GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN
VÔ HÌNH TRONG DOANH NGHIỆP
I. Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư vào nguồn nhân lực
Trước thực trạng và xu hướng phát triển nền kinh tế nước ta, nhà nước và
các doanh nghiệp cần có những giải pháp, phương hướng đầu tư để sử dụng
nguồn nhân lực một cách hợp lý và có hiệu quả nhất.
1. Những giải pháp về phía doanh nghiệp
Thứ nhất, chú trọng hoạt động đào tạo và đào tạo lại trong doanh nghiệp.
Đào tạo và đào tạo lại cần được hiểu là sự đầu tư hợp lý chứ không phải là việc
làm tốn chi phí của doanh nghiệp. Yếu tố con người trong doanh nghiệp là yếu
tố vô cùng quan trọng, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong thương
trường. Để có một đội ngũ cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp thì phải đào
tạo liên tục để họ kịp thời cập nhập được thông tin và xu hướng công việc. Còn
đối với nhân viên mới được tuyển dụng, họ chưa ngay tức thời đáp ứng được
yêu cầu của công việc vì chưa thể hoà nhập với môi trường làm việc mới, và
không tránh khỏi lúng túng khi tham gia vào các công đoạn sản xuất kinh doanh
vốn được vận hành rất bài bản từ trước. Do đó cần đào tạo lại cho họ các thao
tác kỹ thuật trong công việc và giảm bớt áp lực làm việc
Thứ hai, đó là cơ chế đãi ngộ đối với nhân viên.
Cơ chế đãi ngộ bao gồm: lương, thưởng, các chế độ phúc lợi hữu hình cũng
như vô hình, mang tính vật chất hay phi vật chất, liên quan đến thể chất hoặc
tinh thần của người lao động do doanh nghiệp cung cấp. Như vậy cơ chế đãi
ngộ của doanh nghiệp bao gồm các hình thức cơ bản sau : lợi ích vật chất trực
tiếp, lợi ích vật chất gián tiếp và sự hài lòng về mặt tâm lý
Việc thực hiện các chế độ đãi ngộ cần đảm bảo nguyên tắc công bằng, hợp
lý và minh bạch
Thứ ba, phân tích công việc phù hợp cho các vị trí trong công ty, đúng
người đúng việc, lập kế hoạch công việc và đánh giá hiệu qủa công việc của
nhân viên một cách chính xác và khách quan nhất.
Thứ tư, xây dựng văn hoá doanh nghiệp. Xây dựng môi trường làm việc
bình đẳng, lành mạnh, học hỏi lẫn nhau và phối hợp làm việc một cách có hiệu
làm trong tương lai.( Tuyên truyền, vận động người dân thưc hiện kế hoạch hoá
gia đình đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng xa; Đáp ứng đầy đủ, nhanh
chóng, an toàn và thuận tiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản ). Tăng
cường và đa dạng hoá nguồn vốn cho bảo vệ môi trường sống trước các nguy cơ
ô nhiễm do tăng trưởng kinh tế mang lại
Thứ tư, cải cách hệ thống tiền lương, tiền công cho phù hợp với trình độ
phát triển của nền kinh tế và điều kiện sống của người lao động trong cơ chế thị
trường. Tiền lương cơ bản phải đảm bảo đủ cho người lao động về chi phí nhà
ở, đi lại, ăn mặc, học tập, chữa bệnh, các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần
khác, chăm sóc con cái…Đảm bảo tính hợp lý và công bằng
Thứ năm, phát triển đồng bộ hệ thống giao dịch trên thị trường lao động.
Có 3 hướng chính :
Quy hoạch và phát triển hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm ở các đia
phương và cả nước; tập trung đầu tư hiện đại hoá 3 trung tâm ở 3 vùng kinh tế
trọng điểm ở 3 miền Bắc, Trung, Nam đạt tiêu chuẩn khu vực, sử dụng công
nghệ thông tin hiện đại để thực hiện giao dịch lành mạnh , hiệu quả và chuyên
nghiệp; tổ chức tốt công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động
Đa dạng hoá các kênh giao dịch trên thị trường lao động ( thông tin, quảng
cáo, hội chợ việc làm…) tạo điều kiện giao dịch giữa người lao động và người
sử dụng lao động. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao
động quốc gia và nối mạng, trước hết là các vùng kinh tế trọng điểm, các thành
phố lớn, khu công nghiệp tập trung, bố trí các trạm quan sát thông tin thị trường
lao động trên địa bàn cả nước để thu thập và phổ biến thông tin thị trường lao
động đầy đủ , kịp thời tới người lao động và người sủ dụng lao động
Thứ sáu, tạo hành lang pháp lý, bảo đảm bình đẳng hài hoà lợi ích giữa
người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích chung. Hoàn thiện đồng bộ,
kịp thời hệ thống pháp luật về thị trường lao động, các văn bản pháp quy như
trình sửa đổi , bổ sung Luật tiền lương tối thiểu; Luật dạy nghề; Luật bảo hiểm
xã hội; Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, sửa đổi bổ
sung Bộ Luật lao động; phê chuẩn các công ước và khuyến nghị của Tổ chức
của môi trường, cho đến khi nhận ra thì đã quá muộn; khả năng tài chính yếu
nên đầu tư thấp và không có phương tiện đào tạo công nhân ở tại công ty. Hơn
nữa, tại Việt Nam, môi trường công nghệ thông tin chưa thuận lợi để các doanh
nghiệp có thể áp dụng, hạ tầng kỹ thuật cho phát triển công nghệ thông tin còn
hạn chế.
Để khuyến khích phổ biến và áp dụng bất kỳ một đổi mới nào, điều đòi hỏi
trước tiên là phải nâng cao nhận thức của doanh nghiệp.
Khía cạnh chiến lược: Giúp các doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh
doanh nhằm đạt được mục tiêu nhất định ở một giai đoạn cụ thể: nâng cao hiệu
suất, nâng cao hiệu quả, cải thiện mối quan hệ giữa sản phẩm và thị trường; đổi
mới quan hệ giữa sản phẩm và thị trường hoặc định hướng đi.
Kế hoạch công nghệ thông tin: Kế hoạch này đưa ra một tầm nhìn chiến
lược cho việc sử dụng công nghệ thông tin. Mức độ hoà hợp giữa kế hoạch công