Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu - Pdf 67

Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất ở công ty cổ phần
bánh kẹo Hải Châu
I.Giới thiệu về công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Tên công ty: công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Tên giao dịch quốc tế: Hai Chau Confectionary Joint Stock Company
Địa chỉ: 15 Mạc Thị Bưởi, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (04)8264826/ 8261664
Fax: (04) 8261520
Email: haichau/@fpt.vn
Website:
1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu được thành lập từ ngày 02/09/1965,
đã trải qua quá trình phát triển gần nửa thế kỷ, từ một doanh nghiệp nhà nước
thành viên của Tổng công ty mía đường I - Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn, tiền thân là nhà máy Hải Châu đã trở thành một trong những nhà sản xuất
bánh kẹo hang đầu Việt Nam với quy mô sản xuất lên tới gần 20000 tấn/ năm.
Các thành tích trong những năm vừa qua của công ty đã được nhà nước
đánh giá cao thông qua việc nhận được các phần thưởng cao quý của nhà nước:
01 huy chương kháng chiến, 05 huy chương lao động, 03 huân chương chiến
công và nhiều hình thức khen thưởng khác: cờ thi đua xuất sắc của chính phủ,
Bộ, Ngành thời kỳ đổi mới.
Hiện nay công ty là một trong những công ty hàng đầu tại Việt Nam trong
lĩnh vực sản xuất bánh, kẹo, thực phẩm, với trên 40 năm không ngừng phát
triển, chú trọng đổi mới công nghệ và đầu tư thiết bị hiện đại. Từ năm 1995 –
2001, công ty đầu tư và nâng cao công suất chất lượng gồm 7 dây chuyền thiết
bị hiện đại nhất của Cộng Hoà Liên Bang Đức, Hà Lan, Đài Loan và một số
quốc gia khác. Đặc biệt, năm 2005 công ty đã đầu tư dây truyền bao gói tự động
sản phẩm bột canh, giúp việc đóng gói trở nên chuyên nghiệp hơn.
Ngày 30/12/ 2004 công ty tiến hành cổ phần hoá theo quyết định ngày của
Bộ Công Nghiệp. Các hoạt động sản xuất kinh doanh chính bao gồm:
 Sản xuất, kinh doanh và chế biến bánh kẹo

trong quá trình sử dụng máy móc trong sản xuất của các phân xưởng; đồng thời
đảm nhiệm việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, cải tiến mẫu mã bao
bì… và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các vấn đề này
 Phó Giám đốc kinh doanh trực tiếp ra quyết định xuống phòng kế hoạch,
và phòng kinh doanh thị trường.
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Ban kiểm soát
Phó GĐ kinh doanh Phòng tổ chức Phòng kế toán, tài vụPhòng hành chính, bảo vêPhó GĐ kỹ thuật
Phòng kế hoạch Phòng kinh doanh, thị trường Phòng đầu tư, xây dựng cơ bản
Phòng kỹ thuật
Chi nhánh Hà NộiChi nhánh Nghệ AnChi nhánh Đà NẵngChi nhánh TPHCMXN quy kem xốpXN bánh cao cấp
XN kẹoXN gia vị thực phẩm
Sơ đồ 2.1: mô hình tổ chức của công ty cổ p hần bánh kẹo Hải Châu
(Nguồn: phòng tổ chức)
3.Đặc điểm cơ cấu sản xuất
Cơ cấu sản xuất của nhà máy gồm 6 phân xưởng chính trực thuộc các xí
nghiệp sản xuất, các xí nghiệp này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám Đốc.
Xí nghiêp quy kem xốp gồm phân xưởng I và phân xưởng III chuyên sản
xuất bánh quy (bánh quy Hương thảo, bánh Vani, bánh quy hoa quả), các loại
lương khô và các loại thành phẩm để sản xuất lương khô. Nguyên liệu chính sử
dụng: bột mỳ, bột nở, bơ, sữa, đường kính.
Xí nghiệp bánh cao cấp (phân xưởng bánh II và phân xưởng bánh mềm)
chuyên sản xuất các loại bánh cao cấp như: bánh Tulip, bánh Custard, sôcôla,
kem xốp. Nguyên liệu chính sử dụng là: bột mỳ, bột nở, đường kính, sữa, bơ,
tinh dầu.
Xí nghiệp kẹo (phân xưởng kẹo) chuyên sản xuất các loại kẹo cứng, kẹo
mềm, kẹo xốp. Nguyên liệu chính sử dụng gồm: đường sacaro, nha, bơ, sữa.
Xí nghiệp gia vị thực phẩm (phân xưởng bột canh) chuyên sản xuất các loại

tự động hoá vẫn được công ty tính toán như trên nhưng thực chất chất lượng của
máy móc thiết bị ngày càng giảm.
Máy móc, thiết bị của công ty hầu hết đã qua sử dụng nhiều năm, duy chỉ
có dây chuyền bao gói tự động của phân xưởng gia vị thực phẩm là nhập khẩu
gần đây nhất năm 2005. Dây chuyền này chỉ phục vụ bao gói khi sản phẩm bột
canh đã hoàn thành, đóng góp vào việc chuyên môn hóa hoạt động sản xuất
kinh doanh, nhưng chưa thực sự góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản
phẩm.
Bảng 2.2: Tình hình thiết bị của công ty
Tên dây truyền Nước sản xuất Năm chế tạo Năm
sdụng
Trình độ
DT bánh kem xốp CHLB Đức 1993 1994 Tự động, bao gói thủ
công
DT bánh Hải Châu Đài Loan 1991 1991 Tự động, bao gói thủ
công
DTbánh Hương Thảo Trung Quốc 1960 1965 Bàn cơ khí, nướng bằng

DT phủ sôcôla CHLB Đức 1996 1997 Tự động
DT sản xuất kẹo cứng CHLB Đức 1996 1997 Tự động, bao gói thủ
công
DT bột canh Việt Nam 1978 1978 Thủ công
Máy trộn iốt Úc 1995 1995 Thủ công
DT sản xuất bánh mềm Hà Lan 2001 2003 Tự động
(Nguồn: phòng kỹ thuật)
2. Nguồn nhân lực
Tổng số cán bộ công nhân viên trong công ty là 804 người tính tại thời
điểm 31/012/2007 trong đó chuyên viên, kỹ sư chiếm 15,3% ; trình độ lao động
có trình độ cao đẳng 9,2%; công nhân kỹ thuật chiếm 11,1%; công nhân phổ
thông chiếm 64,4%.

Ngành sản xuất bánh kẹo mang tính cạnh tranh cao, công ty không chỉ phải
cạnh tranh với các công ty trong nước mà còn phải chia sẻ thị trường với các
công ty nước ngoài. Do đó công ty cần đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu &
phát triển sản phẩm mới và hoạt động nghiên cứu thị trường nhằm nắm bắt
nhanh nhu cầu của khách, kịp thời đưa ra đưa ra sản phẩm mới với chất lượng
cao, kiểu dáng mới, nâng cao tính cạnh tranh của công ty. Hoạt động nghiên cứu
và phát triển sản phẩm của công ty bao gồm:
 Nghiên cứu công nghệ sản xuất ra sản phẩm mới: xây dựng công thức sản
phẩm, xây dựng quy trình công nghệ, theo dõi thời hạn bảo quản sản phẩm
 Nghiên cứu các biện pháp cải tiến sản phẩm hiện có về chất lượng, kiểu
dáng, bao bì
 Nghiên cứu việc sản xuất ra sản phẩm mới trên các dây truyền mà công ty
đầu tư hoặc dự kiến đầu tư
 Nghiên cứu việc sử dụng các nguyên lịêu mới và các quá trình sản xuất
 Nghiên cứu các sản phẩm xuất khẩu đảm bảo yêu cầu của khách hàng đối
với các tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm…Sự đầu tư vào
lĩnh vực này đã giúp cho công ty có được những kết quả khả quan. Trong năm
gần đây công ty đã đưa ra thị trường nhiều sản phẩm mới với nhiều mẫu mã sản
phẩm mới đem lại doanh thu và hiệu quả cao cho công ty.
4. Hoạt động marketing
Trước đây, với thương hiệu sẵn có công ty Hải Châu chỉ tập trung vào sản
xuất và phân phối sản phẩm, chưa quan tâm đến các hoạt động marketing
chuyên nghiệp. Sau khi chuyển sang hoạt động công ty cổ phần và dưới sự tác
động của nhu cầu thị trường liên tục thay đổi, sức ép của các đối thủ cạnh tranh,
công ty đã thực sự nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động marketing.
Hoạt động marketing của công ty bao gồm những hoạt động chính:
 Hoạt động nghiên cứu thị trường. Công ty tiến hành thu thập ý kiến của
người tiêu dùng thông qua đội ngũ nhân viên tiếp thị, hệ thống cửa hàng trưng
bày sản phẩm, các đại lý bán hàng của công ty và các chi nhánh của công ty ở
các miền. Nhờ vậy mà công ty luôn nhận được những thông tin phản hồi từ phía

 Hệ thống quản cáo và tiếp thị
- Công ty quảng cáo chủ yếu trên các phương tiện thông tin đại chúng, các
hoạt động tiếp thị được duy trì nhất quán với mục tiêu vừa đảm bảo tính hiệu
quả vừa bảo vệ hình ảnh của công ty.
- Hàng năm công ty áp dụng nhiều chương trình khuyến mại trong các kỳ
hội chợ, các dịp lễ tết như: tết trung thu, quốc tế thiếu nhi…
 Chính sách giá. Công ty duy trì hệ thống đại lý với mức chiết khấu cạnh
tranh và mức chiết khấu này được thay đổi tùy theo năng lực bán hàng của công
ty. Nhờ chính sách này, công ty có thể khuyến khích các đại lý nâng cao doanh
số bán hàng, đồng thời dễ dàng mở rộng đại lý và phân phối của mình.
5. Kết quả sản xuất kinh doanh những năm gần đây (từ năm 2002-2006)
Bảng 2.4: Chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong các
năm 2002 – 2006
Chỉ tiêu Đơn vị 2002 2003 2004 2005 2006
1.Giá trị tổng slượng triệu đ 11839 12721 13681 14123 15139
2.Doanh thu( k
o
VAT) triệu đ 164666 178000 194400 189885 208670
3.Lợi nhuận thực hiện triệu đ 1405 1611 1568 1357 1499
4.Các khoản phải nộp triệu đ 6400 11475 11877 12198 13417
5.Lđộng và thu nhập
Lao động bình quân Người 1030 1080 1150 1400 1550
Thu nhập bình quân 1000 đ 1200 1104 7287 5477 6025
Sản phẩm chủ yếu
Bánh các loại tấn 6650 7.685 7.287 5.477 6.025
Kẹo các loại tấn 1890 2275 1295 758 834
Bột canh các loại tấn 8490 10184 10278 11264 12786
(Nguồn: báo cáo tài chính của công ty)
Từ bảng 5 ta thấy, tổng giá trị sản lượng tăng qua các năm, nhưng tốc độ
tăng giữa các năm không đồng đều: năm 2003 tăng 882 tấn so với năm 2002

lượng nguyên liệu, mẫu mã, bao bì của từng sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn
nhu cầu về cung ứng nguyên liệu và sản xuất mẫu mã bao bì phục vụ sản xuất.
Với chức năng và nhiệm vụ mà công ty giao phó và kỳ vọng, liệu trong
công tác lập kế hoạch sản xuất, phòng kế hoạch đã thực sự làm tốt chưa, đã thể
hiện được vai trò của mình hay chưa? Để trả lời cho câu hỏi này, tôi xin đi cụ
thể vào công tác lập kế hoạch sản xuất. Công tác lập kế hoạch sản xuất bao gồm
các bước: xác định căn cứ lập kế hoạch, xây dựng các kế hoạch bộ phận.
1. Căn cứ để lập kế hoạch
Đối với một DN sản xuất, chức năng sản xuất là một trong những chức
năng quan trọng nhất trong DN, là chức năng bắt đầu của hoạt động sản xuất
kinh doanh, là khởi điểm của mọi hoạt động kinh tế. DN chỉ có thể tồn tại và
phát triển khi sản phẩm của DN được thị trường chấp nhận, doanh thu (doanh
thu chủ yếu từ việc bán sản phẩm) thu đựơc tối thiểu phải đảm bảo bù đắp được
chi phí sản xuất, các khoản phải nộp của DN. Do đó công tác lập kế hoạch sản
xuất vô cùng quan trọng, với mục tiêu giúp hoạt động sản xuất của DN không
chỉ tạo ra những sản phẩm tốt được đông đảo thị trường chấp nhận mà còn tiến
tới việc tối ưu hoá việc sử dụng các yếu tố sản xuất, tăng lợi nhuận. Vậy ta thử
xem xem công tác lập kế hoạch của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu đã đáp
ứng được yêu cầu hay chưa?
Để chuẩn bị cho lập kế hoạch, các cán bộ kế hoạch xác định những căn cứ
quan trọng cần phải có để xây dựng kế hoạch sản xuất. Những căn cứ mà họ
dựa vào bao gồm:
 Căn cứ vào tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm năm xây dựng kế hoạch
(kỳ kế hoạch trước). Cán bộ kế hoạch thu thập kết quả sản xuất kinh doanh của
năm xây dựng kế hoạch để phân tích, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản
xuất, phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm để thấy được tình hình thực hiện kế
hoạch, đã được ở khâu nào, chưa được ở khâu nào, đồng thời đưa ra những
nguyên nhân của hạn chế từ đó rút ra kinh nghiệm cho công tác lập kế hoạch kỳ
tới.
 Căn cứ vào nhu cầu thị trường. Nhu cầu thị trường được xác định thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status