TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM HOA KỲ VÀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ - Pdf 67

TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM HOA KỲ VÀ THỰC TRẠNG XUẤT
KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
2.1. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam từ năm 2000 đến nay
2.1.1. Kim ngạch xuất khẩu
Tính đến hết năm 2007, Việt Nam có 10 ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu trị
giá hơn 1 tỷ USD là: Dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ, đồ điện tử và linh
kiện máy tính, sản phẩm cơ khí, gạo, cao su, và cà phê. Trong đó, giá trị kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may đứng thứ 2, chỉ sau dầu thô. Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế
nhận xét rằng trong thời gian tới, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may có thể sẽ vượt cả
dầu thô để vươn lên chiếm vị trí số 1 trong số các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Bảng 2.1: Các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD của Việt Nam năm
2007
Thứ tự Mặt hàng Kim ngạch xuất khẩu
(Tỷ USD)
1 Dầu thô 8,4
2 Dệt may 7,7
3 Giầy dép 3,9
4 Thủy sản 3,75
5 Gỗ 2,34
6 Điện tử và linh kiện máy tính 2,2
7 Sản phẩm cơ khí 2,2
8 Gạo 1,48
9 Cao su 1,41
10 Cà phê 1,2
(Nguồn: Vụ xuất nhập khẩu – Bộ Công thương)
Từ bảng số liệu trên, chúng ta có thể thấy rõ hơn vai trò quan trọng của
ngành dệt may đối với nền kinh tế Việt Nam. Như chúng ta đã biết, dệt may là một
trong những ngành công nghiệp sản xuất, xuất khẩu quan trọng của nền kinh tế Việt
Nam, với khả năng thu hút lao động lớn và đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của nhân dân
và phục vụ xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước. Không những là
ngành hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn, dệt may còn là ngành hàng có tốc độ

may sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất chủ động hơn, hạ thấp giá thành, tăng
khả năng cạnh tranh cho hàng dệt may... qua đó đẩy mạnh xuất khẩu.
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam trong năm 2007 đạt 7,78 tỷ USD, tăng 33,7% so với năm
2006. Kế hoạch xuất khẩu của ngành trong năm 2006 đã được hoàn thành tốt nhờ sự cố
gắng của các doanh nghiệp, cùng với sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan quản lý trong
việc điều hành cơ chế hạn ngạch được minh bạch, rõ ràng, giúp cho các doanh nghiệp
hoàn thành tốt công tác xuất khẩu của mình.
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, trong năm 2007 các chủng loại mặt hàng có
kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh là áo jacket, quần, áo sơ mi, áo thun, áo khoác, quần
short, quần áo thể thao, váy, quần áo sợi acrylic… và giảm xuất ở một vài mặt hàng như
áo len, đồ lót, caravat, khăn, quần áo jacket… Xét về trị giá, mặt hàng quần là chủng
loại mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao nhất, tăng tới 81 triệu USD so với năm
2005, đạt 205 triệu USD. Đứng thứ hai là mặt hàng áo jacket với mức tăng 63 triệu
USD. Tuy nhiên, xét theo tổng kim ngạch xuất khẩu thì áo jacket là mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu cao nhất, đạt 246 triệu USD. Đứng thứ ba là áo thun, với mức chênh
lệch kim ngạch xuất khẩu lên tới 50 triệu USD, tăng 81% so với năm 2005, đạt 112
triệu USD. Trong khi xuất khẩu áo sơ mi lại tăng thấp, chỉ tăng 9 triệu USD, tương
đương với 8,32% so với năm 2005, đạt 117 triệu USD – là mặt hàng có kim ngạch xuất
khẩu đứng cao thứ ba. Trong khi đó, xuất khẩu đồ lót và mặt hàng áo len lại giảm so với
năm 2005. Bên cạnh đó, các mặt hàng như áo gió, áo ghilê, khăn, màn… cũng giảm
xuất khẩu sang EU. Các mặt hàng như túi ngủ, quần áo mưa, găng tay, áo Kimono có
tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tăng rất cao trong năm 2006. Cùng với các mặt
hàng xuất khẩu truyền thống, xuất khẩu các chủng loại mặt hàng này tiếp tục tăng mạnh
trong năm 2007.
Tuy nhiên, một bất lợi cho việc sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam là chúng ta chưa tự chủ được trong khâu nguyên phụ liệu. Do đó, rất nhiều công ty
vẫn chủ yếu là gia cộng thuê cho nước ngoài, vì vậy tuy kim ngạch xuất khẩu khá lớn
nhưng lợi nhuận chứa đựng trong đó lại không cao, phía Việt Nam vẫn chủ yếu là lấy
công làm lãi.

liệu Việt Nam chưa đáp ứng được, vì thế phải nhập từ nước ngoài. Việt Nam hiện cũng
chưa có đội ngũ thiết kế kiểu dáng nguyên liệu (vải) chuyên nghiệp.
Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng đối
với sự phát triển nền kinh tế của đất nước. Điều đó được thể hiện qua hình 2.1 và 2.2
Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và tổng kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam từ năm 2000 - 2007
Chú thích: DM: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
TKN: Tổng kim ngạch xuất khẩu
(Nguồn: Bảng 1.1 và 2.2)
Hình 2.2: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may so với tổng kim ngạch xuất khẩu
Chú thích: TT (2000) = DM (2000)/ TKN(2000)
TT: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may so với tổng kim ngạch
(Nguồn: Bảng 1.1, 2.2 và tính toán của tác giả)
Từ các hình 1.1 và 1.2 chúng ta rút ra các nhận xét sau:
- Cả hai cột màu vàng và xanh cao dần. Điều đó chứng tỏ cả kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may cũng như tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đều tăng theo thời gian.
- Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm một tỷ trọng khá lớn so với tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể là từ năm 2000 – 2007 tỷ lệ đó luôn đạt khoảng 13 –
17%. Từ đó càng cho thấy rõ vai trò quan trọng của ngành dệt may đối với nền kinh tế
Việt Nam nói chung.
2.2.2. Cơ cấu sản phẩm dệt may xuất khẩu
Chủng loại
Năm 2006 Năm 2007
Kim ngạch
(triệu USD)
Tăng trưởng so
với 2005 (%)
Tỷ trọng
(%)
Kim ngạch

Áo nỉ 16,6 -68,29 0,28 26,2 57,90 0,34
Khăn lông 24,2 -3,61 0,42 24,1 -0,48 0,31
Bít tất 7,5 16,34 0,13 14,9 97,98 0,19
Q.áo y tế 13,4 0,17
PL may 6,9 17,27 0,12 10,3 49,40 0,13
Q.áo Jacket 12,5 -11,96 0,21 9,1 -27,00 0,12
Hàng may mặc khác 4,8 -95,83 0,08 91,8 1808,32 1,18
Bảng 3.3: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam năm 2006 và 2007 (triệu USD)
(Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam)
Từ bảng số liệu 2.3, chúng ta có thể thấy sự đa dạng về các mặt hàng dệt may
xuất khẩu của Việt Nam. Rất nhiều mặt hàng được sản xuất và xuất khẩu trên khắp các
thị trường thế giới. Có thể nói, hàng dệt may Việt Nam đáp ứng được nhu cầu rất đa
dạng của khách hàng trên thế giới.
Cũng từ bảng số liệu trên, chúng ta thấy rằng các mặt hàng áo thun, quần dài và
áo jacket có giá trị kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu của các mặt hàng này cũng khá lớn. Trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng kim
ngạch xuất khẩu mặt hàng áo thun là 62,41%, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
mặt hàng quần dài là 27% và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu áo jacket là
28,76%. Chỉ tính riêng 3 mặt hàng này trong năm 2007 đã chiếm tới 51,51% tổng giá trị
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Từ đó thấy rõ vai trò quan trọng của
3 mặt hàng áo thun, quần dài và áo jacket trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam ra thị trường thế giới nói chung.
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam trong
năm 2006 và 2007
Khi nhìn vào dòng cuối cùng của bảng 2.3, chúng ta có thể thấy trong năm 2006,
tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của “hàng may mặc khác” là –59,83%, thế
nhưng đến năm 2007, con số này là 1808,32%. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đến năm
2007 đã chú trọng đến việc đa dạng hóa các sản phẩm dệt may xuất khẩu. Điều này
càng làm cho giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam có thể tăng cao trong
những năm tới nhờ việc đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu phục vụ nhu cầu của đông đảo

1243,8 37,46 21,32 1489,3 19,74 19,14
3 Nhật Bản
627,6 3,93 10,76 703,8 12,14 9,05
4 Đài Loan
181,4 -0,95 3,11 161,1 -11,18 2,07
5 Canada
97,3 20,23 1,67 135,5 39,25 1,74
6 Hàn Quốc
82,9 67,55 1,42 85,0 2,49 1,09
7 Nga
62,4 30,33 1,07 79,0 26,59 1,02
8 Mêhicô
0 54,5 0,70
9 Trung Quốc
29,7 265,92 0,51 43,1 45,17 0,55
10 Thổ Nhĩ Kỳ
5,7 134,99 0,10 37,8 563,80 0,49
11 Hồng Kông
31,1 148,75 0,53 36,6 17,60 0,47
12 UAE
27,4 351,44 0,47 28,5 4,15 0,37
13 Campuchia
18,5 564 0,32 28,5 54,15 0,37
14 Malaysia
33,7 37,78 0,58 25,3 -24,79 0,33
15 Singapore
19,1 285,40 0,33 24,2 26,40 0,31
16 Inđônêxia
17,4 1,04 0,30 24,8 42,40 0,32
17 Ả Rập Xê út

điểm mà hàng dệt may Trung Quốc không có được. Điều đó thể hiện hàng dệt may Việt
Nam có khả năng cạnh tranh cao hơn hàng dệt may Trung Quốc ở một số điểm nhất
định.
Theo số liệu của Vụ Xuất nhập khẩu – Bộ Công thương thì trong quý I năm
2003, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU đạt 94,4 triệu
USD, giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2002 nhưng lại tăng so với cùng kỳ năm 2001.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Canada đạt khoảng 3,7 triệu USD, giảm
mạnh so với cùng kỳ năm 2002.
Việt Nam đã thâm nhập và chiếm lĩnh một số thị trường phi hạn ngạch như Đài
Loan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singapore, và Đông Âu…Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam sang các thị trường này có mức tăng trưởng khá cao và ổn định.
Các thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU,
Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản… Trong đó phải kể đến vai trò cực kỳ quan trọng của thị trường
Hoa Kỳ. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ liên
tục tăng nhanh và bền vững qua các năm. Theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam,
nếu như trong năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị
trường Hoa Kỳ mới chỉ là 49.5 triệu USD thì đến năm 2006, con số này đã lên đến 3044
triệu USD.
Trong năm 2006, giá trị kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam sang
thị trường Hoa Kỳ đạt 3,044 tỷ USD, tăng lên 16,97% so với năm 2005. Cơ chế phân
bổ hạn ngạch của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này, hạn ngạch ở các Cat hầu như đều hoàn
thành 100%.
Năm 2006 đồng thời cũng là một năm thành công với các doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU, tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường
EU của hàng dệt may Việt Nam tăng lên 37% so với năm 2005, đạt 1,243 tỷ USD. Giá
trị kim ngạch xuất khẩu năm 2006 của hàng dệt may Việt Nam sang EU cao nhất từ
trước đến nay.
Trong khi hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu tăng mạnh sang Hoa Kỳ và EU,
thì xuất khẩu sang Nhật Bản lại tăng chậm, còn xuất khẩu tới Đài Loan lại giảm. Kim

chức ngày 10/1 tại Hà Nội, ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việc Nam đã
chỉ ra những khó khăn, thách thức lớn trong năm tới mà các doanh nghiệp dệt may
trong nước tiếp tục phải đối mặt, trong đó có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên 3 thị
trường nhập khẩu chính nói trên.
Theo ông Ân, việc EU sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc từ năm
2008 sẽ đẩy các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vào thế cạnh tranh gay gắt hơn.
Đối với thị trường Nhật Bản, sáu nước trong khu vực Đông Nam Á gồm
Xingapo, Malaixia, Philippin, Inđônêxia, Brunây và Thái Lan đã được hạ mức thuế
xuống 0% khi xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản; trong khi hàng dệt may của Việt
Nam vẫn đang phải chịu mức thuế khoảng 10%.
Riêng đối Hoa Kỳ - thị trường chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu và
có tốc độ tăng trưởng đều hàng năm - vẫn tiềm ẩn những rủi ro do chương trình giám
sát chống bán phá giá vẫn được Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng dệt may Việt Nam và có
khả năng duy trì cơ đến hết năm 2008.
“Các doanh nghiệp dệt may cần hợp tác chặt chẽ với các nhà nhập khẩu lớn của
Hoa Kỳ, tránh nhận những đơn hàng đơn giản, giá trị thấp làm ảnh hưởng đến mức giá
bình quân của cả nước, là cơ sở để phía Hoa Kỳ khởi kiện chống bán phá giá”, ông Ân
cảnh báo.
Về phía các doanh nghiệp, nhận thức được vấn đề này nên thời gian qua đã chủ
động cân đối lượng khách hàng giữa các thị trường, chuyển đổi chủng loại sản phẩm để
tránh những chủng loại hàng dễ bị hiểu nhầm là bán phá giá.
Theo ông Trần Văn Phổ, Tổng giám đốc Công ty cổ phần dệt Hòa Thọ - doanh
nghiệp có hơn 30% hàng dệt may mặc xuất sang Hoa Kỳ - cho biết, trong năm tới công
ty sẽ tiếp tục tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và tập trung vào các mặt
hàng có giá trị cao nhằm tránh bị nhầm là bán phá giá.
Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng đã kiến nghị với Chính phủ, bộ ngành có liên
quan tăng cường những giải pháp chống rào cản thương mại, đối phó hiệu quả với cơ
chế giám sát, chống bán phá giá; đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh cải cách hàng chính và
tăng cường hoạt động xúc tiến, quảng bá hình ảnh dệt may Việt Nam.
Riêng với Nhật Bản, Hiệp hội cũng cho rằng đẩy nhanh tốc độ đàm phán hiệp

dệt may sang thị trường EU. Trong đó, Công ty Cổ phần may 10 và Công ty may Việt
Tiến là 2 đơn vị có kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất, hơn 30 triệu USD. Đứng thứ hai
là Cty TNHH Triumph International và Công ty May mặc Quảng Việt với hơn 18 triệu
USD. Vị trí xuất khẩu lớn thứ 3 là Công ty may Đức Giang với 17 triệu USD và thứ tư
là Công ty May Nhà Bè với hơn 16 triệu USD.Tiếp theo những kết quả xuất khẩu tốt
đẹp trong năm 2006, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU trong năm 2007
vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Trong khi hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu tăng mạnh sang Hoa Kỳ và EU,
thì xuất khẩu sang Nhật Bản lại tăng chậm, còn xuất khẩu tới Đài Loan lại giảm. Kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Nhật Bản chỉ tăng 3,93%, đạt 627
triệu USD. Đây là một thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt
may của Việt Nam. Bởi các doanh nghiệp phải thực hiện hai nhiệm vụ, tăng trưởng xuất
khẩu sang Hoa Kỳ và EU trong khi vẫn phải duy trì và tăng trưởng xuất khẩu vào Nhật
Bản. Trước những rào cản từ thị trường Hoa Kỳ thì Nhật Bản vẫn luôn là một trong
những khách hàng thích hợp đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam trong năm 2007 và những năm sau. Năm 2008, Liên minh châu Âu (EU) bãi bỏ
hạn ngạch dệt may đối với Trung Quốc, nên các quốc gia xuất khẩu dệt may sang thị
trường này, trong đó có Việt Nam, sẽ phải cạnh tranh khốc liệt hơn. Theo nhận định của
Hiệp hội Dệt may Việt Nam, việc EU bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Trung
Quốc, đồng thời áp dụng một hệ thống giám sát “kiểm tra kép” để theo dõi việc cấp
phép xuất khẩu hàng dệt may tại Trung Quốc và việc nhập khẩu mặt hàng này vào EU,
sẽ tác động đáng kể đến hàng dệt may Việt Nam xuất sang EU, bởi Trung Quốc có năng
lực cạnh tranh rất lớn do chủ động được nguyên liệu và có khả năng đáp ứng nhiều loại
phẩm cấp hàng hóa. Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
năm 2007 tăng cao hơn kết quả đạt được trong năm 2006.
Trong khi xuất khẩu sang Đài Loan - khách hàng truyền thống và là thị trường
xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam không duy trì được tiến độ, giảm so với năm 2005,
năm 2006 chỉ đạt 181 triệu USD, thì xuất khẩu sang các thị trường khác lại tăng mạnh,
cụ thể xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 67%, đạt 82 triệu USD; xuất khẩu sang Nga tăng
30%, đạt 62 triệu USD; xuất khẩu sang Canada tăng 20%, đạt 97 triệu USD; xuất khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status