CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
I. Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
I.1. Khái niệm về nhân lực.
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực,
trí lực và gồm cả tinh thần .
Thể lực :là sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của
từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ
y tế. Thể lực con người phụ thuộc vào giới tính, thời gian công tác, độ tuổi….
Trí lực: chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng
như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh
chuyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ
thiếu, đã được khai thác triệt để. Sự khai thác tiềm năng trí lực của con người còn ở
mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của con người.
+ Đạo đức: là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong
cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao hàm cả
quan niệm về nhân dân và về đất nước mình.
I.2. Khái niệm về nguồn nhân lực.
- Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho
sự phát triển của đất nước. Khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị
trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực”
được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
- Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và
năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, NNL
được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự
phát triển của xã hội.
- Thủ tướng Phan Văn Khải từng khẳng định trong buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo
thành phố Hà nội đăng trên web “ dân trí.com.vn” rằng : "Nguồn nhân lực con người bao
gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta”
- Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động trong tổ chức
đó. Bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò
chức và của bản thân công việc.
Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân
đối với công việc hiện hành.
- Phát triển: là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của
người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định
hướng tương lai của tổ chức. ( Giáo trình QTNL – XB ĐHKTQD )
- Phát triển: bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị cho công nhân viên theo kịp với cơ
cấu tổ chức khi nó thay đổi và phát triển. Các khóa học tại trường đại học cung cấp cho
các nhà quản trị những kiến thức mới là một loại điển hình của phát triển.( Quản trị
nhân sự của Nguyễn Hữu Thân )
- Khái niệm phát triển NNL đề cập đến việc nâng cao năng lực của NNL ở khía cạnh
rộng hơn, có ý nghĩa tổng quát hơn. Đó là việc nâng cao năng lực của tổ chức bao gồm
hai khía cạnh : số lượng và chất lượng.
+ Về số lượng, phát triển là tăng quy mô của đội ngũ người lao động đáp ứng
được yêu cầu của công việc trong tổ chức.
+ Về chất lượng, phát triển NNL là nâng cao năng lực của từng cá nhân người lao
động thông qua việc tạo môi trường hỗ trợ cho sự phát triển, nâng cao năng lực nghề
nghiệp của mỗi người lao động trong tổ chức, đồng thời thay đổi cơ cấu của NNL theo
hướng tăng tỷ trọng nhân lực chất lượng cao trong tổng thể NNL
So sánh giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo Phát triển
1. Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai
2. Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức
3. Thời gian Ngắn hạn Dài hạn
4. Mục đích Khắc phục về kiến thức và
kỹ năng hiện tại
Chuẩn bị cho tương lai
Như vậy :
Phát triển NNL là khái niệm rộng hơn, bao trùm khái niệm đào tạo NNL. Các
khoá, các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn là một dạng hoạt động cụ thể của tổ
II.1.1.Cơ sở vật chất, quản lý, tổ chức và con người ảnh hưởng tới đào tạo và phát
triển.
Để tiến hành các hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp, nhất định cần có cơ sở vật chất kỹ thuật , đội ngũ cán bộ phục vụ cho công tác
đó, cần có các quy định, quy chế,nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong đào
tạo và phát triển giữa người lao động với doanh nghiệp cũng như với các tổ chức , các
nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
II.1.1.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới sự
thành bại, hiệu quả của quá trình đào tạo và phát triển. Mọi hoạt động đều cần những
trang thiết bị cần thiết phục vụ cho nó hoạt đông, việc đào tạo và phát triển cũng vậy.
Công tác đào tạo và phát triển đòi hỏi phải tổng hợp, phân tích, tính toán, xử lý các số
liệu, hồ sơ, văn bản liên quan đến công tác này nên cần phải trang bị nhiều thiết bị văn
phòng cơ bản như máy tính , máy pho to, máy in,…và các thiết bị liên lạc, trao đổi
thông tin ra bên ngoài với các cá nhân và các tổ chức khác như máy fax, điện thoại,
telex….
II.1.1.2. Cán bộ chuyên trách về đào tạo và phát triển trong tổ chức.
Con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng trong tổ chức, mọi hoạt động của tổ
chức chỉ hoạt động được khi có con người, việc đào tạo và phát triển cũng vậy.
Tổ chức cần có một bộ phận chuyên chách về công tác đào tạo và phát triển có chuyên
môn giỏi để có đủ khả nămg hoạch định, đưa ra các chiến lược, phương pháp đào tạo
hiệu quả. Bộ phận này sẽ trực tiếp giám sát và đánh giá các khóa đào tạo trong tổ chức,
báo cáo lên lãnh đạo, ban giám đốc, có những quyết định phát những mặt đạt được và
còn tồn tại trong công tác đào tạo và phát triển nguôn nhân lực.
Đội ngũ cán bộ này gồm có những người quản lý chuyên trách, kiêm ngiệm về công tác
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có kiến thức quản trị nhân sự, quản trị kinh doanh
về khoa học tính toán và tự nhiên như : Mô hình toán, tin học…Có kiến thức tâm lý, xã
hội : tâm lý học, xã hội học. Nắm vững kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của tổ
chức, tình hình kinh doanh, tài chính của tổ chức, mắm vững các thông tin về thị trường
lao động, biến động trong thị trường, trung tâm đào tạo, các tổ chức khoa học công
Sơ đồ 1: Sơ đồ ảnh hưởng qua lại giữa đào tạo và phát triển và các chức năng
quản trị nhân lực khác
Đào tạo làm giảm nhu cầu tuyển dụng, cho lao động
có chất lượng cao
Tuyển lựa cẩn thận làm giảm nhu cầu đào tạo, tuyển
dụng nhiều làm tăng nhu cầu đào tạo
Đào tạo giúp người lao động làm việc tốt hơn
Đánh giá sự thực hiện công việc thì cung cấp thông
tin cho việc xác định nhu cầu đào tạo
Đào tạo sẽ nâng cao sự thực hiện công việc, tăng sự
đóng gáo của người lao động và làm tăng thu nhập
của họ
Sự khuyến khích tài chính làm người lao động hăng
say học hỏi và tích cực đóng góp cho doanh nghiệp
hơn
Người lao động có kỹ năng sẽ thực hiện công việc
lao động tốt hơn và giảm được nguy cơ nảy sinh các
mối bất bình và vi phạm kỷ luật
Công đoàn là người có thể tham gia vao công việc
thiết kế và đưa ra các chương trình đào tạo
II.1.2.1 Quan hệ với công tác kế hoạch hóa nguồn nhân lực (KHHNNL)
Kế hoạch hóa nguồn nhân lưc là quá trình thông qua đó các doanh nghiệp
đảm bảo được đầy đủ về số lượng và chất lượng người làm việc phù hợp với yêu cầu
công việc . Trên cơ sở chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, KHHNNL có
nhiệm vụ dự báo nhu cầu nhân lực đáp ứng các mục tiêu sản xuất kinh doanh. Đồng
thời đánh giá khả năng sẵn có về số lượng và chất lượng lao động trong hiện tại như
trong thời gian sắp tới. Để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đạt hiệu quả
Bố trí xắp
xếp cán bộ
Quan hệ lao
II.1.2.3. Quan hệ giữa đào tạo và phát triển với đánh giá hiệu quả thực hiện công
việc
Xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất lượng thực hiện công việc của các cá nhân mà
doanh nghiệp tiến hành các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.Các tiêu
chuẩn cần đạt được theo yêu cầu mới cảu công việc chình là một phần mục tiêu của quá
trình đào tạo và phát triển , ngược lại sau khi tiến hành đào tạo doanh nghiệp cũng có
thể đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn và phù hợp hơn nhằm đánh giá một cách chính xác
việc thực hiện công việc của người lao động.
II.1.2.4 Quan hệ với thù lao lao động.
Khi thực hiện chế độ lương , thưởng doanh nghiệp phải chú trọng vào kết quả trực
tiếp từ thành tích công tác của nhân viên, Việc đào tạo và phát triển nhân viên có quan
hệ gián tiếp tới công tác thù lao lao động bởi vì nhờ có đào tạo và phát triển mới tăng
năng suất lao động. Vì mức tiền lương cũng thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, những doanh nghiệp làm ăn có lãi thì điều kiện để tăng lương, tăng thưởng, tăng
các khoản phúc lợi và dịch vụ cho người lao động, và ngược lại. Mà kết quả đào tạo và phát
triển ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nhân viên, ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Như vậy ta thấy tiền lương có quan hệ chặt chẽ với tình hình sử dụng lao động
của doanh nghiệp và cũng thể hiện được mức độ phát huy các kiến thức và kỹ năng của
người lao động. Vì vậy tiền lương là yếu tố trung tâm phản ánh được sự ảnh hưởng của
tình trạng sử dụng lao động đến hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
trong doanh nghiệp.
II.1.2.5. Đào tạo và phát triển với vấn đề sử dụng lao động trong doanh nghiệp.
Sử dụng lao động như thế nào là hợp lý, khi người quản lý biết sử dụng lao động
hợp lý, biết bố trí đúng người, biết doanh nghiệp cần người lao động có kỹ năng gì, có
chuyên môn gì và còn thiếu kỹ năng chuyên môn gì để hoàn thành tốt công việc họ
được giao. Từ đó đưa ra yêu cầu đào tạo- phát triển nghề cho nhân viên của mình. Nếu
việc sử dụng lao động không hợp lý dẫn đến việc đào tạo không hợp lý và việc sử dụng
người lao động sau đào tạo không hợp lý làm đào tạo và phát triển không đem lại hiệu
quả, lãng phí kinh phí đào tạo. Người lao động sau khi tham gia các chương trình đào
tạo họ được nâng cao trình độ kỹ năng hoặc có được những kiến thức và kỹ năng mới
phát triển kinh tế. Các doanh nghiệp làm ăn phát đạt sẽ có nhiêu điều kiện hơn để phát
phát triển công tác đào tạo và phát triển.
Nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng, môi trường an ninh ổn định, cơ chế pháp
luật thông thoáng, cơ chế cạnh tranh lành mạnh thì ngày càng nhiều doanh nghiệp nước
ngoài vào Việt Nam hơn, các doanh nghiệp VN cũng tiến hanh xát nhập và mở rộng quy
mô ngày càng lớn vì thế cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp ngày càng phải có chiến lược cạnh tranh, con
người là nhân tố quyết đinh trong canh tranh ngay nay vì thế quan tâm đến đào tạo và
phát triển là việc rất cần thiết ở tất cả các doanh nghiệp.
Trong mấy năm gần đây đảng và nhà nước ngày càng có nhiều chính sách quan
tâm tới học tập hơn, các biện pháp cải tổ nghành giáo dục, tiến tới đào tạo phù hợp với
nhu cầu của doanh nghiệp. Khuyến khích các chương trình hướng nghiệp và hội chợ
việc làm để các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo có điều kiện đào tạo những học viên