BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ VẤN ĐỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG
TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù
đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những
rủi ro bất ngờ xảy ra. Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác
nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra như: phòng tránh,
cứu trợ, tiết kiệm…nhưng một trong những biện pháp mà các nhà quản lý rủi ro cho là
có hiệu quả nhất, đó chính là Bảo hiểm.
Cho đến nay, chưa có một khái niệm nào nói lên được đầy đủ bản chất của Bảo
hiểm bởi vì lĩnh vực bảo hiểm rất rộng, `ngoài bảo hiểm thương mại còn có bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên có thể nghiên cứu bảo hiểm dưới
một số góc độ sau đây:
Đứng trên góc độ tài chính: " Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm
phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi"
1
. Khái niệm này xuất phát từ
nước Pháp.
Đứng trên góc độ pháp lý: Ở Đức, họ định nghĩa: " Bảo hiểm là sự cam kết giữa
hai bên mà trong đó một bên đồng ý bồi thường hoặc chi trả cho bên kia nếu bên kia
đóng phí bảo hiểm"
2
.
Đứng trên góc độ kỹ thuật: “Bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trự bằng tiền
do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên”
3
. Định
nghĩa này chỉ mới đề cập đến phương pháp lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà chưa nêu rõ
được phương thức sử dụng nó.
“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường( theo quy
BHNT xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại cách đây khoảng 4500 năm. Tại đây,
đã có những hoạt động sơ khai, mang tính chất của bảo hiểm nhân thọ. Người ta lập nên
các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội cũng hỗ trợ tài
chính cho thân nhân người chết. Khoảng năm 450 sau Công Nguyên, đế quốc La Mã
sụp đổ dẫn đến việc hầu hết các khái niệm của bảo hiểm nhân thọ bị lãng quên. Tuy
nhiên các mặt, tính chất của nó thì vẫn không hề thay đổi trong suốt thời Trung Cổ, nhất
là đối với các phường hội thủ công và thương nghiệp. Các phường hội này đã lập nên
44: Định nghĩa theo Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm- tr 13
nhiều hình thức bảo hiểm thành viên để bù đắp thiệt hại các vụ hỏa hoạn, lũ lụt, trộm
cướp; ngoài ra còn có bảo hiểm thương tật, tử vong và thậm chí là bảo hiểm tù
ngục( bảo hiểm cho trường hợp người mua bảo hiểm phải vào tù).
Trong suốt thời phong kiến, các ngành dịch vụ và mậu dịch ngày càng suy yếu và
không còn thịnh vượng như trước. Do vậy, các hình thức bảo hiểm sơ khai cũng bị mai
một dần. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 các ngành giao
thông, thương nghiệp và cả dịch vụ bảo hiểm đã phát triển trở lại.
Dịch vụ bảo hiểm ở Ấn Độ bắt nguồn từ bộ kinh Veda của nước này. Vào
khoảng năm 1000 trước Công Nguyên, hình thức “ bảo hiểm cộng đồng” ở nước này đã
phát triển rất thịnh hành và người Aryan khi đó cũng đã tham gia rất nhiều vào hình
thức bảo hiểm này. Cũng giống như đế quốc La Mã cổ đại, trong giai đoạn truyền bá
đạo Phật, người Ấn Độ đã lập nên nhiều hội mai táng để hỗ trợ cho các gia đình xây cất
nhà cửa đồng thời che chở, đùm bọc các góa phụ và trẻ nhỏ.
Hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583, do công dân Luân Đôn
là ông William Gybbon tham gia. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh,
khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh. Sau Cách
Mạng Ánh Sáng năm 1688, ở Châu Âu chỉ có duy nhất Vương Quốc Anh công nhận
tính pháp lý của bảo hiểm nhân thọ. Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập kỷ sau Cách Mạng
Ánh Sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ.
Năm 1735, công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Charleston, thủ
phủ bang South Carolina. Vào năm 1759, tập đoàn bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hoa
Kỳ ra đời ở Philadelphia cũng là công ty BHNT ra đời đầu tiên trên thế giới. Công ty
còn cao, thị trường tài chính chưa phát triển, chưa có môi trường đầu tư và các công ty
bảo hiểm chưa được phép hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, chưa có văn bản pháp luật
điều chỉnh mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm và khách hàng, đội ngũ cán bộ bảo hiểm
lúc đó chưa được trang bị những kiến thức về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Do đó, ý
nghĩa thực tế của đề tài này chỉ dừng lại ở việc triển khai “Bảo hiểm sinh mạng có thời
hạn 1 năm”. Đây là loại hình bảo hiểm nhân thọ đơn giản nhất và có nhiều đặc điểm
tương đồng với bảo hiểm con người phi nhân thọ. Vì vậy, sản phẩm này ít có tính hấp
dẫn đối với người dân.
Sau thời kỳ đổi mới kinh tế được 10 năm, nền kinh tế Việt nam đã có những
bước phát triển vượt bậc: lạm phát đã được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt
mức cao, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao và ở một bộ phận quần chúng
nhân dân đã bắt đầu có tích lũy, môi trường kinh tế- xã hội và môi trường pháp lý có
nhiều thuận lợi hơn. Ngày 20/03/1996 Bộ trưởng Bộ tài chính đã ban hành Quyết định
số 281/TC/TCNH cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ. Ngày
22/06/1996, công ty bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt được thành lập nhằm phục vụ nhu
cầu về bảo hiểm nhân thọ cho mọi tầng lớp nhân dân. Ngày 01/08/1996 lần đầu tiên
người dân Việt nam được nghe đến BHNT qua hai sản phẩm: “Bảo hiểm nhân thọ có
thời hạn 5 năm, 10 năm” và “Chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưởng
thành”.Từ đây, Bảo Việt chính thức mở đầu cho sự ra đời của lĩnh vực bảo hiểm nhân
thọ ở nước ta.
Tháng 8 năm 1997, Bảo Việt thành lập Công ty bảo hiểm nhân thọ Miền Nam.
Cho đến thời điểm này, Công ty bảo hiểm nhân thọ Hà Nội( được đổi tên từ Công ty
bảo hiểm Nhân Thọ) và Công ty bảo hiểm nhân thọ Miền nam là hai doanh nghiệp duy
nhất hoạt động trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Năm 1998, Bảo Việt thành lập phòng bảo hiểm nhân thọ tại tất cả các công ty
thành viên của Bảo Việt ở các địa phương khác trong cả nước.
Năm 1999, bắt đầu có thêm một số công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài và
công ty liên doanh gia nhập thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.
Năm 2000 và năm 2001, Bảo Việt tiếp tục thành lập thêm 59 công ty bảo hiểm
nhân thọ thành viên tại các địa phương khác trong cả nước, nâng tổng số công ty thành
1.2.2. BHNT đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo
hiểm.
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích
là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp
phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT lại là loại hình bảo hiểm đa mục
đích, đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm.Mỗi
mục đích lại được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn, HĐBH hưu trí
sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó
góp phần ổn định cuộc sống của họ lúc già yếu khi mà thu nhập từ lao động của họ bị
giảm đi rất nhiều và mức trợ cấp từ BHXH còn thấp. Hay HĐBH tử vong sẽ giúp người
được bảo hiểm để lại cho gia đình một STBH khi họ bị tử vong. Điều này đặc biệt có ý
nghĩa đối với người được bảo hiểm là người trụ cột trong gia đình bởi vì STBH này sẽ
giúp họ thực hiện các trách nhiệm đối với gia đình như: trang trải nợ nần, phụng dưỡng
cha mẹ già yếu, lo cho con cái học hành…HĐBH hỗn hợp hướng tới các mục đích tiết
kiệm để tạo lập quỹ giáo dục cho con cái, khởi nghiệp kinh doanh, mua sắm tài sản, giữ
gìn tài sản cho thế hệ sau…Ngoài ra, HĐBH nhân thọ đôi khi còn có vai trò như một
vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi
vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc cho các mục đích cá nhân khác…Chính vì
đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày
càng rộng và được rất nhiều người quan tâm.
1.2.3. Các loại hợp đồng trong BHNT thường rất đa dạng và phức tạp.
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay các sản
phẩm của nó.Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn
BHNT hỗn hợp lại có các hợp đồng 5 năm, 10 năm, 15 và 20 năm. Mỗi hợp đồng với
mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi
của người tham gia... Chính vì vậy, việc quản lý hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hết sức
khó khăn. Ngày nay, tất cả các công ty bảo hiểm nhân thọ trên thế giới đều tập trung
chú ý vào lĩnh vực công nghệ thông tin để quản lý hợp đồng.
1.2.4. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định
phí khá phức tạp.
qui định có tính pháp quy sẽ là cơ sở mang tính sống còn cho hoạt động kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ, phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển. Nó thường đề cập đến
các vấn đề như tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế…Chẳng hạn, ở một số nước phát triển
như: Anh, Pháp, Đức…Nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho BHNT bằng cách
có chính sách thuế ưu đãi. Mục đích là nhằm tạo ra cơ hội cho các cá nhân để tiết kiệm,
tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nước. Không
những thế, nó còn giúp đẩy mạnh quá trình huy động tập trung vốn trong các công ty
bảo hiểm để từ đó có vốn dài hạn đầu tư cho nền kinh tế. Cũng nhằm những mục đích
trên mà ở một số nước ở châu Á như: Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore…không đánh
thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT.Ở Việt nam, để khuyến khích người tham
gia bảo hiểm nhân thọ, chế độ tài chính-kế toán Việt nam qui định không đánh thuế giá
trị gia tăng(GTGT) đối với nghiệp vụ BHNT. Chính những sự ưu đãi này là đòn bẩy
tích cực để BHNT phát triển.
1.3. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ.
BHNT xuất hiện từ rất lâu mang những đặc trưng riêng và ngày càng thể hiện
những vai trò, tác dụng chủ yếu của nó.
Thứ nhất, BHNT góp phần ổn định đời sống nhân dân, là chỗ dựa tinh thần cho
người được bảo hiểm.
Mặc dù trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển cao, nhưng rủi ro
bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều cá nhân và gia đình trở
nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệt nếu đó lại là
người trụ cột trong gia đình bị chết, hoặc bị thương tật vĩnh viễn. Khi đó, gia đình phải
chịu chi phí mai táng chôn cất, chi phí nằm viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật và bù
đắp những khoản thu thường xuyên bị mất đi. Khó khăn hơn nữa là một loạt các nghĩa
vụ và trách nhiệm mà người quá cố chưa kịp hoàn thành như trả nợ, phụng dưỡng cha
mẹ già, nuôi dạy con cái ăn học…Mặc dù hệ thống bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội
có thể trợ cấp khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thời trước mắt mà chưa đảm
bảo được lâu dài về mặt tài chính.Tham gia BHNT sẽ góp phần giúp cá nhân và gia
đình ổn định cuộc sống, kịp thời khắc phục hậu quả sau rủi ro, giúp các thành viên
trong gia đình quan tâm lẫn nhau hơn, từ đó tạo ra một nếp sống đẹp và lành mạnh
HongKong là 8%, ở Hàn Quốc là 7% và con số này ở Trung Quốc là 2%.
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng doanh thu phí
BHNT
Tỷ đồng 2785,945 4645,479 6441,993 7710,358 8130,225 8483
Tốc độ tăng trưởng
% 115,63 66,75 38,67 19,69 5,45 4,3
Tỷ trọng phí
BHNT/GDP
% 0,56 0,81 1,09 1,08 1,04 0,87
Thứ tư, BHNT còn là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt
nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm góp phần chống
lạm phát.
Khi nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cao sẽ xuất hiện nhu cầu
tiết kiệm hoặc đầu tư số tiền mặt tạm thời nhàn rỗi. Ở các nước đang phát triển và chậm
phát triển, thường thiếu các công cụ để đáp ứng nhu cầu này. Vì vậy, BHNT ra đời là
nhằm giúp các cá nhân và tổ chức thực hiện nhu cầu này một cách có hiệu quả. Do đặc
thù của BHNT là đối tượng tham gia tương đối rộng, là hình thức bảo hiểm vừa mang
tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro, có cơ chế và phương thức đóng phí thuận lợi. Cho
nên, BHNT có nhiều ưu điểm hơn hẳn gửi tiền tiết kiệm. Vì thế, việc thực hành tiết
kiệm từ chi tiêu ngân sách gia đình để mua BHNT sẽ dễ dàng hơn.
Thứ năm, BHNT còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như:Tạo
ra sự ổn định trong xã hội thông qua việc giảm thiểu sự lo lắng của bên mua bảo hiểm,
tạo them công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con
cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm có kế hoạch…Khi cung cấp sản phẩm BHNT thì
các công ty cần rất nhiều đại lý, tư vấn viên đi khai thác, hệ thông nhân viên sử dụng
máy tính, thống kê, kế toán…Do vậy, lĩnh vực BHNT thu hút khá nhiều lao động. Ở
bảo hiểm.
- Góp phần ổn định cuộc sống cho gia đình và người thân sau cái chết của người
được bảo hiểm…
Bảo hiểm tử kỳ có 7 loại sau đây:
L1: Bảo hiểm tử kỳ cố định: Phí bảo hiểm và STBH cố định không thay đổi
trong suốt thời hạn hợp đồng.
L2: Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: bên tham gia có quyền chuyển đổi từ
loại này sang loại khác và nhà bảo hiểm vẫn chấp nhận.
L3: Bảo hiểm tử kỳ có một bộ phận STBH giảm dần: loại này nhằm mục đích
là mua hàng trả góp.
L4: Bảo hiểm tử kỳ có STBH tăng dần: loại này nhằm mục đích khắc phục
tình trạng lạm phát của đồng tiền.
L5: Bảo hiểm thu nhập gia đình.
L6: Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng dần
L7: Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện.
B.Bảo hiểm nhân thọ trọn đời: là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người
được bảo hiểm chết vào bất kì thời điểm nào trong suốt cuộc đời của họ.Khi người
được bảo hiểm chết, công ty bảo hiểm có trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định trong hợp đồng.
Đặc điểm:
- Thời hạn bảo hiểm không xác định.
- Phí bảo hiểm có thể đóng 1 lần hoặc đóng định kì va không thay đổi trong suốt quá
trình bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc
chắn sẽ xảy ra, nên STBH chắc chắn phải chi trả.
Mục đích:
- Góp phần ổn định cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của người
được bảo hiểm.
- Mua sắm tài sản, giữ gìn tài sản cho thế hệ sau.
- Giúp người thân tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh.