành 5 nhóm là : nhóm điều
kiện tâm sinh lý lao động, nhóm điều kiện vệ sinh phòng bệnh của môi trường, nhóm
điều kiện thẩm mỹ của lao động, nhóm điều kiện tâm lý xã hội, nhóm điều kiện chế độ
làm việc và nghỉ ngơi.
1.2.1. Nhóm điều kiện tâm sinh lý lao động
Nhóm điều kiện tâm sinh lý lao động gồm các yếu tố :
Sự căng thẳng về thể lực
Sự căng thẳng về thần kinh
Nhịp độ lao động
Tư thế lao động
Tính đơn điệu của lao động
1.2.2. Nhóm điều kiện vệ sinh phòng bệnh của môi trường
và kỷ luật
Điều kiện để thể hiện thái độ đối với người lao động, thi đua, phát huy sáng kiến
1.2.5. Nhóm điều kiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi
Nhóm điều kiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi gồm các yếu tố :
Sự luân phiên giữa làm việc và nghỉ giải lao
Độ dài thời gian nghỉ, hình thức nghỉ
1.3. Tầm quan trọng của cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp
Mục đích của cải thiện điều kiện lao động là đạt kết quả lao động đồng thời đảm
bảo sức khỏe, an toàn cho người lao động, phát triển toàn diện người lao động và góp
phần củng cố mối quan hệ xã hội của người lao động, giúp doanh nghiệp phát triển.
Với mục đích đó, có nhiều lý do để nói rằng cải thiện điều kiện lao động là quan
trọng và cần được quan tâm trong doanh nghiệp. Trong đó có ba lý do chủ yếu là :
Thứ nhất, cải thiện điều kiện lao động đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Con người đóng vai trò trung tâm và quyết định trong việc xây dựng
doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Doanh nghiệp có đứng vững
trong sự phát triển của kinh tế hay không một phần quan trọng là có con người khỏe
mạnh hay không. Nhiệm vụ của cải thiện điều kiện lao động là nhằm bảo vệ sức
khỏe,an toàn cho người lao động. Khi điều kiện lao động tốt có nghĩa là con người
được đảm bảo về mọi mặt thì họ sẽ sẵn sàng và luôn đáp ứng yêu cầu của công việc,
nói cách khác là đáp ứng nhu cầu tồn tại của doanh nghiệp.
Thứ hai, cải thiện điều kiện lao động tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp bởi vì một trong những phương pháp cải
thiện điều kiện lao động là áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo một môi trường
làm việc an toàn cho người lao động. Mặt khác, cải thiện điều kiện lao động còn là tạo
môi trường làm việc lành mạnh giúp người lao động có thể tác động đến chính công
việc của họ, đến các kỹ năng quản lý, các khả năng phát triển và học hỏi trong công
việc của từng người nên đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp áp dụng phương thức quản
lý mới.
Thứ ba, cải thiện điều kiện lao động là giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiêp. Cải thiện điều kiện lao động nhằm tạo ra một nơi làm việc
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 2 : Điều kiện lao động ở mức độ
nặng nhọc loại 2 là điều kiện làm việc phù hợp với điều kiện vệ sinh an toàn lao động
và mức tiêu chuẩn sinh lý ở mức độ cho phép của điều kiện cơ thể của người lao động.
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 3 : Điều kiện lao động ở mức độ
nặng nhọc loại 3 khi nó được thực hiện trong điều kiện lao động tương đối không thuận
lợi hoặc có một số yếu tố tiêu chuẩn vượt mức cho phép ở mức không đáng kể, khả
năng làm việc của người lao động chưa ảnh hưởng nhiều các biến đổi tâm sinh lý trong
quá trình lao động được phục hồi nhanh, sức khỏe lâu dài của người lao động cũng như
trước mắt không bị ảnh hưởng đáng kể.
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 4 : Điều kiện lao động ở mức độ
nặng nhọc loại 4 là công việc mà dưới tác động của những yếu tố điều kiện không thuận
lợi (độc hại và nguy hiểm) có thể dẫn đến phản ứng đặc trưng của trạng thái tiền bệnh
lý và tới hạn của những người thực sự khỏe mạnh, khả năng làm việc của người lao
động bị ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định và sức khỏe giảm sút. Những công việc này
không thích hợp với những người kém sức khỏe hoặc mắc bệnh.
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 5 : Điều kiện lao động ở mức độ
nặng nhọc loại 5 là những trường hợp khi người lao động làm việc trong những điều
kiện rất không thuận lợi, xuất hiện các yếu tố vệ sinh môi trường vượt tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần, cường độ lao động lớn, hoạt động thần kinh tâm lý căng thẳng,… Phản
ứng đặc trưng của cơ thể ít nhiều chuyển sang trạng thái bệnh lý sau lao động, cần có
thời gian dài để phục hồi các chức năng bị rối loạn do lao động sinh ra. Ở những công
việc này tỷ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp cao.
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 6 : Điều kiện lao động ở mức độ
nặng nhọc loại 6 khi lao động được tiến hành trong những điều kiện lao động rất nặng
nhọc, độc hại, các yếu tố vệ sinh môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép quá cao ở xấp xỉ
ngưỡng chịu đựng tối đa cho phép của cơ thể, thời gian làm việc quá dài. Ở những công
việc loại này sẽ làm phản ứng đặc trưng của trạng thái chức năng cơ thể chuyển sang
trạng thái bệnh lý, mất đi khả năng bảo vệ và đền bù.
2.2. Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp đánh giá điều kiện lao động dựa theo báo cáo định kỳ về tai
0
).
Thông qua phân tích hệ số K mà các nhà chuyên môn trong lĩnh vực này có thể
đánh giá tình hình tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp trong doanh nghiệp cao hay
thấp, giảm hay tăng. Hiện nay, các doanh nghiệp đang đề ra chiến dịch “K=0”, nghĩa là
phấn đấu tiến đến không xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
3. Những điều kiện vệ sinh phòng bệnh trong sản xuất
3.1. Chiếu sáng trong sản xuất
3.1.1. Ý nghĩa của chiếu sáng trong sản xuất
Trong sản xuất, ánh sáng là một yếu tố quan trọng, không những ảnh hưởng đến
sức khỏe của người lao động mà còn ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng
sản phẩm.
Ánh sáng là một dạng năng lượng bức xạ điện tử, trong đó, ánh sáng tự nhiên là
ánh sáng ban ngày do mặt trời chiếu sáng thích hợp và có tác dụng tốt đối với sinh lý
con người, ánh sáng nhân tạo được phát ra từ hệ thống đèn chiếu sáng nhân tạo. Chiếu
sáng hiệu quả tại nơi làm việc phải đảm bảo kết hợp chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng
nhân tạo.
Thị lực mắt người lao động bị phụ thuộc rất nhiều vào độ chiếu sáng trong sản
xuất. Độ chiếu sáng đạt tới mức quy định thì thị lực của mắt phát huy được năng lực
làm việc cao nhất và độ ổn định của thị lực mắt càng bền. Thành phần quang phổ của
nguồn ánh sáng cũng có tác dụng lớn đối với mắt. Ánh sáng màu vàng, màu da cam
giúp cho mắt làm việc tốt hơn. Trong thực tế sản xuất, ánh sáng được bố trí đầy đủ,
màu sắc của ánh sáng thích hợp thì năng suất lao động tăng từ 20 – 30%. Nếu không
đảm bảo điều ấy sẽ làm cho mắt chóng mệt mỏi, dẫn đến cận thị làm giảm khả năng lao
động và có thể dẫn đến tai nạn lao động.
3.1.2. Tác hại của việc chiếu sáng không hợp lý
Nếu làm việc trong điều kiện chiếu sáng không đạt tiêu chuẩn, mắt phải điều tiết
nhiều dẫn đến mệt mỏi. Tình trạng mắt bị mệt mỏi kéo dài sẽ gây căng thẳng và khả
năng phân biệt của mắt đối với sự vật dần dần bị sút kém. Đó là nguyên nhân làm tăng
mức phế phẩm trong sản xuất và làm giảm năng suất lao động. Người lao động trẻ tuổi